Than ôi!
Dâu chìm bể nồi, ngán cuộc đời mây gió xáo đòi phen;
Kẻ Bắc người Nam, xót tình bạn ruột tằm vò mấy đoạn.

Cây sa núi lở, dấu sư nho khôn biết đâu tìm;
Trời sập đất già, nguồn đạo nghĩa chẳng bao giờ cạn.

Lửng lơ mây bạc cuối trời;
Thấp thoáng gió hương trước án.

Thống duy Mai Sơn tiên sinh:
Thơ sánh Thịnh Đường;
Văn so Tiền Hán.

Nức tài danh từ thuở ấu đồng;
Kể môn phiệt vốn nhà khoa hoạn.

Ngang mắt trắng liếc phường hủ tục, kệ thây cá chậu chim lồng;
Bước mây xanh che mặt trần ai, thời cũng bảng rồng tháp nhạn.

Vận tổ quốc đang gặp thời điên bái, nghiệp trung hưng mong mỏi vá trời;
Nọ đình vi vừa nhẹ gánh thần hôn, đường muôn dặm vội vàng dắt bạn.

Ngó cân đai càng tuôn lệ ngọc, Tống Văn Sơn gai mắt với Hồ Nguyên;
Nhớ nước non thêm nóng gan vàng, Châu Thuấn Thuỷ băng miền qua Nhật Bản.

Đường bôn tẩu trải bao phen nguy hiểm, khi Hương Cảng, khi Hoành Tân, khi Băng Cốc, tức tối đất không dụng võ, giọt khấp đình ai nếm máu Thân Tư;
Thuốc cứu thời toan mượn ngón văn chương, nào Yên kinh, nào Tấn tỉnh, nào Ngô quận, nào Hàn thành, phương y quốc khó ra tay chấp loạn.

Ngoài năm chục thân già lận đận, vóc hạc hình mai;
Hai mươi năm hồn mộng đi về, sông Lô núi Tản.

Phong trần đất khách, tóc đã pha sương;
Nhật nguyệt trời riêng, lòng không đày nắng.

Hăm lăm triệu xương tan thịt nát, xót đồng bào đang giữa bể trầm luân;
Toan một mình trống tối chuông mai, dắt đại chúng thoát ra vòng khổ hạn.

Những ước trời Nam đất Việt, khắp mọi vùng mưa pháp mây từ;
Thôi đành cửa Phật buồng Thiền, chuyên một niệm câu kinh quyển tán.

Than ôi!
Đất chậm hồi xuân;
Trời còn nuôi loạn.

Hạt đương gieo mộng, âm thầm quả phúc cây từ!
Mạ chửa nên hình, ghê gớm rừng gươm núi đạn.

Gió cuốn bụi hồng đòi trận thổi, nghe những ủ ê;
Nước giăng sóng bạc chín lần tuôn, thấy càng ngao ngán.

Kiếp phú sinh chốc tỉnh giấc hoàng lương;
Miền cực lạc sẽ tìm phương chấn đản.

Lửa can tịnh thiêu xương người khí tiết, sống thanh cao mà chết cũng thanh cao;
Đời văn minh mỏi mắt chốn quê hương, danh viên mãn mà chí chưa viên mãn.

Tuy nhiên!
Bất hoại ấy tinh thần;
Vô thường là vận hạn.

Đành đã tiêu dao cõi Phật, thế đáng vui mừng;
Chỉ vì ngơ ngác đàn em, riêng càng đau đớn.

Em Châu này:
Đầu xanh lửa lấn, vừa bạn vừa thầy;
Tóc bạc theo đòi, đồng ưu đồng hoạn.

Nhớ những canh khuya trước án, gà năm canh chung tiếng lúc hôm mai;
Nỡ nào kẻ ở người về, hạc nghìn tuổi đau lòng khi tụ tán.

Lời tối hậu ân cần khi tiễn biệt, trăng Tây hồ lai láng nét sơ chung;
Chí cảm hoài năn nỉ nghĩa bình sinh, mây Cát lĩnh mơ màng hồn vãng phản.

Những tưởng trời còn nước Việt, chén Long Thành mở tiệc hoan nghinh;
Vậy nên thơ gửi gió Nam, bài quốc ngữ thay lời kính vãn.

Cúi mong hồn hãy chứng cho;
Gọi chút tỏ lời đơn giản.


Phan Bội Châu và Nguyễn Thượng Hiền là những đồng chí trong Việt Nam quang phục hội từ những ngày đầu.

Nguồn: Thái Bạch, Thi văn quốc cấm thời thuộc Pháp, NXB Khai Trí, 1968