Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Thơ tự do
Thời kỳ: Hiện đại

Đăng bởi tôn tiền tử vào 19/09/2014 06:46

Nghĩa quân về Lam Sơn
Quê vừa qua trận bão
Vườn tược bị xéo tan
Đường thôn bầm vũng máu

Lê lợi lặng im lòng quặn lại
Nhìn nấm mồ vợ cạnh mồ con
Một cơn gió, tàn tro bay xơ xác
Người nghiến răng mà lệ chảy tràn

Đứng sau Vương là quân sư Nguyễn Trãi
Đôi má hõm sâu, mắt long lanh
Trịnh Khả thấy lòng đau như xát muối
Lê Khảm nghe gan ruột bồn chồn.

Lê Văn Linh chợt già đi mười tuổi
Nghe núi sông đau nhức duới chân
Nỗi căm giận trào lên tức ngực
Niềm uất ức xót tận trong hồn.

Bình Định Vương ngẩng lên giây lát
Ôi bao người đã sống chết cùng ta!
Bao năm tháng nằm gai nếm mật
Đâu quản gì gió táp mưa sa,
- "Hỡi tướng sĩ (giọng Người sang sảng
Nỗi đau buồn tan theo khói theo mây)
Ta đã nuôi chí bền theo năm tháng
Quyết vung gươm giành lại nước non này.

Các tướng cùng ta xông pha tên đạn
Khi đói nhường nhau một mẩu khoai khô
Khát cháy cổ chia nhau từng ngụm nước
Chỉ đồng tâm quyết lấy lại cơ đồ.

Ta là kẻ tài hèn sức mọn
Gió lay cây chưa thành bão chuyển rừng
Giặc den kín như ruồi bâu bốn phía
Ta lo mình không mảnh đất dung thân.

Xin chư tướng thương ta chí cạn
Nên đành xin hoà hoãn với quân Minh
Rồi muối mặt nhận một danh quan nhỏ
Tránh cho dân nước cảnh đao binh!"

Giây phút ấy mọi người nín thở
Ngực phập phồng bóp thắt trái tim đau
Trịnh Khả cố nén cơn giận dữ
Mà nghe lửa đỏ bóc trên đầu:
- Mời ông ra làm quan với giặc
Sống kiếp chim lồng cá chậu cho xong!
Tôi dù phải trăm lần xương thịt nát
Cũng không nhụt chí đổi thay lòng!

Lê Khảm mắt long lên xòng xọc:
- Ông quên lời thề đêm họi Lũng Nhai!
Chỉ có máu mới trả đền máu dược
Ai phản trắc xin hỏi lưỡi gươm này!

Nhữ Lãm thét: - Tôi đã thề sống chết
Dù phải trăm lần da ngựa bọc thây
Ông nản chí đi ngay cho rảnh mắt
Đừng để tôi xỉa mũi đinh ba này!

Lê Lợi bỗng cười to sảng khoái
- Ta thử lòng các tướng đấy thôi!
Dù châu báu giặc Minh cao như núi
Thân này đâu chịu làm kiếp tôi đòi!

Ba tướng vội quỳ xin tha tội
Chủ soái ân cần đến dỡ lên.
- Ta mừng quá nên lòng bối rối
Vàng mười cho ta chẳng quí bằng!
Lúc gian khó phải muôn người một dạ
Xin quân sư và các tướng luận bàn.
Người thì xin Vương cho quân phát rẫy
Trồng khoai gieo lúa lấy lương ăn.
Người vạch kế đào hào đắp luỹ
Dọc Hào Lương, Dao Xá đến Yên Trường
Nên mở thêm lò rèn làm vũ khí
Ở các làng bí mật lập kho lương.

Trịnh Đồ xin băng rừng lặn lội
Sang đất Lào nhờ dân bạn giúp quân
Một miếng khi no, một kho khi đói
Các tướng nghe hể hả vui mừng.

Theo Nguyễn Trãi: Đất Lam Sơn bốn mặt
Bọn giặc Minh đã khép vòng vây
Quân ta nên ngược dòng sông Mã
Giữ châu Quan Hoá, đánh lâu dài...

Lê Lợi bồi hồi nhìn các tướng
Bốn phương hào kiệt dạ đồng tâm
Vung kiếm, Vương truyền quân lệnh xuống
Lo lương, đóng ngựa kịp lên đường

Núi lại đón đoàn quân khởi nghĩa
Rừng cho tranh tre dựng trại, nhà
Nơi quân đóng khoai lên xanh bốn phía
Lúa lốc chín vàng dải suối xa

Trăm họ biết tin mừng kéo đến
Người xin bái yết mấy đường gươm
Người đến dâng một dôi ngựa chiến
Người xin khoe miếng võ gia truyền.

Có cả ông lang mù hai mắt
Xin đi theo săn sóc ba quân
Ngày đi hái lá về sao thuốc
Mũi ngửi tinh thay được mắt nhìn.

Dân biển nâng lên bồ muối mặn
Miền rừng đem góp dậu khoai đao
Thợ rèn, người mang về lá chắn
Người thì nộp kiếm, kẻ dâng đao
Nguyễn Trãi ngồi lều tranh thảo hịch
Đuốc nhựa thông sáng rực đêm dài
Văn nghìn điệu tiếng cầm, tiếng sắt
Lúc hào hùng, khi thống thiết, bi ai

Hịch bay đến làng Chài, làng Mía
Hịch truyền lên bản Thái, bản Mường
Hịch giục người đi cầm giáo mác
Hịch khuyên người thu góp quân lương.

Nghe lời hịch, cả non sông tỉnh thức
Khắp hang cùng ngõ hẻm nôn nao
Tội giặc ác lá rừng không chép hết
Giận mười năm quyết một trận đương đầu!

Sắp than góp chặt lò rèn các chợ
Lửa thép xanh loè giữa đêm đen
Không đủ kiếm, tre lồ ô vạt nhọn
Mo khoai, chân đất cũng lên đường.

Người già không mấy đêm ngủ được
Ra ngắm trời, một phía đã quang mây
Chí chưa cạn mà sức thì đã kiệt
Nằm tiếc ngẩn ngơ vận hội này.

Con gái cũng tập đao, tập kiếm
Ngày vào làng thu gạo góp lương
Trẻ trâu cũng hò nhau đánh trận
Cờ lau, gươm gỗ thét vang vang...
Có cậu trốn nhà theo anh giết giặc
- Đất nước Nam là của người Nam!
- Phải quét sạch quân Minh xâm lược!
Bao nhiêu đồn luỹ đạp cho tan
Cuối chợ cùng quê người đi dằng dặc
Nườm nượp quân lên chật đất chật đường
Bờ suối chân đèo rầm rập bước
Mắt căm hờn nhìn xoáy phía Đông Quan

Người Việt vác đại đao mã tấu
Bên người Mường tay kiếm tay cung
Một trận xông pha đòi nợ máu:
- Giết giặc Minh!
- Giết hết lũ ngông cuồng!


Thăng Long, Quý Hợi 1983
Nguồn: Guơm thề Lũng Nhai, NXB Kim Đồng, 1982