Lẳng lặng mà nghe,
Tôi nói cái vè,
Vè các thứ bánh.
Mấy tay phong tình huê nguyệt,
Thì sẵn có bánh trung thu.
Mấy ông thầy tu,
Bánh sen thơm ngát.
Ai mà hảo ngọt,
Thì có bánh cam.
Những kẻ nhát gan,
Này là bánh tét.
Còn như bánh ếch,
Để mấy ông câu.
Hủ lậu từ lâu,
Thì ưa bánh tổ.
Mấy tay hảo võ,
Bánh thuẫn sẵn sàng.
Các thứ bánh bàn,
Kính như chấp bút.
Ai năng thống phúc,
Nên đụng bánh gừng.
Còn bánh ếch trần,
Cu li chia lấy.
Kẻ nào trồng rẫy,
Thì sẵn bánh khoai.
Mấy gã uống say,
Bánh men rất quý.
Này bánh bao chỉ,
Để các thợ may.
Má phấn bông tai,
Thì ưa bánh dứa.
Những người thổi lửa,
Thì có bánh phồng.
Bánh kẹp bánh còng,
Để cho đạo tặc.
Còn bánh quai vạc,
Đạo chích muốn ăn.
Ai thích thoát giang,
Thì ăn bánh lọt.
Trôi nước rất ngọt,
Để các thuyền chài.
Dầm mưa hoài hoài,
Thì ăn bánh ướt.
Bất toại vô chước,
Thì ăn bánh bò.
Những kẻ hay lo,
Ăn bánh tai yến.
Ai ham trồng kiểng,
Có bánh bông lan.
Còn như bánh tráng,
Để hạng trai tơ.
Mấy ả giang hồ,
Bánh bèo sẵn đó.
Ai mà mặt rỗ,
Thì bánh chôm chôm.
Tay xách nách ôm,
Bánh bao khá ních.
Mấy tay hàng thịt,
Da lợn để dành.
Còn trã bánh canh,
Để ba chú lính.
Chủ nhân Lục tỉnh,
Thì có bánh in.
Đầu bếp mấy tên,
Phải ăn bánh rế.
Này là bánh nghệ,
Cho chị nằm nơi.
Kẻ dệt lụa tơ,
Bánh tằm sẵn để.
Còn như bánh quế,
Mấy đấng y sanh.
Tọc mạch rành rành,
Thì ăn bánh hỏi.
Hễ là thầy bói,
Thì ăn bánh quy.
Mấy ổ bánh mì,
Cho nhà nho nhã.
Quảng Đông mấy gã,
Ăn bánh cà na.
Béo thịt thẳng da,
Thì ăn bánh ú.
Rộng đường mấy chú,
Như để sẵn đây.
Phật giáo mấy thầy,
Xin ăn bánh cúng.
Phận tôi lúng túng,
Trái đất tôi giành.
Ai có lanh chanh,
Tôi cho bánh khẹt.


Nguồn: Đặng Anh Tú, Đồng dao Việt Nam, NXB Văn hoá thông tin, 2009