Nhâm Dần tuế đán

Ngũ tuế bão chiêm biên địa cảnh,
Kinh niên hỉ cận quốc thành xuân.
Nhị Hà yên thuỷ dao tình thụ,
Cấm ngự hương phong động nhuyến trần.
Cửu bệ miện lưu nguyên bất viễn,
Nhất viên hoa trúc hựu tương thân.
Chỉ tàm nhiếp lý hào vô bổ,
Diệc xỉ thiên gia pháp tụng thần.

 

Dịch nghĩa

Năm năm qua đã chán cảnh ở biên thuỳ,
Năm nay mừng được trông thấy mùa xuân ở kinh thành.
Trên mặt sông Nhị, nước bốc hơi long lanh bóng cây,
Làn gió cung vua, gió đưa hương rung động lớp bụi.
Áo xiêm chín bệ không phải đâu xa,
Hoa trúc một vườn trông rất thân mật,
Chỉ thẹn mình không bổ ích gì cho quốc chính,
Mà cũng được kể là chức tụng thần của nhà vua.


Nhâm Dần tức năm 1782.

Nguồn: Danh nhân văn hoá Bùi Huy Bích (1744-1818), Trung tâm UNESCO thông tin tư liệu lịch sử và văn hoá Việt Nam, 1998

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (3 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Bùi Hạnh Cẩn

Năm tết ở lâu cùng quốc giới
Năm giờ mừng thấy đế thành xuân
Nhị Hà khối nước lay cây lạnh
Cung cấm làn thơm động bụi trần
Chín bệ mũ cờ không cách mấy
Một vườn hoa trúc lại thêm thân
Thẹn điều quyền biến không thành thạo
Mà cũng xênh xang bậc đại thần

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của (Không rõ)

Biên canh năm năm chán mấy phần,
Kinh thành nay được gặp trời xuân.
Nhị Hà nước gợn rung cây bóng,
Đền ngự hương đưa động bụi trần.
Chín bệ cân đai đà chẳng cách,
Một vườn hoa trúc lại thường gần.
Thẹn không bổ ích cho dân nước,
Cũng dự vào trong bậc trọng thần.

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Biên thuỳ chán cảnh, năm năm qua,
Kinh khuyết năm nay xuân nở hoa.
Sông Nhị long lanh hơi nước bốc,
Đưa hương rung bụi gió cung vua.
Áo xiêm chín bệ không xa mấy,
Hoa trúc một vườn ngắm rất thân.
Mình thẹn không tài phò quốc chính,
Mà rồi vênh váo đại công thần.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời