Bình luận nhanh 0

Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.

感懷

百憂如爛草,
連日雨聲中。
宦海頭將白,
青山夢已空。
窗蕉晨氣綠,
爐火血光紅。
忽憶珠場客,
天涯臥一篷。

 

Cảm hoài

Bách ưu như lạn thảo,
Liên nhật vũ thanh trung.
Hoạn hải đầu tương bạch,
Thanh sơn mộng dĩ không.
Song tiêu thần khí lục,
Lô hoả huyết quang hồng.
Hốt ức châu trường khách,
Thiên nhai ngoạ nhất bồng.

 

Dịch nghĩa

Trăm mối lo chẳng khác gì cỏ mục,
Nhiều ngày liên tiếp ở trong tiếng mưa.
Trong chốn quan trường nay đầu sắp bạc rồi,
Núi biếc kia giấc mộng vẫn còn trống không.
Cây chuối ngoài cửa sổ buổi sáng màu xanh mướt,
Lửa trong lò màu đỏ tươi như máu.
Chợt nhớ đến người khách ở nơi xa xôi,
Đng nằm trong một chiếc thuyền nào ở góc trời.


Bùi Lạp 裴拉 là em trai của Bùi Viện 裴援 (1839-1878), cũng là một chí sĩ ái quốc. Khi Bùi Viện đi khắp các nơi đất Trung Quốc, đâu đâu cũng có ông đi cùng, hai anh em tha hương nơi góc bể chân trời gió mưa cay đắng, lúc thì cùng nhau lên tháp Quan Âm ở Ngũ Dương, nhìn về nam nước cũ nhỏ lệ dầm bâu. Cũng có khi lên núi Thái Bình ở Hương Cảng trông xuống biển lớn mà ca mà khóc, cùng cảnh ngộ mà bi phẫn. Sau khi Bùi Viện qua đời, Bùi Lạp cũng bện tóc mặc đồ Trung Hoa để sống ẩn dấu nơi hải ngoại, thường thường cùng những người Anh, Mỹ đàm luận việc thiên hạ. Cũng vì Bùi Lạp rất giỏi tiếng Trung nên Nguyễn Tư Giản thường nhận được tin tức ở bên ngoài và sách vở, báo chí cũng đều nhờ vào ông cả. Có lần Bùi Lạp vì có việc phải lưu lại ti Châu Trường, huyện Hợp Phố chưa về được, Nguyễn Tư Giản có làm một bài thơ cảm hoài này.

[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]