Dưới đây là các bài dịch của Phạm Công Đạt. Tuy nhiên, Thi Viện hiện chưa có thông tin tiểu sử về dịch giả này. Nếu bạn có thông tin, xin cung cấp với chúng tôi tại đây.

 

Trang trong tổng số 3 trang (25 bài trả lời)
[1] [2] [3] ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Tam hà đạo trung (Vương Xu): Bản dịch của Phạm Công Đạt

Mười năm trở về nhìn núi cũ
Phong cảnh như xưa mây vẫn nhàn
Không cần đọc lại "Nguyên Thông kệ"
Mới tin nhân gian là mộng sàng


Nguồn: Văn học sử Trung Quốc (tập 2), NXB Phụ nữ, 2000
Ảnh đại diện

Hồ Châu ca kỳ 10 (Uông Nguyên Lượng): Bản dịch của Phạm Công Đạt

Thái Hồ gió thổi sóng dâng cao
Bánh lái lảo đảo ngồi yên sao
Tựa cửa sổ thuyền mắt ngó xuống
Phía trước phía sau toàn cung đao


Nguồn: Văn học sử Trung Quốc, NXB Phụ nữ, 2000
Ảnh đại diện

Hồ Châu ca kỳ 04 (Uông Nguyên Lượng): Bản dịch của Phạm Công Đạt

Thiên ân tạ xong ra nội môn
Tướng quân nạt đường trước xe vua
Cờ trắng búa vàng đứng hai hàng
Một chấm đỏ tươi giống ấu quân


Nguồn: Văn học sử Trung Quốc (tập 2), NXB Phụ nữ, 2000
Ảnh đại diện

Thượng Lưu Điền hành (Thi Nhuận Chương): Bản dịch của Phạm Công Đạt

Trong xóm có trẻ khóc
Tiếng tiếng gọi mẹ hiền
Mẹ chết máu ướt áo
Vẫn ngậm vú mẹ hiền


Nguồn: Văn học sử Trung Quốc, NXB Phụ nữ, 2000
Ảnh đại diện

Tức mục (Vương Sĩ Trinh): Bản dịch của Phạm Công Đạt

Buồn bã mưa thu chiều
Sở giang mênh mông tối
Bỗng có chiếc thuyền qua
Lờ mờ ngoài mây nước


Nguồn: Văn học sử Trung Quốc, NXB Phụ nữ, 2000.
Ảnh đại diện

Thập nhất nguyệt thập tứ dạ phát Nam Xương nguyệt giang chu hành (Trần Tam Lập): Bản dịch của Phạm Công Đạt

Hơi sương như vi trùng
Thế sóng tựa trâu nằm
Trăng sáng như kén trắng
Quấn thuyền ta trên sông


Nguồn: Văn học sử Trung Quốc, NXB Phụ nữ, 2000
Ảnh đại diện

Tự Tương Đông dịch tuân lục chí Lư Khê (Tra Thận Hành): Bản dịch của Phạm Công Đạt

Bến đò Hoàng Hoa nối Lư Khê
Qua khỏi Bình Hương đường thấp dần
Làng xóm gần xa tiếng gà chó
Ngỗng vịt mới nở hai bên bờ
Mưa bụi như tơ hơi ướt áo
Gió xuân thổi nhẹ mạ lên đều
Phong thổ cũng giống Hồ Nam đấy
Cuối xuân chốn chốn thảy lo cày


Nguồn: Văn học sử Trung Quốc, NXB Phụ nữ, 2000
Ảnh đại diện

Ký Hoài Tân My (Vương Khải Vận): Bản dịch của Phạm Công Đạt

Núi vắng hơi sương đậm
Trăng lặn nghìn dặm mờ
Người ấy chưa quy ẩn
Tương tư chung một lòng
Một đêm ngô đồng lão
Nghe đàn ngài trên sông


Nguồn: Văn học sử Trung Quốc, NXB Phụ nữ, 2000.
Ảnh đại diện

Âm Sơn (Gia Luật Sở Tài): Bản dịch của Phạm Công Đạt

Âm Sơn tháng tám tuyết nơi nơi
Ánh sáng trong ngần mắt chói ngời
Vách đá chọc trời trăng toả chiếu
Núi đồi chồng chất đượm ráng chiều
Lưa thưa tùng cối thấy nương ruộng
Rậm rạp song mây vẫn có nhà
Nằm ngang nghìn dặm vùng Tây Vực
Danh sơn tả ngạn kém hơn xa


Nguồn: Văn học sử Trung Quốc, NXB Phụ nữ, 2000.
Ảnh đại diện

Tự đề tượng (Cố Anh): Bản dịch của Phạm Công Đạt

Áo nho hài đạo mũ tăng nhân
Xương này chôn được khắp non xanh
Nếu bảo hào hiệp thuở nào đó
Ngũ Lăng yên ngựa Lạc Dương thành


Nguồn: Văn học sử Trung Quốc, NXB Phụ nữ, 2000.

Trang trong tổng số 3 trang (25 bài trả lời)
[1] [2] [3] ›Trang sau »Trang cuối