23.00
Thể thơ: Lục bát
Thời kỳ: Nguyễn
2 bài trả lời: 2 bình luận
1 người thích
Từ khoá: thơ sách giáo khoa (444) Văn học 9 [1990-2002] (58)
Đăng bởi Vanachi vào 29/06/2005 11:16, đã sửa 4 lần, lần cuối bởi Vanachi vào 18/10/2005 10:59

Cửa từ bi lại gặp yêu ma, sa cơ đoạ lạc!
Miền hoa khói trổ nghề trăng gió, gặp gỡ anh hùng.
(Câu 2035-2254)


2035. Chùa đâu trông thấy nẻo xa
Rành rành “Chiêu Ẩn am” ba chữ bài
Xăm xăm gõ mái cửa ngoài
Trụ trì nghe tiếng rước mời vào trong

Thấy mầu ăn mặc nâu sồng
2040. Giác Duyên sư trưởng lành lòng liền thương
Gạn gùng ngành ngọn cho tường
Lạ lùng, nàng hãy tìm đường nói quanh:
Tiểu thiền quê ở Bắc kinh,
Quy sư, quy Phật, tu hành bấy lâu
2045. Bản sư rồi cũng đến sau
Dạy đưa pháp bảo sang hầu sư huynh.
Rày vâng diện kiến rành rành
Chuông vàng khánh bạc bên mình giở ra

Xem qua sư mới dạy qua:
2050. Phải nơi Hằng Thuỷ là ta hậu tình
Chỉn e đường sá một mình
Ở đây chờ đợi sư huynh ít ngày.
Gửi thân được chốn am mây
Muối dưa đắp đổi tháng ngày thong dong
2055. Kệ kinh câu cũ thuộc lòng
Hương đèn việc cũ, trai phòng quen tay
Sớm khuya lá bối phướn mây
Ngọn đèn khêu nguyệt, tiếng chày nện sương

Thấy nàng thông tuệ khác thường
2060. Sư càng nể mặt, nàng càng vững chân.
Cửa thuyền vừa cữ cuối xuân
Bóng hoa đầy đất, vẻ ngân ngang trời
Gió quang, mây tạnh thảnh thơi
Có người đàn việt lên chơi cửa già
2065. Giở đồ chuông khánh xem qua
Khen rằng: Khéo giống của nhà Hoạn nương!
Giác Duyên thực ý lo lường
Đêm khuya mới hỏi lại nàng trước sau
Nghĩ rằng khôn nỗi giấu mầu
2070. Sự mình nàng mới gót đầu bày ngay:

Bây giờ sự đã dường này
Phận hèn dầu rủi, dầu may tại người.
Giác Duyên nghe nói rụng rời
Nửa thương, nửa sợ, bồi hồi chẳng xong
2075. Rỉ tai mới kể sự lòng:
Ở đây cửa Phật là không hẹp gì
E chăng những sự bất kỳ
Để nàng cho đến thế thì cũng thương!
Lánh xa trước liệu tìm đường
2080. Ngồi chờ nước đến, nên dường còn quê!
Có nhà họ Bạc bên kia

Am mây quen lối đi về dầu hương
Nhắn sang, dặn hết mọi đường
Dọn nhà hãy tạm cho nàng trú chân
2085. Những mầng được chốn an thân
Vội vàng nào kịp tính gần tính xa
Nào ngờ cũng tổ bợm già
Bạc Bà học với Tú Bà đồng môn!
Thấy nàng mặn phấn, tươi son
2090. Mầng thầm được buổi bán buôn có lời
Hư không đặt để nên lời
Nàng đà lớn sự rụng rời lắm phen

Mụ càng xua đuổi cho liền
Lấy lời hung hiểm, ép duyên Châu Trần
2095. Rằng: Nàng muôn dặm một thân
Lại mang lấy tiếng dữ gần, lành xa
Khéo oan gia, của phá gia!
Còn ai dám chứa vào nhà nữa đây?
Kíp toan kiếm chốn xe dây
2100. Không dưng chưa dễ mà bay đàng trời!
Nơi gần thì chẳng tiện nơi
Nơi xa thì chẳng có người nào xa

Này chàng Bạc Hạnh cháu nhà
Cùng trong thân thích ruột rà, chẳng ai
2105. Cửa nhà buôn bán châu Thai
Thực thà có một, đơn sai chẳng hề
Thế nào nàng cũng phải nghe
Thành thân rồi sẽ liệu về châu Thai
Bấy giờ ai lại biết ai
2110. Dầu lòng bể rộng, sông dài thênh thênh
Nàng dầu quyết chẳng thuận tình
Trái lời nẻo trước, luỵ mình đến sau!

Nàng càng mặt ủ mày chau
Càng nghe mụ nói, càng đau như rần
2115. Nghĩ mình túng đất, sẩy chân
Thế cùng, nàng mới xa gần thở than:
Thiếp như con én lạc đàn
Phải cung, rày đã sợ làn cây cong
Cùng đường dầu tính chữ tòng
2120. Biết người, biết mặt, biết lòng làm sao?
Nữa khi muôn một thế nào
Bán hùm buôn sói, chắc vào lưng đâu?

Dầu ai lòng có sở cầu
Tâm minh, xin quyết với nhau một lời
2125. Chứng minh có đất có trời
Bấy giờ vượt bể, ra khơi quản gì!
Được lời mụ mới ra đi
Mách tin họ Bạc tức thì sắm sanh
Một nhà dộn dịp linh đình
2130. Quét sân, đặt trác, rửa bình, thắp nhang
Bạc sinh quì xuống vội vàng
Quá lời nguyện hết Thành hoàng, Thổ công
Trước sân lòng đã giãi lòng

Trong màn làm lễ tơ hồng kết duyên
2135. Thành thân, mới rước xuống thuyền
Thuận buồm một lá, xuôi miền châu Thai
Thuyền vừa đỗ bến thảnh thơi
Bạc sinh lên trước tìm nơi mọi ngày
Cũng nhà hành viện xưa nay
2140. Cũng phường bán thịt, cũng tay buôn người
Xem người, định giá, vừa rồi
Mối hàng một, đã ra mười thì buông
Mượn người, thuê kiệu, rước nàng

Bạc đem mặt bạc, kiếm đường cho xa
2145. Kiệu hoa đặt trước thềm hoa
Bên trong thấy một mụ ra vội vàng
Đưa nàng vào lạy gia đường
Cũng thần mày trắng, cũng phường lầu xanh!
Thoắt trông nàng đã biết tình
2150. Chim lồng khôn lẽ cất mình bay cao
Chém cha cái số hoa đào
Gỡ ra rồi lại buộc vào như chơi!
Nghĩ đời mà ngán cho đời!

Tài tình chi lắm cho trời đất ghen!
2155. Tiếc thay nước đã đánh phèn
Mà cho bùn lại vẩn lên mấy lần!
Hồng quân với khách hồng quần
Đã xoay đến thế còn vần chưa tha
Lỡ từ lạc bước, bước ra
2160. Cái thân liệu những từ nhà liệu đi
Đầu xanh đã tội tình gì
Má hồng đến quá nửa thì chưa thôi?
Biết thân chạy thẳng khỏi trời
Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh.

2165. Lần thâu gió mát trăng thanh
Bỗng đâu có khách biên đình sang chơi
Râu hùm, hàm én, mày ngài
Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao
Đường đường một đấng anh hào
2170. Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài
Đội trời đạp đất ở đời
Họ Từ tên Hải, vốn người Việt Đông
Giang hồ quen thói vẫy vùng
Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo

2175. Qua chơi thấy tiếng nàng Kiều
Tấm lòng nhi nữ cũng xiêu anh hùng
Thiếp danh đưa đến lầu hồng
Hai bên cùng liếc, hai lòng cùng ưa
Từ rằng: Tâm phúc tương cờ
2180. Phải người trăng gió vật vờ hay sao?
Bấy lâu nghe tiếng má đào
Mắt xanh chẳng để ai vào, có không?
Một đời được mấy anh hùng
Bõ chi cá chậu chim lồng mà chơi?
2185. Nàng rằng: Người dạy quá lời

Thân này còn dám coi ai làm thường!
Chút riêng chọn đá thử vàng
Biết đâu mà gửi can tràng vào đâu?
Còn như vào trước ra sau
2190. Ai cho kén chọn vàng thau tại mình?
Từ rằng: Lời nói hữu tình!
Khiến người lại nhớ câu Bình Nguyên Quân
Lại đây xem lại cho gần
Phỏng tin được một vài phần hay không?
2195. Thưa rằng: Lượng cả bao dung

Tấn Dương được thấy mây rồng có phen
Rộng thương cỏ nội, hoa hèn
Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau.
Nghe lời vừa ý, gật đầu
2200. Cười rằng: Tri kỷ trước sau mấy người?
Khen cho con mắt tinh đời
Anh hùng, đoán giữa trần ai mới già!
Một lời đã biết đến ta
Muôn chung, nghìn tứ, cũng là có nhau!
2205. Hai bên ý hợp tâm đầu

Khi thân, chẳng lựa là cầu mới thân!
Ngỏ lời nói với băng nhân
Tiền trăm lại cứ nguyên ngân phát hoàn
Buồng riêng sửa chốn thanh nhàn
2210. Đặt giường thất bảo, vây màn bát tiên
Trai anh hùng, gái thuyền quyên
Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng
Nửa năm hương lửa đương nồng
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương
2215. Trông vời trời bể mênh mang

Thanh gươm, yên ngựa, lên đàng thẳng rong
Nàng rằng: Phận gái chữ tòng
Chàng đi, thiếp cũng một lòng xin đi.
Từ rằng: Tâm phúc tương tri
2220. Sao không thoát khỏi nữ nhi thường tình?
Bao giờ mười vạn tinh binh
Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường;
Làm cho rõ mặt phi thường
Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia
2225. Bằng nay bốn bể không nhà

Theo càng thêm bận, biết là đi đâu?
Đành lòng chờ đón ít lâu
Chầy chăng là một năm sau vội gì?
Quyết lời dứt áo ra đi
2230. Gió đưa bằng tiện đến kỳ dặm khơi
Nàng thì chiếc bóng song mai
Đêm thâu đằng đẵng, nhặt cài then mây
Sân rêu chẳng vẽ dấu giày,
Cỏ cao hơn thước, liễu gày vài phân
2235. Đoái thương muôn dặm tử phần

Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa
Xót thay huyên cỗi, xuân già
Tấm lòng thương nhớ biết là có nguôi?
Chốc là mười mấy năm trời
2240. Còn ra khi đã da mồi tóc sương
Tiếc thay chút nghiã cũ càng
Dẫu lìa ngó ý, còn vương tơ lòng
Duyên em dầu nối chỉ hồng
May ra khi đã tay bồng tay mang
2245. Tấc lòng cố quốc tha hương
Đường kia, nỗi nọ, ngổn ngang bời bời

Cánh hồng bay bổng tuyệt vời
Đã mòn con mắt, phương trời đăm đăm
Đêm ngày luống những âm thầm
2250. Lửa binh đâu đã ầm ầm một phương
Ngất trời sát khí mơ màng
Đầy sông kình ngạc, chật đường giáp binh
Người quen thuộc, kẻ chung quanh
Nhủ nàng hãy tạm lánh mình một nơi


Đoạn trích này từng được sử dụng trong chương trình SGK Văn học 9 giai đoạn 1990-2003, nhưng đã được lược bỏ về sau.

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Cảm nhận về đoạn trích “Chí khí anh hùng”

Hội ngộ – rồi chia li đó là hai mặt của một quá trình. Nó là qui luật tự nhiên trong đời sống con người và cũng như là qui luật tình cảm riêng tư khó nói thành lời. Chẳng thế mà chia li đã trở thành thỉ tài, là nguồn cảm hứng vô tận cho các nhà thơ, nhà văn đi vào khai thác sao. Từ trong câu ca dao quen thuộc: “Vầng trăng ai xẻ làm đôi; Đường trần ai vẽ ngược xuôi hỡi chàng?” đến “Vầng trăng ai xẻ làm đôi; Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường” (Truyện Kiều – Nguyễn Du) và ngay cả Cuộc chia li màu đỏ (Nguyễn Mĩ). Ta vẫn bắt gặp những giọt nước long lanh, nóng bỏng, sáng ngời của kẻ ở – người đi. Nhưng có một cuộc chia li làm bạn đọc ấn tượng bởi Chí khí anh hùng, tràn đầy niềm tin lạc quan, tươi sáng chứ không như:

Người lên ngựa, kẻ chia bào,
Rừng phong, thu đã nhuộm màu quan san.
Đó là cuộc chia li của Từ Hải với Thuý Kiều để lên đường đi khởi nghĩa. Đoạn Chí khí anh hùng (trích Truyện Kiều) thuộc phần gia biến và lưu lạc trên đoạn trường mười lăm năm. Rơi vào lầu xanh lần thứ hai, Thuý Kiều được gặp Từ Hải, người anh hùng rồi đây sẽ cứu vớt nàng ra khỏi cuộc đời thanh lâu đau khổ. Người mà đại diện cho lí tưởng, đạo lí công bằng mà Nguyễn Du gửi gắm khi xây dựng trong tác phẩm. Người mà Nguyễn Du bộc lộ tư tưởng, tình cảm, khối mâu thuẫn khó giải quyết bằng lời của tác giả.

Sau cuộc gặp gỡ đặc biệt, trong hoàn cảnh cũng rất đặc biệt, Thuý Kiều – Từ Hải đã tìm thấy sự hoà hợp về tâm hồn của nhau, ở họ vừa có sự thấu hiểu chân thành vừa có sự đồng cảm cho nhau. Hai khoảng trống về tâm hồn đã được lấp đầy, san sẻ cho nhau bằng tình yêu. Sự tương xứng ấy tạo nên một kết thúc có hậu của miền cổ tích khi:
Trai anh hùng gái thuyền quyên
Phỉ nguyền sánh phượng đẹp duyên cưỡi rồng.
Trước khi đi vào tìm hiểu đoạn trích, ta hãy hiểu xem con người này cps gì đặc biệt mà Nguyễn Du giành nhiều ưu đãi khi xây dựng Từ Hảỉ là người anh hùng lí tưởng. Một ngựa, một gươm – Từ Hải đã vung lên lưỡi gươm công lí cứu vớt những con người khốn khổ, và chắp.cánh cho ước mơ hoài bão của họ bay cao, bay xa mãi.

Sự xuất hiện một nhân vật mới trên chặng đường số phận của Thuý Kiều lần này mang một ý nghĩa giá trị nghệ thuật đặc biệt.

Hình tượng Từ Hải không chỉ phản ánh một quan niệm mới mẻ, tự do về quan hệ luyến ái nam nữ:
Một đời được mấy anh hùng
Bõ chi cá chậu chim lồng mà chơi
Chính là lời nói giản dị, chân thành, trân trọng Thuý Kiều của Từ Hải đã là lời tỏ tình tế nhị kín đáo mà phá vỡ khoảng cách vốn rất dễ xuất hiện giữa nhân vật anh hùng với con người bình thường như Kiều. Có thể nói rằng Nguyễn Du thật có biệt tài xây dựng, khắc hoá tính cách từng nhân vật một cách đậm nét là rõ ràng. Đặc biệt là nhân vật Từ Hải. Hơn bất cứ những hình tượng nào khác trong tác phẩm, Từ Hải phản ánh khát vọng tự do một khuynh hướng tự do không chỉ vượt khỏi lễ giáo, đạo đức chính thống mà còn là một người nổi loạn đối lập với trật tự chính trị phong kiến. Hình tượng Từ Hải – con người đã san phẳng bất bình, bênh vực người bị áp bức bằng nghĩa khí và tài năng cá nhân – tạo nên nội dung phong phú sâu sắc của Truyện Kiều.

Từ Hải dường như đã bẻ gãy xiềng xích mà xã hội phong kiến trói buộc con người, chàng phủ định chính quyền nhà vua, và đối với chàng tự do cao hơn hết thảy:
Chọc trời khuấy nước mặc dầu
Dọc ngang nào biết trên đầu có ai!
Với khí thế ngang tàng của sự tự do, không phải là cảnh:
Áo xiêm ràng buộc lấy nhau
Vào luồn ra cúi công hầu mà chi?
Mà lại cái tư thế hiện ngang giữa đất trời, thoả chí anh hùng:
Giang hồ quen thói vẫy vùng
Gươm đàn nửa gánh non sông một chèo.
Hình ảnh cây cung và thanh kiếm đã tạo nên một nét mới trong tính cách của Từ Hải. Cũng như Kim Trọng, Từ Hải cũng có một tâm hồn cao thượng và đượm chất thơ. Nhưng khác với các nhân vật trong tác phẩm Từ Hải còn làm độc giả say mê bởi cái cốt cách của một kẻ ngang tàng, hào phóng.

Nguyễn Du xây dựng Từ Hải là nhân vật lí tưởng có cốt cách phi thường, nhưng đứng trước Kiều “Tấm lòng nhi nữ cũng xiêu anh hùng”. Tuy nhiên chàng luôn đứng trên lập trường và lợi ích của cộng đồng, tình cảm và lí tưởng của chàng luôn thống nhất chứ không đồng nhất. Vì vậy mà:
Nửa năm hương lửa đương nồng
Trượng phu thoát đã động lòng bốn phương,
Trông vời trời bể mênh mang,
Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng giong.
Sống trong hạnh phúc yêu thương, khi hơi ấm tình cảm vợ chồng ở độ mặn nồng, đằm thắm. Từ Hải vẫn không quên sự nghiệp lớn, chí làm trai mà theo như Nguyễn Công Trứ:
Chí làm trai nam bắc tây đông
Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể.
Điểm này ở Từ Hải đã cho thấy sự phù hợp trong tính cách của chàng đó là đội trời đạp đất ở đời. Tư thế ra đi của Từ Hải dứt khoát, không có chút lưu luyến – bịn rịn như Thúc Sinh từ biệt Thuý Kiều, không có lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai. Mà ở đoạn trích Chí khí anh hùng (Truyện Kiều – Nguyễn Du), người trượng phu mang trong mình tầm vóc lớn lao của thời đại giao cho, đối lập với một không gian bao la; trông vời trời bể mênh mang là tầm vóc của người anh hùng: Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng giong. Chỉ mới bốn câu thơ thôi Nguyễn Du đã khắc hoạ một nhân vật, người anh hùng bằng xương bằng thịt. Bởi miêu tả là người anh hùng cho nên ngôn ngữ của Nguyễn Du là sự kính phục, trân trọng. Cách miêu tả cũng khác, không gian, thời gian được mở rộng để phù hợp với khí phách của nhân vật chăng?

Người anh hùng ra đi không muốn vướng bận nữ nhi, không chút mềm yếu trước lời nói của thê tử.
Nàng rằng: phận gái chữ tòng.
Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi.
Thuý Kiều là người sâu sắc đến mấy cũng không thoát khỏi chuyện phu – thê quyến luyến. Nàng chỉ muốn theo Từ Hải đi để làm trọn bổn phận làm vợ của mình, mà không nghĩ đến việc lớn của chàng. Vì thế Từ Hải đã trách khéo nàng tâm phúc tương tư tức là hai người đã hiểu rõ lòng dạ của nhau một cách sâu sắc như thế, cần gì phải quan tâm đến chuyện nghĩa theo chồng như đạo Nho bắt làm. Sau đó chàng động viên Thuý Kiều ở nhà yên tấm đợi tin vui:
Bao giờ mười vạn tinh binh
Tiếng chuông dậy đất bóng tinh rợp đường
Làm cho rõ mặt phi thường
Bây giờ ta sẽ rước nàng nghi gia.
Còn bây giờ giữa trời đất bao la bốn bể không nhà, nàng mà đi theo chỉ làm bận tâm thêm, huống chi chưa biết rõ là đi đâu. Vì vậy nàng hãy dằn lòng chờ đợi chỉ một hai năm vội gì. Thế rồi chàng:
Quyết lời dứt áo ra đi,
Gió đưa bằng tiện đã lìa dặm khơi.
Hình con chim bằng được lấy từ điển tích từ truyện ngụ ngôn kể rằng chim bằng là một giống chim rất lớn, đập cách làm động nước trong ba ngàn dặm, cho những người anh hùng có bản lĩnh phi thường, khao khát làm nên sự nghiệp lớn. Nguyễn Du đã ví Từ Hải như là con chim bằng đã đến lúc tung cánh bay lên cùng gió mây.

Cuộc sống của một con người luôn khao khát không trung, tự do thoả chí vẫy vùng, không bao giờ chịu sống trong cảnh tù túng, gò bó một không gian nhỏ bé thường ngày của người bình thường. Khi miêu tả người anh hùng Từ Hải, Nguyễn Du đi vào miêu tả hành động và cử chỉ ngôn ngữ mang ý nghĩa mạnh mẽ, đứt khoát như: thoắt đã, thẳng giong, sao chưa thoát khỏi, dậy đất, phi thường, vội gì, quyết lời dứt áo ra đi, đã lìa... Ngoài ra thêm các từ chữ Hán để bộc lộ tư tưởng tình cảm của tác giả, rồi dung điển cố, điển tích... và cả xây dựng thời gian, không gian mở: nửa năm, bốn phương, trời bể mênh mang, bằng tiện...

Tóm lại, chỉ một đoạn thơ ngắn, hình tượng nhân vật Từ Hải dường như xuất hiện từ một giấc mơ, từ một giấc mơ hùng vĩ về chính phía mà hàng triệu người khốn khổ áp bức hằng ôm ấp. Vì vậy, mà khi xây dựng, Nguyễn Du đã có những sáng tạo các phương thức nghệ thuật riêng, để biểu đạt khát vọng của mình và của thời đại Nguyễn Du sống – khát vọng về sự tự do, công bằng lẽ phải. Từ một cuộc chia li mà nói lên được toàn bộ chí khi anh hùng của Từ Hải.

tửu tận tình do tại
15.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Phân tích đoạn trích “Chí khí anh hùng”

Nhắc đến đại thi hào dân tộc Nguyễn Du, ta không thể nào không nhắc đến Truyện Kiều – một tác phẩm chứa đựng tinh thần nhân đạo sâu sắc, đề cao giá trị con người và lên tiếng tố cáo xã hội phong kiến thối nát. Đoạn trích Chí khí anh hùng trích trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã dành những lời thơ của mình để nói về Từ Hải – người anh hùng lí tưởng có những phẩm chất cao đẹp, phi thường.

Có thể nói trong đoạn trích này, Nguyễn Du đã xây dựng một hình tượng nhân vật Từ Hải hoàn toàn mới so với hình tượng nhân vật này trong Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, ở Truyện Kiều của Nguyễn Du, hình tượng Từ Hải giống như một tướng cướp đã bị lược bỏ, thay vào đó là một hình tượng Từ Hải như một vị anh hùng tuyệt đẹp, phi thường. Hình tượng này là sự hợp nhất của hình tượng nhân vật có tính ước lệ – là nghệ thuật miêu tả nhân vật đặc sắc của Nguyễn Du và hình tượng con người vũ trụ với nét vĩ đại, lớn lao.

Sau khi bị mắc bẫy và rơi vào chốn lầu xanh lần thứ hai, Kiều luôn sống trong tâm trạng đau khổ, giày vò. Giữa lúc ấy, Từ Hải xuất hiện như một vị cứu tinh giúp Kiều thoát khỏi chốn lầu xanh đầy nhơ nhớp ấy. Nhưng tình yêu giữa Thuý Kiều và Từ Hải vẫn không thể nào che khuất đi ước mơ gây dựng một sự nghiệp lớn lao ở con người này. Đó chính là lí do mà khi mối tình của họ vừa chớm nở được “nửa năm” thì Từ Hải đã tiếp tục lên đường với khát khao cháy bỏng gây dựng sự nghiệp của mình:

Nửa năm hương lửa đương nồng
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương
Trông vời trời bể mênh mang
Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong
Mặc dù trong thời gian sáu tháng, tình yêu của họ luôn nồng nàn, cháy bỏng nhưng với chí lớn và khát khao công danh nghiệp lớn Từ Hải thoắt đã “động lòng bốn phương”. “Lòng bốn phương” ở đây là hình ảnh tượng trưng, ước lệ cho chí nguyện lập công danh, sự nghiệp của Từ Hải. Hình ảnh “trời bể mênh mang” cũng mang ý nghĩa tương tự như vậy. Chúng như một sự ước lệ tạo nên một tầm vóc lớn lao, phi thường cho Từ Hải. Có thể nói tình yêu hay bất cứ một cái gì cũng không đủ sức để ngăn cản được bước chân của chàng. Trong cả một tác phẩm dài, Nguyễn Du chỉ dành duy nhất một từ “trượng phu” cho Từ Hải như thể khẳng định một chí khí lớn ở chàng. Hình ảnh “thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong” diễn tả một phong thái ung dung của người “trượng phu” trên con đường gây dựng sự nghiệp ấy.

Đối với Thuý Kiều, Từ Hải không chỉ như một người chồng mà còn như một vị ân nhân có ơn vô cùng lớn đã cứu Kiều thoát khỏi chốn lầu xanh ô nhục. Vì vậy, trước quyết tâm ra đi vì nghiệp lớn của chồng mình, Thuý Kiều đã xin đi theo để là người chăm sóc, nâng khăn sửa túi cho chàng:
Nàng rằng: Phận gái chữ tòng
Chàng đi thiếp cũng quyết lòng xin đi
Nàng xin đi để được làm trọn chữ “tòng” vì theo nàng thì “xuất giá tòng phu” lấy chồng thì phải theo chồng, nguyện cùng chồng gánh vác mọi chuyện. Nhưng lời Từ Hải đã quyết, như để làm an lòng Thuý Kiều:
Từ rằng: Tâm phúc tương tri
Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình?
Bao giờ mười vạn tinh binh
Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường
Làm cho rõ mặt phi thường
Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia
Trước lời xin đi theo của Thuý Kiều, Từ Hải như trách Kiều: “Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình”’, đó cũng như một lời khuyên Kiều đừng xem nặng quá vấn đề “lấy chồng là phải theo chồng”, hãy xem nhẹ chuyện tình cảm vì sự nghiệp lớn lao của chồng. Với một quyết tâm, chí khí lớn lao, Từ Hải nói như hứa hẹn sẽ gây dựng được một cơ đồ to lớn, nắm chắc trong tay “mười vạn tinh binh” và chàng sẽ trở về để đón Kiều trong “tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp trời”. Lúc thành công quay trở lại cũng là lúc Từ Hải sẽ “rước nàng nghi gia”, đem lại địa vị và danh phận cho người mà chàng xem là tri âm tri kỉ. Những lời của Từ Hải vào khoảnh khắc tiễn biệt này càng làm rõ “chí khí anh hùng” của nhân vật này, thay vì những lời nói thể hiện sự bịn rịn, quyến luyến khi chia tay thì là những ước mơ, sự khẳng định nhất định sẽ thành công của chàng.

Từ Hải còn thể hiện chí khí của mình ở việc cho rằng Thuý Kiều đi theo sẽ “càng thêm bận” nhưng sâu thẳm bên trong là sự lo lắng cho Kiều khi đi theo sẽ phải chịu cực khổ, nay đây mai đó “bốn bể không nhà”:
Bằng ngay bốn bể không nhà
Theo càng thêm bận, biết là đi đâu
Chàng còn dám khẳng định chắc chắn thời gian mà mình sẽ quay về đó là khoảng thời gian một năm. Từ Hải khuyên Kiều ở nhà đợi chàng trở về trong sự chiến thắng vẻ vang, hiển hách:
Đành lòng chờ đó ít lâu
Chầy chăng là một năm sau vội gì.
Cách chia tay của Từ Hải rất khác biệt ở chỗ những lời chia tay được thay bằng những lời hứa vào một chiến thắng không xa, sự quyến luyến được thay bằng một quyết tâm vào tương lai.
Quyết lời dứt áo ra đi
Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi
Chàng dứt khoát ra đi với một quyết tâm sắt đá như cánh chim bằng khi đã cất cánh tung bay trên bầu trời thì phải bay thật xa mới nghỉ cũng như Từ Hải khi đã chiến thắng, thành công thì mới quay trở về.

Với đoạn trích Chí khí anh hùng, Nguyễn Du đã xây dựng được một hình tượng người anh hùng lí tưởng hoàn toàn mới. Có thể nói Nguyễn Du đã thực sự thành công khi xây dựng hình tượng nhân vật này chính bằng tài năng nghệ thuật thể hiện ở sự sáng tạo độc đáo và sự đam mê văn chương của mình.

tửu tận tình do tại
14.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời