Bình luận nhanh 0

Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.

Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Thể loại khác (thơ)
Thời kỳ: Hậu Lê, Mạc, Trịnh-Nguyễn

Đăng bởi tôn tiền tử vào 07/03/2025 10:19, đã sửa 1 lần, lần cuối bởi Vanachi vào Hôm nay 19:32

Vận trùng quang dương dương đỉnh thịnh,
Phủ trị lành quốc chính dân an.
Vạn cơ trong thuở dư nhàn,
Muốn cho phương thổ giang san chu tường.
Tuân Tiên vương giữ lề tuần tỉnh,
Mặc tiện đường phát chính thi nhân,
Dùng binh vừa tiết thượng tuần.
Hoàng long muôn đội mới nhân tiến trình,
Rất nghiêm minh tín cầm quân chính,
Lừng lẫy ra uy lệnh dấy dan.
Ngang dòng phơi phới chèo lan,
Bồ Đề thẳng tới đoàn loan sum vầy.
Bút thày lay vân vân vài thủ,
Dầu thướng tình canh bộ hẹp đâu.

Bồ Đề thắng cảnh thi

Tịnh càn khôn ghẽ một bầu,
Bao hình thế bốn bề thâu.
Phong lưu hậu xây nền hậu,
Thú vị mầu ngụ ý mầu.
Quán nguyệt trông in đáy nước,
Chày kình vang nện bên lầu.
Yên vui bởi dân thuần cổ,
Ý xưa sau sở thích cầu.
Hựu thi

Áng ngọc vây nên ngọc đúc bầu,
Thanh quang mọi vẻ mọi đồ thâu.
Một vùng thớn thớn quy mô rộng,
Đòi chốn hây hây ấy thú mầu.
Cửa trúc mảng xem mai điểm tuyết,
Thềm hoa nhác thấy nguyệt ngang lầu.
Mở lề tuần tỉnh dầu du thưởng,
Phương Trượng, Bồng Lai lọ phải cầu.
Duềnh la giăng bạc phau phau.
Đỉnh dương mấy phát khoan mau dầu lòng,
Chợt ngước trông Điêu Diêu quán dịch,
Ướm hỏi xem lai lịch dường bao.
Tắt qua nẻo ngạc sông Đào,
Luận công trị thuỷ xiết sao công trình.
Hướng thần kinh triều tông cuộn cuộn.
Vững âu vàng nguyên vốn đặt an,
Châu cơ xá lạ thiên ban,
Bãi nhạn thớn thớn, triện nhạn thưa thưa.
Dùng gió đưa tưng bừng dóng dả,
Này bãi thù, kia ngã sông Dâu.
Những màng đón hỏi trước sau,
Nọ duềnh Thiên Đức bởi đâu ngang vào,
Gạt hung đào thuận dòng thẳng duổi,
Đến Yên Thường vừa đội nghỉ ngơi,
Tiểu hoa lâm xã Lã Côi,
Hứng thừa ngự ý thuật chơi cầu tài.

Vịnh Lã Côi thi

Tượng còn rạnh rạnh dấu sơ doi,
Vẻ vang thay dịch Lã Côi.
Trong mở nhân cơ tung rộng rãi,
Trước oanh trí thuỷ thế dào dồi.
Nọ người làng hạnh mang cầu phúc,
Kìa khách lầu châu mới tạn bôi.
Ky lữ cùng nhờ ơn trợ trát,
Nhiều bề tiện thuận há xa xôi.
Bộ Lã Côi thi

Tích truyện nẻo trước hãy còn doi,
Danh Lã Côi đà xứng chữ Côi.
Hình sẵn địa hình bền vả vững,
Thế bao thuỷ thế vũng nên doi.
Xuân hoa rỡ rỡ trình xuân bảng,
Ngọc thỏ làu làu ánh ngọc bôi.
Hương học nhà nhà gương học hối,
Đòi thời kinh sử nấu thời sôi.
Tiếc vậy thôi trải Gia Lâm huyện,
Đỗ bến Lai đường tiện Như Kinh.
Thể âu trời ắt hậu đình,
Ngắm xem thuỷ thế địa hình lạ bao.
Trập trùng nào nền nhân cây đức,
Dõi chung tư dặc dặc ức thiên.
Rày bao công nghiệp dựng nên,
Ơn nhuần dân vật hân nhiên phải thời.
Một thủ thi ứng tuần gia khánh,
Mừng thịnh càng thêm thịnh vĩnh miên.

Như Kinh thi

Nhờ phúc ấm mở mang nên,
Nhân hậu cao xây đã vững nền.
Một áng lâu đài tráng lệ,
Bốn mùa hoa thảo tươi nghiên.
Nhật lâm nguyệt chiếu làu làu ánh,
Hổ cứ long bàn sóc sóc bền.
Cõi thọ vang vang bao vạn thiện,
Tôn vinh vọi vọi đối thanh thiên.
Đáp hoài vọng thi

Có danh ắt thể công nên,
Gấm lại thêm hoa rất sẵn nền.
Lý xử đắc trung càng tử tế,
Dịch dùng hợp thích khéo tinh nghiên.
Thư truyền tiếng ngọc đà vang nức,
Thi xuống câu mầu chắp vững bền.
Cả mọn lừng lừng đều vọng chúc,
Đức so địa hậu thọ tày thiên.
Phương thăng hồng nhật ló lên,
Sơ Thìn mới mới qua miền chợ Trưa.
Hãy bơ lơ coi sang hỏi chúng,
Phải dấu thiêng Phù Đổng đây chăng.
Những màng bàn bạc thốt thăng,
Nhạn Tháp trông chừng thoắt thoắt tới nơi.
Thế thanh vui bút bèn mô tả,
Thảnh thơi thay thong thả bước xuân.

Nhạn Tháp tự thi

Ghẽ ghẽ danh thành áng trí nhân,
Nơi nơi tĩnh cảnh lạt hồng trần.
Mấy lần bảo thụ oanh kim giới,
Một áng liên đài ánh thuỵ vân.
Chấp chới yên hà in thức gấm,
Đầm hâm hoa thảo đượm hơi xuân.
Tiết lành vây hợp thênh thênh bước,
Phới phới cùng vui cõi Diệu Chân.
Ngang sang Tiên Tích gần gần,
Nước non oanh quất nhiều phân hữu tình,
Vốn thành danh nẻo xưa lập cực,
Lật ngâm chơi vài bức vân tiên.

Tiên Tích tự thi

Băng trông bỡ ngỡ tượng thiên nhiên,
Trong thế chu tuyền vẫn vẹn tuyền.
Tháp Nhạn chữ bày câu ứng phúc,
Cửa từ đường chật kẻ cầu duyên.
Chăm chăm lão hạc ngong kinh bối,
Thảo thảo thần long lãng giáo thần.
Khắp trần gian danh lợi khách,
Răn lòng vật ngã mới nên khen.
Hựu thi

Bầu trời ghẽ có áng tự nhiên,
Nảy nảy thanh kỳ đã vẹn tuyền.
Cõi phúc thênh thênh phô gấm sắc,
Nền nhân thớn thớn rũ trần duyên.
Sơn tăng cẩn dẫn đường trì giới,
Phạm giáo răn gìn phép toạ thiền.
Cổ vãng kim lai gắng sóc sóc,
Ngợi đề khôn xiết tiếng khong khen.
Lạ thay thú vị kham nhìn,
Tiếc vầy thăng thưởng mời khuyên chưng lừng.
Sớm tằng tằng băng đăng tiến phát,
Cõi Kiều Hồ ngát ngát đồ phong.
Han tìm cảnh cũ Phúc Long,
Cảnh mầu cảm ứng linh thông tỏ tường.
Chữ ấn vàng Phật tiền còn rõ,
Dấu bia xưa trước có mở mang.
Thể càng sẽ chạnh muôn dường,
Nỗi lòng tu tạo thảo hàng thi chương.

Phúc Long tự thi

Trải xưa nay mấy nền sương,
Trong chốn độ khác tầm thường.
Nền bảo các đinh đinh tích,
Áng quỳnh cung phức phức hương.
Bạn hạc nâng hoa hiến quả,
Cầm xuân gõ ngọc rung vàng.
Kho phong nguyệt hằng vô tận,
Thú an nhàn nhật nhật trường.
Huyền Quang Vạn Tư còn tích,
Bãi Bình Than vời cách trần ai.
Lạ thay nẻo trước an bài,
Ngước trông màng tượng Thiên Thai cảnh mầu.
Ghẽ một bầu danh lam Phả Lại,
Vốn dương dương như tại xưa nay.
Pháp chung tiếng dậy bến mê,
Cậy xuôi dòng bút giang tây ân cần.

Phả Lại tự thi

Mở mang nhờ có sức hồng quân,
Vọi vọi tôn nghiêm cách bụi trần.
Toàn ngọc làu làu cài Bích Hán,
Chày kình vẳng vẳng lọt thanh vân.
Hoà ngàn phảng phảng lừng hương quế,
Tám bức hây hây ánh thức xuân.
Tứ đại nên danh danh thượng phẩm,
Nghiễm nhiên đinh ninh tượng thiên chân.
Hựu thi

Vốn khơi nên nẻo nẻo xưa,
Đầm hâm cảnh vật qua ưa.
Vang trước bệ, thông rung ngọc,
Rợp bên tường, liễu rủ tơ.
Thế sản giang sơn vẹn thiểu,
Thơ mầu phong nguyệt thừa lưa.
Quang huy ấy, linh thông ấy,
Biết trần gian đã thấu chưa.
Dấu thành xưa kề gần nơi đó.
Áng Phao Sơn rệt có chẳng ngoa.
Hoa ngân chấp chới yên hà,
Lục Đầu hướng nhiễu ỷ la non nước.
Khéo lẩn quẩn đênh lênh bãi nguyệt,
Kìa ngọn giang chợt liếc Ngã Ba.
Những màng ngoạn thưởng lân la,
Đến chùa Hàm Thượng ngày đà ngọ trung.
Chỉn lạ lùng ngạc kia ngã nọ,
Đò cống gang vừa độ thu canh.
Ngã ba Mè tắt ngang duềnh.
Qua tàu khách biết tình hình viễn phương.
Tiện kiêm đường Yên Thường tạm trú.
Ngã ba tranh bèn ngụ tuần tranh.
Ngàn phong nghiệm trước phân minh,
Cẩn phòng sự dự, tĩnh thanh bằng tờ.
Quyết chẳng nghi lệnh hành phấn phát,
Lạt [?] hà đường lạt dặm khơi.
Tới Hưng Long tự tạm ngơi.
Mảng danh hiển ứng xem chơi địa đồ.
Dấu trùng tu tạc ghi rạnh rạnh,
Xúc lòng thơ thành kính đinh ninh.

Hưng Long tự thi

Dấu xưa triệu tạo hãy đĩnh ninh,
Thể chế vang vang hợp địa hình.
Cõi pháp nhơn nhơn phù kính tín,
Rừng thiền lộng lộng vốn quang minh.
Gió đưa cửa trúc xuy lòng đạo,
Nguyệt dãi song mây tỏ án kinh.
Đức từ bi công tế độ,
Anh linh vả có sức uy linh.
Thuyền tiên nhẹ mái thênh thênh,
Ngàn tầm khuất khúc vận oanh lạ vời.
Bến đỗ ngơi thể dường phải đội.
Tuần tỉnh đây đà cõi cửa hy.
Ngã ba nông cả dĩ thì,
Hải [?] đình đà trước kia hầu gần.
Khéo lần lần vừa ngang cửa Lục,
Trống giống ba dải cuộc tranh tiên.
Hiến giang thoắt tới kề miền,
Lễ bày bái yết dưới trên vui vầy.
Nấy xưa nay danh lai Triều Vạn,
Tiện hà phương cống khoản lai quy.
Vui thay nhân quảng ân thi,
Nhu hoài vốn những vỗ về gần xa.
Rày hiệp hoà vạn bang thống nhất,
Thuỷ lục thông nhân vật chúng đa.
Vịnh đề ứng vận quang hoa,
Quốc âm Đường luật thảo qua mấy hàng.

Lai Triều Vạn thi

Tóm thu hoàn hải bốn bề thông,
Nhĩ hà nào đâu chẳng cống thông.
Trong sẵn hiền năng tĩnh chấn,
Ngoài dầu thương cổ lưu thông.
Trân kỳ mọi vẻ hằng doanh dật,
Phong hoá đòi phương đã hiểu thông.
Vầy áng thị triền vui sở thú,
Thê hàng đều được tiện đường thông.
Nhân thung dung tiện đường kinh quá,
Tiện thế xem phố xá đòi nơi.
Nguyệt Đường tự thử qua chơi,
Tạm vần tuỳ cảnh mấy lời phân minh.

Nguyệt Đường tự thi

Danh lam từng trải đã hay danh,
Trình độ này âu hợp chuẩn trình.
Pháp giới chăm chăm tuyên diệu pháp,
Kinh lâu rỡ rỡ diễn chân kinh.
Công nhiều nhờ bởi công vô lượng,
Thế hợp vầy nên thế hữu tình.
Ngăn tục mựa cho mùi tục luỵ,
Lòng thiền tu cẩn chốn thiền quynh.
Mé kinh thành đồ trương diện diện,
Rỡ phố hoa thớn thớn đường hoa.
Dặm ngàn rệt rệt trải qua,
Ngã Ba Lềnh nãi Thanh Hoa nẻo vào.
Phẳng ba đào bãi Bông duổi tới,
Sẵn bến chờ sông Bái là tên.
Uyển nhiên thay áng Tự Nhiên,
Thẳng lên Phù Liệt Cao Biền tích xưa.
Mặc thừa cơ vui đua vùng vẫy,
Uy nhơn nhơn vang dậy đâu đâu.
Trải xem cảnh lạ thú mầu,
Tóm thu về một mối [?] kinh thành.
Mừng tĩnh ninh hải hà thanh yến,
Mừng bốn phương trầm nhạn bặt hơi.
Mừng vì chốn chốn yên vui,
Thuận lòng người, thuận lòng trời xưa sau.
Mừng đâu đâu triêm hàm xâm nhuận,
Mừng phong đăng ứng vận trùng hanh.
Mừng vì càn lãng khôn ninh,
Nhĩ hà vây một thói lành nhường nhân.
Mừng đài xuân thênh thênh rộng mở,
Mừng các yên kỳ sở lâng lâng.
Mừng vì gia khánh kiến trưng,
Vạn lành rày thể thêm tăng phúc lành.
Mừng khắc thành cổ kim thừa hiến,
Mừng quy mô sủng viễn vang vang.
Mừng vì hạ đạt thượng tình,
Long vân hội cả huân danh vẹn toàn.
Mừng yến diên trong ngoài đồng lạc,
Mừng thái bình lạc [?] thơ dâng.
Mừng nên bình phẩm lâng lâng,
Nhật trình mới mới bút đằng để ghi.


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]