Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Thơ tự do
Thời kỳ: Hiện đại

Đăng bởi tôn tiền tử vào 19/09/2014 06:35

Tháng chạp năm Ất Mùi (1415)
Dòng sông Chu lạnh ngắt
Vài chiếc thuyền khum mui
Lửa bếp tàn leo lét.

Hai bên bờ xao xác
Lau ngập trùm bãi ngô
Một vài con chó đói
Giành nhau mẩu xương khô
Dưới sông mái chèo khua
Một chàng trai đóng khố
Gió tím mảng ngực trần
Vung chài vèo xé gió

Một người ngồi đầu mũi
Nhìn trời hát nghêu ngao:
"A ha, thời loạn lạc
"Trời đất quay lộn nhào
"Dân đen đem nướng chả
"Rượu huyết chúng mời nhau
"Quân Ngô chê nem phượng
"Ta vét con tép dầu
"Chài kéo lên lại kéo
"Giũ nước, cóc gì đâu!"

Người ngồi đầu mũi kia
Lại quăng liền mẻ nữa
Rồi lại kéo chài không
Sông tiệt mất nguồn cá

Vừa lúc trên bãi rậm
Có tiếng người khóc rầm
Lê Khảm bảo Nhữ Lâm:
- Ta neo thuyền vào xem

Một nấm đất đắp cao
Khói hương còn nghi ngút
Chàng trai chừng đôi mươi
Đang lăn trên mộ khóc

Nhữ Lâm đến bên cạnh
Đặt bàn tay lên vai.
Chàng thanh niên ngơ ngác
Hỏi: - Các người là ai?

- Ta là kẻ dân chài
Của sông Chu nghèo khổ
Nghe tiếng khóc xé lòng
Ta muốn cùng chia sẻ
Nếu có thể tin nhau
Ta xin nghe người kể!

Chàng trai giọng sang sảng:
- Người hỏi, ta càng đau
Nỗi hờn cao như núi
Cháy như lửa trong đầu.
Trịnh Khả là tên ta
Quê Kim Bôi, Vĩnh Lộc
Một hôm đi chăn trâu
Bị quân Minh vây bắt.
Chúng giải về Tây Đô
Thích dấu "" lên mặt
Ta không thèm chịu nhục
Đã phá cũi sổ lồng.
Cha ta bị chúng bắt
Tra tấn rồi cùm gông.
Chúng bắt gọi ta về
Người biết đâu mà gọi?
Chúng nó liền đốt nhà
Rồi đòn roi tra hỏi
Người chết đi sốmg lại
Nhưng chẳng hề hé răng
Quân dã man đem giết
Rồi vứt xác xuống sông!
Ta đã di khắp nơi
Chỉ thấy sông cau mặt
Ta đắp mộ giả này
Nhớ thù sâu quân giặc!

Trịnh Khả xé toạc áo
Phơi ra tấm lưng trần
Những làn roi giặc quất
Chưa kịp lên da non.
Nhữ Lãm ôm lấy bạn
Nước mắt chảy vòng quanh
Cái mùi mồ hôi quen
Cứ nồng nồng ấm ấm

- Thế là ta thêm bạn
Như là cá thêm vây
Thắp nén hương bên mộ
Cho nghĩa kết càng dày!

Đêm ấy bên sông Chu
Ba người trong lều cỏ
Nướng khoai giun mà ăn
Bốn bề hiu hắt gió.

Chuyện nước non thời thế
Gan bầm lòng quặn đau
Khắp nơi đồn luỹ giặc
Như đai thít ngang đầu
Nhà giặc đốt thành tro
Cây trong vườn chúng đẵn
Cướp cả chum khoai ngô
Dồn bắt bò bắt lợn...
Chúng ốp dân xuống biển
Lặn lội mò ngọc trai
Lên rừng tìm chim trả
Kiếm xương hổ ngà voi.
Bao nhiêu cảnh thảm thương
Nói làm sao cho hết
Người chết vì thuồng luồng
Người thì cá mập nuốt
Kẻ luống cuống hổ vồ
Kẻ liều thân voi quật...
Ngày đinh tai trống thúc
Huyên náo lệnh bắt người
Sách cũng thu cũng khám
Đem về Tàu đốt đi!
Cấm dân nhuộm răng đen
Cấm để tóc búi tó
Áo bắt mặc như Ngô
Chữ Nôm có lệnh bỏ!
Tượng chùa bị búa đập
Đình chúng phá tan hoang
Chỉ một con nghê đá
Chúng cũng ghè cho tan
Kèo có chạm thân rồng
Xà có hình cánh phượng
Như chọc vào con ngươi
Lôi cổ ngay chúng xuống!
Chúng mày là nô lệ
Hãy cuốc bẫm cày sâu
Biết hằng năm cống nạp
Lễ vật dâng thiên triều
Lệ: Bao nhiêu bạc vàng
Bao nhiêu con gái đẹp
Bao thợ mộc, thợ nề
Bao nhung hươu da cọp...
Nhữ Lãm kể cho bạn
Về xóm chài khổ nghèo
Manh lưới rách chẳng vá
Bãi đìu hiu vắng teo.
Quân giặc đến đòi lương
Dân nghèo lấy chi nộp?
Chúng nó lôi hết thuyền
Phun dầu châm lửa đốt.
Mẹ nhảy xuống sông chết
Em gái giặc lôi đi
Gia đình tan nát hết
Tiếng kêu khóc như ri.

Lê Khảm giọng xót xa
Nhắc những ngày đi ở
Tên quan Minh bạo tàn
Coi như trâu như ngựa
Ngủ cạnh chuồng nhốt chó
Nuốt nghẹn miếng cơm thừa
Không thể nào chịu nữa
Giấu gươm vượt tường đi!

Ba người mắt long lanh
Tay bứt tóc đấm ngực
-Phải đuổi hết quân Minh!
Thà chết không chịu nhục!

Lửa vẫn cháy âm ỉ
Bao câu hỏi nóng ran
Ôi, nước mất nhà tan
Làm sao mà lấy lại?

Ba người bàn bạc mãi
Tìm đường về Lam Sơn
Nghe nói ông Lê Lợi
Đang tuyển tướng mộ quân


Nguồn: Guơm thề Lũng Nhai, NXB Kim Đồng, 1982