Chưa có đánh giá nào
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Ngũ ngôn bát cú
Thời kỳ: Nguyễn
2 bài trả lời: 2 bản dịch

Đăng bởi tôn tiền tử vào 13/12/2018 22:12, đã sửa 1 lần, lần cuối bởi Vanachi vào 10/06/2019 16:13

過崑崙

久說崑崙島,
孤舟今始還。
眼窮滄海闊,
心到碧山間。
雞犬深林裡,
煙波隔世間。
悠悠湖海客,
曾否有相關。

 

Quá Côn Lôn

Cửu thuyết Côn Lôn đảo,
Cô chu kim thuỷ hoàn.
Nhãn cùng thương hải khoát,
Tâm đáo bích sơn gian.
Kê khuyển thâm lâm lý,
Yên ba cách thế gian.
Du du hồ hải khách,
Tằng phủ hữu tương quan.


Nguồn: Cao Tự Thanh, Việt Nam bách gia thi, NXB Văn hoá Sài Gòn, 2005

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Mai Chưởng Đức

Côn Lôn nghe nói tự lâu,
Con thuyền cô độc buổi đầu lướt qua.
Trông vời biển rộng bao la,
Non xanh gửi tấm lòng ta những ngày.
Muông gà trong khoảng rừng cây,
Thế gian ngăn cách, khói mây chập chùng.
Hỡi người hồ hải mông lung,
Có tương quan với non sông thế nào?

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Tô Nam Nguyễn Đình Diệm

Côn Lôn nghe nói tự lâu,
Con thuyền cô độc buổi đầu lướt qua.
Trông vời biển rộng bao la,
Non xanh gửi tấm lòng ta những ngày.
Muông gà trong khoảng rừng cây,
Thế gian ngăn cách, khói mây chập trùng.
Hỡi người hồ hải mông lung,
Có tương quan với non sông thế nào?


Nguồn:
1. Tập san sử địa, số 7+8 - đặc khảo về Phan Thanh Giản, NXB Khai trí, 1967
2. Cao Tự Thanh, Việt Nam bách gia thi, NXB Văn hoá Sài Gòn, 2005
tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời