優婦詞

東鄰家有優人住,
夜半優人語優婦:
我亦時常做好官,
如何人皆不我懼?
優婦大怒罵其夫:
爾年既老何大愚。
幸哉昏暮人不識,
人或識之貽妾羞。
世間驚人但有二:
一能生人一能死。
爾既不能生子人,
如何人人皆懼爾。
且也爾家本貧寒,
朝夕排優求一餐。
排優君將且不懼,
何況爾為排優官。

 

Ưu phụ từ

Đông lân gia hữu ưu nhân trú,
Dạ bán ưu nhân ngữ ưu phụ:
“Ngã diệc thời thường tố hảo quan,
Như hà nhân giai bất ngã cụ?”
Ưu phụ đại nộ mạ kỳ phu:
“Nhĩ niên ký lão hà đại ngu!
Hạnh tai hôn mộ nhân bất thức,
Nhân hoặc thức chi di thiếp tu.
Thế gian kinh nhân đãn hữu nhị:
Nhất năng sinh nhân, nhất năng tử.
Nhĩ ký bất năng sinh tử nhân,
Như hà nhân nhân giai cụ nhĩ.
Thả dã nhĩ gia bản bần hàn,
Triêu tịch bài ưu cầu nhất xan.
Bài ưu quân tướng thả bất cụ,
Hà huống nhĩ vi bài ưu quan.”

 

Dịch nghĩa

Nhà láng giềng bên đông có anh phường chèo ở trọ,
Nửa đêm, anh ta bảo vợ rằng:
“Ta cũng thường hay làm quan to,
Tại sao người đời chẳng ai sợ ta?”
Vợ người phường chèo nổi giận mắng chồng:
“Anh già đời rồi mà sao ngu đến thế!
May mà đang đêm hôm không ai biết,
Nếu có người biết thì thiếp cũng xấu hổ lây.
Ở đời có hai hạng người khiến ai cũng sợ:
Một có thể cho người ta được sống, một có thể bắt người ta phải chết.
Anh đã không thể cho được người ta sống hoặc bắt người ta phải chết,
Thì việc gì mọi người phải sợ anh?
Vả nhà anh vốn đói rét,
Sớm chiều hát chèo kiếm bữa ăn!
Vua phường chèo người ta còn chẳng sợ,
Huống nữa là quan phường chèo như anh”.


Sinh thời nhà văn Nguyễn Công Hoan lý giải bài này tác giả muốn ám chỉ Hoàng Cao Khải qua những câu: “Xóm bên đông có phường chèo nọ” và “Tuổi đã già sao dại như ri”. Tương truyền, lúc làm gia sư ở nhà Hoàng Cao Khải, Nguyễn Khuyến mắt thấy những kẻ “quyền môn” qua lại cũng giống như các vai vua, quan trong phường chèo. Do đó ông tức cảnh làm bài này để chế giễu.

Lãng Nhân lại giải thích vì gia cảnh túng thiếu, bị người nhà trách sao không ra làm quan để đời sống đỡ chật vật, ông thác lời vợ phường chèo làm bài thơ này.

Nguồn:
1. Giai thoại làng nho, Lãng Nhân, Nam Chi tùng thư xuất bản, Sài Gòn, 1966
2. Thi hào Nguyễn Khuyến: đời và thơ, Nguyễn Huệ Chi chủ biên, NXB Giáo dục, 1994
3. Tuyển tập thơ chữ Hán Nguyễn Khuyến, Trần Văn Nhĩ, NXB Văn nghệ, 2005

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (3 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Khuyến

Xóm bên Đông có phường chèo trọ,
Đương nửa đêm gọi vợ chuyện trò
Rằng: “Ta thường làm quan to,
Sao người coi chẳng ra trò trống chi?”
Vợ cả giận mắng đi mắng lại:
“Tuổi đã già sao dại như ri;
Đêm hôm ai chẳng biết chi,
Người như biết đến thiếp thì hổ thay!
Đời có hai điều này nên sợ:
Sống chết người đều ở trong tay;
Thế mà chàng đã chẳng hay,
Còn ai sợ đến phường này nữa chăng.
Vả chàng vẫn lăng nhăng túng kiết,
Cuộc sinh nhai chèo hát quan thì;
Vua chèo còn chẳng ra gì,
Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề”.


Bản dịch của chính tác giả, chép trong Nam âm thảo (VHv.2381).

Nguồn:
1. Giai thoại làng nho, Lãng Nhân, Nam Chi tùng thư xuất bản, Sài Gòn, 1966
2. Thơ văn Nguyễn Khuyến, NXB Văn học, 1971 (tái bản 1979)
3. Nguyễn Khuyến – Tác phẩm, Nguyễn Văn Huyền chủ biên, NXB Khoa học xã hội, 1984
4. Thi hào Nguyễn Khuyến: đời và thơ, Nguyễn Huệ Chi chủ biên, NXB Giáo dục, 1994
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Trương Việt Linh

Có cặp phường chèo trọ xóm đông
Nửa đêm to nhỏ chuyện vợ chồng
Rằng nay ta vốn là quan lớn
Sao lại xem ta không trò trống
Nổi giận đùng đùng vợ mắng ngay
Tuổi già như ông sao dại thay
May lúc đêm hôm người chẳng biết
Nếu ai biết đến càng hổ thiếp
Thế gian hai điều đáng sợ đây
Sống chết là do quyền tại tay
Chàng có đâu quyền sanh sát đó
Để khiến người ta phải khiếp sợ
Vả nay túng kiết sống lằng nhằng
Tối chèo sớm hát kiếm bữa ăn
Vua chèo còn chẳng ra chi nữa
Cái giá quan chèo đấng mấy chăng

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Nhà bên đông có phường chèo trọ,
Đương nửa đêm, gọi vợ nhỏ to:
“Ta cũng thường làm quan to đó,
Sao ai cũng chẳng coi ra trò?”
Vợ nổi giận mắng to mắng nhỏ:
“Anh già đời sao dạ ngu si!
May mà người chẳng biết gì
Nếu người biết thiếp thì hổ lây.
Đời có hai hạng người nên sợ:
Cho người được sống, chết trong tay.
Anh đã không có được quyền này,
Việc gì người phải đêm ngày sợ anh?
Vả nhà anh vốn là phường đói rét,
Sớm chiều hát chèo thét kiếm ăn!
Vua chèo người chẳng sợ bằng
Quan chèo anh nữa khác chăng thằng hề”.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời