白藤海口

朔風吹海氣凌凌,
輕起吟帆過白藤。
鱷斷鯨刳山曲曲,
戈沉戟折岸層層。
關河百二由天設,
豪傑功名此地曾。
往事回頭嗟已矣,
臨流撫影意難勝。

 

Bạch Đằng hải khẩu

Sóc phong xung hải khí lăng lăng,
Khinh khởi ngâm phàm quá Bạch Đằng.
Ngạc đoạn kình khoa sơn khúc khúc,
Qua trầm kích chiết ngạn tằng tằng.
Quan hà bách nhị do thiên thiết,
Hào kiệt công danh thử địa tằng.
Vãng sự hồi đầu ta dĩ hĩ,
Lâm lưu phủ ảnh ý nan thăng.

 

Dịch nghĩa

Cửa biển lồng lộng, gió bấc thổi băng băng;
Buồm thơ nhẹ lướt qua sông Bạch Đằng.
Nhìn núi từng khúc, như cá mập, cá sấu bị chặt từng đoạn,
Nhìn bờ từng lốp, như giáo kích gươm đao bị gãy chìm.
Cảnh núi sông hiểm yếu, tạo ra cái thế “lấy ít địch nhiều”,
Ðây là nơi hào kiệt từng lập nên công danh oanh liệt.
Việc xưa nghĩ lại, ôi tất cả đã qua rồi!
Tới đây viếng cảnh, nỗi lòng sao biết nên chăng?


Bạch Đằng là con sông lịch sử của Việt Nam thuộc tỉnh Quảng Yên (Bắc Việt), bắt nguồn từ Phát Lại, chảy ra biển. Cửa Bạch Đằng xưa kia, vốn nay đã chuyển hướng, hiện thuộc Hải Phòng. Ðây là nơi mà Trần Hưng Ðạo đã đánh tan giặc Nguyên Mông. Cửa khẩu Bạch Đằng là một danh lam thắng cảnh, nơi đã từng hai lần quân Việt Nam đánh bại quân Trung Quốc xâm lược, Ngô Quyền (thế kỷ 10) phá quân Nam Hán, bắt sống thái tử Hoằng Thao, Trần Hưng Đạo (thế kỷ 13) đại thắng quân Nguyên, bắt được các tướng Ô Mã Nhi, Phan Tiệp, Tích Lệ...

Nguồn: Thơ chữ Hán Nguyễn Trãi, NXB Văn hoá, 1962

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 2 trang (14 bài trả lời)
[1] [2] ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Đình Hồ

Biển rung, gió bấc thổi băng băng,
Nhẹ cất buồm thơ lướt Bạch Ðằng.
Kình ngạc băm vằm non mấy khúc,
Giáo gươm chìm gãy bãi bao tầng.
Quan hà hiểm yếu trời kia đặt,
Hào kiệt công danh đất ấy từng.
Việc cũ quay đầu, ôi đã vắng,
Tới dòng ngắm cảnh dạ bâng khuâng.


Nguồn: Thơ chữ Hán Nguyễn Trãi, NXB Văn hoá, 1962
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
54.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lê Cao Phan

Gió biển bắc phương về giá buốt
Buồm reo vượt cửa khẩu sông Đằng
Núi như kình ngạc phân đòi đoạn
Đất tựa kích đao rải ngổn ngang
Hai chống hàng trăm, trời yểm trợ
Nhiều nên hào kiệt, đất tiềm tàng
Ôi, quay đầu lại ôn muôn sự
Ánh nước nhìn ra, ý nặng vương.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
24.50
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

THN

Qua trầm kích chiết hay qua trình kích chiết? (Bạch Đằng Hải khẩu)

43.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của nhóm Đào Duy Anh

Khi biển hơi may thổi lạnh rùng,
Bạch Đằng qua cửa nhẹ buồm dong.
Chòm chòm núi đá kình rời đoạn,
Lớp lớp bờ lau kiếm nát chồng.
Quan ải trăm, hai, trời đặt hiểm,
Anh hùng sự nghiệp đất nên công.
Việc xưa ngoái lại ôi rồi hết,
Ngao ngán mò xem bóng giữa dòng.


Nguồn: Đào Duy Anh, Nguyễn Trãi toàn tập, NXB Khoa học xã hội, 1976
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
23.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Cao Nguyên

Biển khơi gió bấc lạnh hơi băng
Dong cánh buồm qua cửa Bạch Đằng
Núi uốn khúc chia kình đoạn ngạc
Đao chìm kích gãy bãi dăng dăng
Địch đông ta ít do trời giúp
Hào kiệt nên công nghiệp rỡ ràng
Nhớ lại chuyện xưa ôi cảm khái
Qua nhìn bóng nước khó nói năng

24.50
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch

Bản dịch đầu tiên là của Nguyễn Đình Hồ, trong Thơ chữ Hán Nguyễn Trãi, NXB Văn hoá, 1962

15.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của (Không rõ)

Biển lùa, gió bấc thổi băng băng,
Nhẹ kéo buồm thơ lướt Bạch Ðằng.
Ngạc chặt băm vằm non mấy khúc,
Giáo chìm gươm gãy bãi dăng dăng.
Quan hà hiểm yếu trời kia đặt,
Hào kiệt công danh đất ấy từng.
Việc cũ quay đầu, ôi đã dứt,
Giữa dòng ngắm cảnh dạ bâng khuâng.

23.50
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Trần Đông Phong

Gió bấc lạnh trời khí biển dâng
Kéo buồm ngâm khẽ vượt Đằng Giang
Sấu kình đứt đoạn núi quanh khúc
Kích giáo gẫy chìm bãi xếp tầng
Thế hiểm núi sông trời đấy đặt
Anh hùng danh nổi đất này từng
Quay đầu chuyện cũ thôi đà vậy
Bóng nước cúi nhìn ý khó dâng.

14.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Bùi Hạnh Cẩn

Hơi may cồn biển khí lâng lâng,
Nhẹ dóng buồm thơ lướt Bạch Đằng.
Ngạc đứt kình phanh bao núi lớn,
Giáo chìm kích gãy mấy bờ giăng.
"Trăm hai" sông núi do trời đặt,
Hào kiệt công danh đất vốn từng.
Chuyện cũ quay đầu ôi đã thế,
Giữa dòng ngắm bóng ý rưng rưng.


Nguồn: Thăng Long thi văn tuyển, Bùi Hạnh Cẩn dịch, NXB Văn học, 2010
Khi bạn so găng với cuộc đời, cuộc đời luôn luôn thắng (Andrew Matthews)
15.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Qua trầm

Qua trầm (binh khí chìm) nhe

Bại binh chi tướng, ngôn bất khả dũng
Vong quốc chi đại phu, ngôn bất khả trí
15.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời

Trang trong tổng số 2 trang (14 bài trả lời)
[1] [2] ›Trang sau »Trang cuối