紅槿花

生長從來侶梵家,
千紅萬紫讓繁花。
濃粧一笑迷金相,
艷色多情炫彩霞。
問柳鶯忙黃織亂,
尋梅蝶錯白冠斜。
開花把粉菲芳鬪,
別有天香趣味奢。

 

Hồng cận hoa

Sinh trưởng tòng lai lữ phạn gia,
Thiên hồng vạn tử nhượng phồn hoa.
Nùng trang nhất tiếu mê kim tướng,
Diễm sắc đa tình huyễn thái hà.
Vấn liễu oanh mang hoàng chức loạn,
Tầm mai điệp thố bạch quan tà.
Khai hoa bả phấn phi phương đấu,
Biệt hữu thiên hương thú vị xa.

 

Dịch nghĩa

Sinh ra lớn lên kề cận, bạn bè với cửa Phật
Nhường cảnh phồn hoa vạn sắc tím hồng
Trang điểm đẹp, một nụ cười làm mê cả dáng ngọc
Sắc thắm, nặng tình loá cả màu ráng chiều
Hỏi liễu oanh liền phai màu lông vàng
Tìm mai bướm giấu cánh trắng nghiêng
Hoa nở thì giữ kín hương thơm
Chắc là có hương trời lan xa rất thú vị


Tuyển từ Yên Đổ tiến sĩ thi tập (VHv.1864).

Nguyên chú: Cổ thi có câu “Tinh viên ảm đạm ưng phân huyết, Xạ đố yêu kiều bất dữ hương” (Giống tinh tinh buồn tẻ nên chia máu, Con xạ hương ghét vẻ đẹp nên không cho hương).

Nguồn: Trần Văn Nhĩ, Tuyển tập thơ chữ Hán Nguyễn Khuyến, NXB Văn Nghệ, 2005

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Trần Văn Nhĩ

Xưa nay đất Phật, vẫn hằng nương,
Nhường cảnh phồn hoa, muôn tía hồng.
Phô sắc gợi tình, mây rực ánh,
Hé cười khoe thắm, Phật mê hồn.
Dệt tơ thăm liễu, oanh đua tiếng,
Nghiêng mũ tìm mai, bướm lượn vòng.
Hoa nở đọ cùng hương phấn khác,
Để riêng thú vị góc trời hương.

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Đất Văn Lang

Theo về cửa Phật gởi thân nhàn
Nhường sắc tía hồng lại trần gian
Mỉm nụ hoa cười môi ngọc thẹn
Gợi tình sắc đẹp ráng chiều than
Oanh vàng mượn liễu che lông dệt
Bướm trắng nhờ mai giấu cánh đan
Hoa nở liền đem mùi ủ kín
Chắc là hương ngọc của trời ban.

Đất Văn Lang
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời