Trang trong tổng số 12 trang (114 bài trả lời)
[1] [2] [3] [4] ... ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Mùa hạ đi đâu (Hữu Thỉnh): Phân tích bài thơ “Mùa hạ đi đâu” của nhà thơ Hữu Thỉnh

Nhà thơ Hữu Thỉnh vốn nổi tiếng với những vần thơ viết về làng quê Việt Nam vô cùng mộc mạc, tinh tế và thấm đẫm tình người. Bên cạnh những bài thơ nổi tiếng như Sang thu, ông còn có những thi phẩm viết cho thiếu nhi mang đậm màu sắc cổ tích đời thường. Mùa hạ đi đâu là một trong những bài thơ như thế. Tác phẩm không chỉ vẽ nên một bức tranh giao mùa sinh động qua lăng kính trẻ thơ mà còn ngợi ca tình bà cháu ấm áp, thiêng liêng, làm lay động trái tim mọi độc giả.

Bài thơ mở đầu bằng một câu hỏi tu từ đầy hồn nhiên của người cháu:

Bà ơi mùa hạ đi đâu?
Chùm vải trọc đầu trốn biệt trên cây
Tiếng sấm trốn lẩn vào mây
Quạt nan nằm nhớ bàn tay của bà
Cháu nhận ra sự thay đổi của đất trời khi những dấu hiệu quen thuộc của mùa hạ đã không còn. Bằng biện pháp nhân hoá vô cùng đặc sắc, nhà thơ đã thổi hồn vào vạn vật. Quả vải mùa hè giờ đã hết mùa, chỉ còn trơ lại những cành cây khẳng khiu được miêu tả bằng hình ảnh “trọc đầu trốn biệt”. Tiếng sấm giòn giã của những cơn mưa rào rực rỡ cũng “trốn lẩn vào mây”. Đặc biệt, hình ảnh “Quạt nan nằm nhớ bàn tay của bà” gợi lên một nỗi niềm đầy xao xuyến. Chiếc quạt nan - vật dụng xua đi cái nóng mùa hè giờ đây được cất đi, nó như một sinh thể biết buồn, biết nhớ hơi ấm từ bàn tay tần tảo của người bà.

Mùa hạ đi qua để lại không gian cho mùa đông lạnh giá ngự trị. Khổ thơ thứ hai là những nét vẽ tuyệt đẹp về bức tranh làng quê lúc nông nhàn:
Sông gầy, đê doãi chân ra
Mặt trời ngủ sớm, tiếng gà dậy trưa
Khoai sọ mọc chiếc răng thưa
Cóc ngồi cóc nhớ cơn mưa trắng chiều
Hữu Thỉnh đã thể hiện tài năng quan sát vô cùng tinh tế. Mùa đông hanh khô khiến nước sông cạn đi, dòng sông như “gầy” lại, nhường chỗ cho bãi bồi, khiến triền đê như đang “doãi chân ra” thư thái. Những quy luật tự nhiên cũng được thi vị hoá: ngày mùa đông ngắn lại nên “mặt trời ngủ sớm”, buổi sáng giá rét nên “tiếng gà dậy trưa”. Ngay cả củ khoai sọ nảy mầm cũng được ví von như “mọc chiếc răng thưa” đầy ngộ nghĩnh. Hình ảnh chú cóc ngồi thu lu nhớ “cơn mưa trắng chiều” vừa gợi cái khô hanh của mùa đông, vừa thể hiện sự tiếc nuối những cơn mưa rào mùa hạ. Cảnh vật tĩnh lặng, có chút co ro nhưng lại mang một vẻ đẹp bình dị, thân thương của làng quê Bắc Bộ.

Cái lạnh của mùa đông không chỉ hiện hữu ở cảnh vật mà còn ngấm vào da thịt của con người:
Nghe bà, cháu mặc đã nhiều
Mà sao cái rét vẫn theo vào nhà
Cháu sà vào lòng của bà
Đôi tai đã buốt, tay xoa ấm dần
Dù người cháu ngoan ngoãn nghe lời bà mặc nhiều áo ấm, nhưng “cái rét vẫn theo vào nhà”. Động từ “theo” biến cái lạnh như một thực thể hữu hình, len lỏi qua từng lớp áo. Trong khoảnh khắc rét buốt ấy, hành động”sà vào lòng của bà” diễn ra thật tự nhiên như một bản năng tìm kiếm sự che chở. Lòng bà chính là tổ ấm, là bến đỗ an toàn nhất của tuổi thơ. Đôi tay nhăn nheo, thô ráp của bà ân cần xoa lên đôi tai đã buốt lạnh của cháu, truyền sang cho cháu một hơi ấm diệu kỳ.

Nhờ có sự vỗ về, ấp ủ của bà, cái lạnh giá dường như bị đẩy lùi:
Cái lạnh chạy khỏi đôi chân
Hàm răng thôi khỏi va nhầm vào nhau
Bà ơi cháu đã thấy rồi:
Mùa hạ vào ở trong đôi tay bà.
Biện pháp nhân hoá tiếp tục được sử dụng hiệu quả: “cái lạnh chạy khỏi đôi chân”. Từ sự thay đổi về mặt thể chất (răng không còn đập vào nhau vì rét), người cháu đã đi đến một nhận thức, một sự “giác ngộ” mang đậm tính triết lý và dạt dào cảm xúc: “Mùa hạ vào ở trong đôi tay bà”.

Đây là hình ảnh ẩn dụ tuyệt đẹp và là nhãn tự của toàn bộ tác phẩm. Mùa hạ trong tự nhiên đã đi qua, nhưng “mùa hạ” của tình yêu thương thì vẫn luôn ở lại. Đôi bàn tay của bà không chỉ toả ra hơi ấm vật lý để xua đi giá rét mùa đông, mà đó còn là hơi ấm của tình mẫu tử, của sự hy sinh, tần tảo và lòng yêu thương vô bờ bến mà bà dành cho cháu. Nhờ có đôi bàn tay ấy, tuổi thơ của cháu luôn được sưởi ấm, luôn có một “mùa hạ” ngự trị giữa những ngày đông tháng giá.

Để làm nên thành công của bài thơ, không thể không nhắc đến những nét đặc sắc về nghệ thuật. Bài thơ theo thể thơ lục bát mang nhịp điệu nhịp nhàng, êm ái như một lời ru, một câu chuyện cổ tích bà kể cháu nghe, rất phù hợp với việc diễn tả tình cảm gia đình. Những hình ảnh mộc mạc, gần gũi như chùm vải, quạt nan, con cóc, củ khoai sọ... đưa người đọc trở về với không gian đồng quê Bắc Bộ thân thuộc. Biện pháp nhân hoá và ẩn dụ được sử dụng tự nhiên, không gượng ép, giúp cảnh vật trở nên có linh hồn và bộc lộ được chiều sâu cảm xúc của nhân vật trữ tình.

Mùa hạ đi đâu của Hữu Thỉnh là một bài thơ tuy ngắn gọn nhưng lại có sức lay động mãnh liệt. Từ sự quan sát tinh tế về sự luân chuyển của đất trời, nhà thơ đã khéo léo dẫn dắt người đọc đến một chân lý giản dị mà sâu sắc về tình cảm gia đình. Mùa hạ của thiên nhiên có thể đến rồi đi theo chu kỳ, nhưng mùa hạ trong đôi bàn tay của người bà - mùa hạ của tình thương yêu che chở - sẽ còn mãi trong trái tim và kí ức tuổi thơ của mỗi người. Bài thơ nhắc nhở chúng ta hãy luôn trân trọng những phút giây ấm áp bên gia đình và những người thân yêu.


Ảnh đại diện

Nhớ cơn mưa quê hương (Lê Anh Xuân): Hệ thống thi tượng và tư tưởng thẩm mỹ trong bài thơ “Nhớ cơn mưa quê hương” của Lê Anh Xuân

Để có một cái nhìn thấu đáo về tác phẩm Nhớ cơn mưa quê hương, trước hết cần phải đặt bài thơ vào đúng hệ toạ độ thời gian và không gian mà nó được sinh ra. Lê Anh Xuân, tên khai sinh là Ca Lê Hiến, sinh ngày 05 tháng 06 năm 1940 tại xã An Hội, tỉnh Bến Tre. Ông chào đời vào đúng những ngày Nam Kỳ khởi nghĩa đang sục sôi, trên một vùng đất giàu truyền thống cách mạng và văn hoá. Xuất thân từ một gia đình trí thức yêu nước, là con trai của nhà giáo dục, nhà nghiên cứu văn học lỗi lạc - Giáo sư Ca Văn Thỉnh, Lê Anh Xuân đã được tắm mình trong một bầu khí quyển văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc ngay từ thuở nhỏ. Hoàn cảnh sáng tác của bài thơ Nhớ cơn mưa quê hương gắn liền với một bước ngoặt lịch sử của dân tộc và cuộc đời tác giả. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, Lê Anh Xuân theo cha tập kết ra miền Bắc. Khi viết tác phẩm này vào năm 1959, nhà thơ mới tròn 19 tuổi và đang sống trong nỗi nhớ đau đáu về quê nội Bến Tre - nơi ông đã gắn bó suốt những năm tháng kháng chiến chống Pháp ở miền Tây Nam Bộ. Bài thơ không chỉ đơn thuần là tiếng lòng của một cá nhân mà còn đại diện cho tiếng lòng của cả một thế hệ học sinh miền Nam tập kết, luôn hướng về nửa kia của đất nước với niềm tin sắt đá vào ngày thống nhất.

Bài thơ mở đầu bằng một tiếng gọi trực diện, thiết tha: “Quê nội ơi”. Lời gọi này không chỉ là sự xác định đối tượng mà còn là một tiếng nấc nghẹn của nỗi nhớ sau “mấy năm trời xa cách”. Trong không gian tĩnh lặng của đêm đêm, khi “ta nằm nghe mưa rơi”, âm thanh của thực tại bỗng trở thành chiếc chìa khoá mở ra cánh cửa của quá khứ. Tiếng “trời gầm xa lắc” ở hiện tại đối lập với sự im lặng của tâm hồn người xa xứ, để rồi từ đó, một câu hỏi tu từ vang lên đầy trăn trở: “Cớ sao lòng thấy nhớ thương”. Đây là một sự vận động cảm xúc tự nhiên: từ âm thanh vật lý dẫn đến rung động tâm linh. Lê Anh Xuân không miêu tả cơn mưa như một hiện tượng thiên nhiên khách quan mà cá nhân hoá nó thành một sinh thể có khả năng “ru hát hồn ta thuở bé” và “thấm nặng lòng ta những tình yêu chớm hé”. “Thấm nặng” ở đây không chỉ là sự ướt át của nước mưa mà là sự khắc ghi, sự định hình nhân cách và tình cảm trong lòng đứa trẻ quê hương.

Đi sâu vào cấu trúc hình ảnh, nhà thơ đã khéo léo chọn lọc những chi tiết mang đậm dấu ấn phong thổ Nam Bộ. Tiếng mưa không rơi chung chung mà rơi “trên tàu chuối, bẹ dừa”. Đây là những âm thanh mộc mạc, giòn tan nhưng cũng rất dịu dàng, vẽ nên một không gian xanh mướt và trù phú của làng quê miền Tây. Nghệ thuật chuyển đổi cảm giác được Lê Anh Xuân sử dụng một cách điêu luyện khi ông viết về tiếng mưa “ấm” và “trong”. Thông thường, mưa gợi cảm giác lạnh lẽo, nhưng trong tâm tưởng người xa quê, đó là tiếng “ấm” của tình thân, của sự bao bọc, và là tiếng “trong” của một tâm hồn chưa vướng bụi trần chiến tranh. Sự đối lập giữa “tiếng sấm” dữ dội và tiếng mưa “ấm trong” cho thấy khả năng bao quát không gian và cảm xúc của tác giả, từ cái hùng vĩ của thiên nhiên đến cái vi tế của tâm hồn trẻ thơ.

Ký ức tuổi thơ hiện lên qua một loạt các động từ mạnh: “dầm mưa”, “tắm”, “lội tung tăng”, “lặn xuống”. Đây là những hình ảnh biểu tượng cho sự tự do, sự hoà quyện tuyệt đối giữa con người và thiên nhiên rực rỡ phù sa. Cơn mưa quê hương không chỉ là nước, nó là một thánh đường của kỷ niệm, nơi mỗi “vết chân thơ ấu buổi đầu tiên” đều được thiên nhiên nâng niu, che chở. Việc tác giả liệt kê những trò chơi dân dã như “tàu chuối bẹ dừa”, “mảnh chòi nhỏ bé”, “mo cau làm thuyền” không chỉ đơn thuần là kể lại quá khứ. Những vật dụng tầm thường ấy, qua lăng kính của tình yêu quê hương, đã trở thành những bảo vật của tâm hồn. Cơn mưa “cuốn đi” những chiếc thuyền mo cau, chảy xuống dòng sông quê nội, và từ đó “sóng nước quê hương dào dạt chảy về khơi”. Hình ảnh này mang tính ẩn dụ sâu sắc: những kỷ niệm nhỏ bé của cá nhân đã hoà vào dòng chảy chung của quê hương, đất nước, chuẩn bị cho một sự vươn mình lớn lao hơn trong tương lai.

Một trong những điểm sáng nhất của bài thơ Nhớ cơn mưa quê hương chính là sự dịch chuyển mang tính triết lý từ nỗi nhớ cá nhân sang tình yêu Tổ quốc rộng lớn. Lê Anh Xuân đã viết:

Và ta lớn tình yêu hoà bể rộng
Cơn mưa nhỏ của quê hương ta đã sống
Nay vỗ lòng ta rung động cả trăm sông,
Sự chuyển biến này không khiên cưỡng mà diễn ra theo một quy luật tất yếu của tâm hồn. “Cơn mưa nhỏ” là biểu tượng của kỷ niệm ấu thơ, của gia đình và làng xóm hữu hình. “Bể rộng” và “trăm sông” là biểu tượng của đất nước, của dân tộc và của cuộc kháng chiến vĩ đại đang vẫy gọi. Tình yêu quê hương của Lê Anh Xuân còn được định nghĩa bằng một điệu thức nồng nàn qua điệp từ “yêu”: yêu mưa, yêu tre dừa, yêu làng xóm và đặc biệt là yêu “những con người - biết mấy yêu thương”.

Khi cơn mưa chuyển sang trạng thái “phong ba dữ dội”, “đổ ào như thác dồn trăm lối”, bài thơ đã bước sang một cung bậc khác: cung bậc của sử thi. Lê Anh Xuân đã thực hiện một liên tưởng kỳ diệu: “Trang sử nhỏ nhà trường bỗng hoá mưa giông”. Ở đây, kiến thức lịch sử không còn nằm im trên trang giấy mà đã sống dậy, hoà cùng nhịp đập của thời đại. Âm thanh của mưa lúc này được nhân hoá và nâng tầm:
Nghe như tiếng của Cha Ông dựng nước,
Truyền con cháu phải ngẩng cao mà bước
Đây là lúc cơn mưa quê hương trở thành biểu tượng cho sức mạnh quật khởi, cho truyền thống chống ngoại xâm bền bỉ của dân tộc Việt Nam. Lời của “cây cỏ gió mưa” chính là lời của đất nước đang “hát tiếp bài ca bất khuất ngàn xưa”. Qua đó, tác giả khẳng định rằng tình yêu quê hương không thể tách rời với lý tưởng đấu tranh giải phóng dân tộc.

Sau những đoạn thơ đầy khí thế sử thi, bài thơ trở lại với nhịp điệu êm ả, tươi mát của một làng quê Nam Bộ đang hồi sinh sau mưa. Hình ảnh “Mưa tạnh rồi, như mùa xuân nhẹ trổi” mang lại một cảm giác lạc quan, dự báo về một tương lai hoà bình và tươi sáng.

Một chi tiết nghệ thuật vô cùng đắt giá là sự xuất hiện của “nhịp chày ba rộn rã”. Trong văn hoá Nam Bộ, tiếng chày giã gạo không chỉ là âm thanh của lao động sản xuất mà còn là biểu tượng của sự sum vầy, của tinh thần đoàn kết quân dân. Lê Anh Xuân đã cảm nhận âm thanh này bằng một tâm hồn vô cùng tinh tế: “Làm hạt mưa trên cành lá rung rinh”. Sự cộng hưởng giữa âm thanh nhân tạo (tiếng chày) và hình ảnh thiên nhiên (hạt mưa rung rinh) tạo nên một bức tranh sống động, tràn đầy sức sống. Khác với những cơn mưa buồn trong thơ cổ điển, mưa trong thơ Lê Anh Xuân luôn kết thúc bằng ánh sáng, bằng âm thanh của sự sống và niềm hy vọng.

Con người quê hương hiện lên qua những hình ảnh rất đỗi bình dị nhưng chứa đựng sức quyến rũ kỳ lạ:
Mấy cô gái bên kia sông giặt áo
Tay rẩy nước. Bỗng mưa rào nho nhỏ
Cánh tay cô hay cánh gió nhẹ đưa
Những câu thơ này cho thấy một cái nhìn hào hoa, lãng mạn của nhà thơ trẻ. Vẻ đẹp của người phụ nữ Nam Bộ hoà quyện vào vẻ đẹp của thiên nhiên, tạo nên một sự hài hoà tuyệt đối. Hình ảnh “Rễ dừa nâu, muờn mượt gân tơ” và “đất lên màu tươi mởn” là những quan sát sắc sảo của một người con am hiểu và yêu tha thiết mảnh đất quê mình. Lê Anh Xuân đã định nghĩa tình yêu quê hương không phải bằng những khái niệm trừu tượng mà bằng những gam màu, những đường nét mộc mạc nhất của đời sống.

Nhớ cơn mưa quê hương còn là một bài thơ thành công rực rỡ về mặt nghệ thuật, nơi hình thức phục vụ hoàn hảo cho nội dung cảm xúc. Bài thơ được viết theo thể tự do, không bị gò bó bởi số câu, số chữ, giúp tác giả dễ dàng diễn tả những biến chuyển phức tạp của tâm hồn. Nhịp điệu của bài thơ vận động theo dòng ký ức: lúc chậm rãi, thiết tha khi nhớ về tuổi thơ; lúc dồn dập, mạnh mẽ khi nói về lịch sử; và cuối cùng là sự lắng đọng, da diết trong nỗi khát khao trở về.

Ở phần cuối bài thơ, điệp ngữ “Ta muốn” được lặp lại ba lần liên tiếp:
Ta muốn về quê nội
Ta muốn trở lại tuổi thơ
Ta muốn nằm trên mảnh đất ông cha
Biện pháp tu từ này không chỉ tạo nên một giọng điệu dồn dập, tha thiết mà còn nhấn mạnh khát vọng cháy bỏng của nhân vật trữ tình. Đây là lời khẳng định về một sự lựa chọn mang tính định mệnh: trở về để gắn bó, để chiến đấu và để dâng hiến cho quê hương. Nỗi nhớ ban đầu là “nhớ thương” đã chuyển hoá thành cái “xót đau” của sự chia cắt, và cuối cùng kết thúc bằng âm vang của “tiếng sấm từ xa, bỗng gầm vang rộn rã” - tiếng sấm của niềm tin vào ngày chiến thắng hoàn toàn.

Nhìn nhận một cách toàn diện, Nhớ cơn mưa quê hương là một bản tuyên ngôn về tình yêu đất nước của thế hệ thanh niên thời đại chống Mỹ. Lê Anh Xuân không chỉ đóng vai trò là người kể lại kỷ niệm, ông còn là một nhà sử học (tốt nghiệp Khoa Sử, Đại học Tổng hợp Hà Nội) đang dùng thơ để ghi lại tâm thức của cả một dân tộc.

Tâm hồn người lính trong bài thơ hiện lên với vẻ đẹp nồng hậu, nhạy cảm nhưng cũng vô cùng kiên cường. Người lính ấy không chỉ nhìn mà còn “nằm nghe” mưa với một trạng thái thả lỏng tuyệt đối để cảm nhận những chấn động xa xăm của ký ức. Chính nỗi nhớ quê hương đã trở thành sức mạnh tinh thần, giúp người chiến sĩ vượt qua gian khổ, hướng về “phía ánh sáng hoà bình vĩnh cửu”. Sự hy sinh của Lê Anh Xuân vào năm 1968, tại mảnh đất Long An trong một trận càn của quân đội Mỹ, chính là sự bảo chứng cao quý nhất cho những vần thơ ông đã viết. Ông đã thực sự “về quê nội”, đã thực sự “nằm trên mảnh đất ông cha” như lời ước nguyện trong bài thơ, để lại một Dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ.

Nhớ cơn mưa quê hương không chỉ là một trong những bài thơ hay nhất của Lê Anh Xuân mà còn là một viên ngọc quý trong kho tàng thơ ca cách mạng Việt Nam. Bằng ngôn ngữ giản dị, hình ảnh giàu sức gợi và cảm xúc chân thành, tác giả đã biến một hiện tượng thiên nhiên bình thường thành một biểu tượng của lòng yêu nước vĩnh cửu. Bài thơ dạy cho chúng ta rằng, quê hương không phải là điều gì xa xôi, nó kết tinh trong tiếng mưa rơi trên mái lá, trong nhịp chày giã gạo, và trong những trò chơi con trẻ. Chính sự gắn bó với những giá trị bình dị ấy đã tạo nên sức mạnh vô song để dân tộc ta vượt qua mọi phong ba bão táp của lịch sử. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng mỗi khi đêm về nghe tiếng mưa rơi, những vần thơ của Lê Anh Xuân vẫn vang vọng trong lòng độc giả như một lời nhắc nhở về cội nguồn và trách nhiệm của mỗi người đối với mảnh đất quê hương.


Ảnh đại diện

Mùa xuân (Mikhail Lermontov): Bản dịch của Đỗ Ngọc Việt Dũng

Když na jaře led roztajeti
Plave jak řeka rozbouřená,
Když místy mezi poli
Holá země zčerná
A mlha se usazuje jako mrak
Nad polomladými poli,
Zlý sen chová smutek
V mé nezkušené duši;
Vidím, jak příroda mládne,
Ale může jen ona mládnout;
Šarlatový plamen klidných tváří
Čas si s sebou odnese,
A ten, kdo tolik trpěl,
nikdy k ní ve svém srdci lásku nenajde!


07/01/2026
Ảnh đại diện

Mùa xuân (Mikhail Lermontov): Bản dịch của Đỗ Ngọc Việt Dũng

Khi xuân về, những mảnh băng tan vỡ
Trôi lang thang trên dòng nước cuộn trào,
ở đâu đó hoang vắng giữa hư không
Đất trơ trụi chuyển dần màu đen thẫm
Sương mù giăng tựa đám mây khuất lối
Trên cánh đồng thưa thớt cuộc hồi sinh,
Ác mộng nâng niu kéo những nỗi buồn
Trong tâm hồn trai ngây thơ non dại
Ta cảm nhận thiên nhiên bừng tỉnh lại,
Như chỉ riêng nàng có thể hồi xuân;
Ngọn lửa thắm trên thanh tú má môi
Theo thời gian sẽ mang đi tất cả,
Khi ai đó từng trải qua đau khổ
Tìm được sao tình yêu trong trái tim mình!


07/01/2026
Ảnh đại diện

Mùa xuân (Mikhail Lermontov): Bản dịch của Nguyễn Xuân Hoà

Xuân về băng nứt vỡ tan từng mảng,
Lờ đờ trên dòng nước cuộn trôi,
Giữa cánh đồng đây đó một vài nơi
Trơ ra khoảng đất màu đen sẫm.

Làn sương mù sà xuống tựa tầng mây
Phủ cánh đồng trong ngày xuân mới
Mộng dữ đưa nỗi buồn ru êm ái,
Trong mảnh hồn non dại của tôi đây.

Tôi thấy thiên nhiên hồi xuân trở lại
Chỉ con người không trẻ mãi cùng xuân.
Gò má thắm hừng lên như ánh lửa,
Cũng tắt dần cuốn theo cả thời gian.

Kẻ nếm trải đã từng nhiều đau khổ
Chẳng còn tình yêu dành cho người ấy trong tim...


09/01/2026
Ảnh đại diện

Mùa xuân (Mikhail Lermontov): Bản dịch của Bùi Minh Trí

Mùa xuân về những khối băng tan vỡ
Theo dòng sông cuồn cuộn nước cuốn trôi
Giữa những cánh đồng có một số nơi
Lộ những khoảnh đất màu đen trơ trụi

Và sương mù như đám mây giăng lối
Trên những cánh đồng cây cỏ xanh non,
Giấc mơ xấu xa nuôi dưỡng nỗi buồn
Trong tâm hồn tôi vẫn còn non dại

Tôi thấy thiên nhiên như đang trẻ lại,
Nhưng trẻ lại chỉ có nàng mà thôi
Đôi má thanh tú ngọn lửa thắm tươi
Cùng với mình thời gian dẫn theo nó

Và những ai đã từng mang đau khổ
Không thấy Tình yêu cho nàng trong tim!


24/12/2025
Ảnh đại diện

“Em nói em thích mưa rơi...” (William Shakespeare): Bản dịch của Như Liên

Em nói em thích trời mưa
Ô che, nón đội khi vừa giọt rơi
Em yêu nắng ấm khung trời
Sợ hồng đôi má em thời tránh che
Em yêu gió lộng ngày hè
Sợ bay tóc rối ngồi khe cửa cài
Yêu anh chỉ một, không hai
Bâng khuâng tự hỏi… ngày mai thế nào?


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
Ảnh đại diện

Tôi từng nghĩ già đi... (Marcelle Paponneau): Bản dịch của Tâm Minh Ngô Tằng Giao

Tuổi già tôi tưởng buồn sao
Mùa qua, năm hết, sợ bao chuyện đời
Xôn xao mưa gió tơi bời,
Tinh thần sa sút, tóc thời điểm sương,
Nếp nhăn trên mặt chán chường.
Nhưng rồi thấy lúc già thường vậy thôi
Tuổi đời cứ mãi dần trôi,
Hãy ngừng rên xiết, để rồi hoan ca
Mặc cho ngày tháng dần qua
Dù cho ngắn hạn nhưng mà đẹp tươi.

Tưởng già sẽ xám màu trời
Hết hoa Xuân nó, hết cười trên môi,
Nhạc khi lễ lạc vắng rồi,
Cây khô cằn cỗi, sách thời còn chỉ
Bút hoa nét sẽ biếng ghi.
Rồi tôi chợt ngộ già thì khôn thêm
Hãy vui sống phút hiện tiền
Mặc ngày mai tới, chớ nên nghĩ nhiều
Đếm chi tuổi tác sớm chiều
Kệ thời gian lướt! Bút gieo điệu vần.

Tưởng già thay đổi tâm hồn
Nay đà héo hắt chẳng buồn ngắm sao,
Tim chai đá, hết ngọt ngào
Lòng không còn lửa khơi bao nhiệt tình
Khi màn đêm tối giăng mành.
Rồi tôi chợt thấy trên cành hoa tươi
Mùa Thu hồng nở muôn nơi
Cho tôi vui ngắm dòng đời miên man
Ướp đầy lồng ngực hương ngàn
Giữ thơm tuổi xế chiều sang Thu rồi!


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
Ảnh đại diện

Vĩnh biệt (Francis Carco): Bản dịch của Tâm Minh Ngô Tằng Giao

Đón ta, quán nhỏ ngày xưa,
Trời thu tăm tối gió mưa giăng đầy,
Em còn đâu nữa nơi đây...
Tình yêu vỗ cánh thân này xót xa.

Niềm đau nỗi nhớ bao la,
Ngày em ly biệt môi ta biếng cườI,
Trong lòng suối lệ tuôn rơi
Tình em xa vắng cuộc đời buồn tênh.

Hãy lưu kỷ niệm tìm mình,
Hãy xoa cho dịu cuộc tỉnh thương đau!
Nâng niu trìu mến thủa nào
Đã qua sao vẫn nghẹn ngào tim côi.

Mai này ta läng quên đời
Bên vai kẻ lạ cũng cười, cũng hồn,
Cũng răng in dấu vui buồn,
Nhưng ngôi hoa hậu em luôn trị vì...


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
Ảnh đại diện

Dừng chân chiều tuyết bên rừng (Robert Frost): Bản dịch của Tâm Minh Ngô Tằng Giao

Rừng ai đây xem chừng như ta biết
Nhà chủ nhân chắc biền biệt làng xa
Nào thấy đâu lặng lẽ có mình ta
Dừng chân ngắm rừng
nhoà trong tuyết trắng.

Chú ngựa non vẻ như là lạ lắm
Nghĩ ngừng chi nơi vắng trại đâu kề
Giữa rừng đông và hồ giá lạnh tê
Chiều u ám nhất năm về giăng thấp.

Ngựa rung khẽ
nhạc chuông như muốn nhắc
Như hỏi thầm ta chắc lạc đường chăng.
Ngoài ra còn văng vẳng giữa thênh thang
Tiếng gió ngàn vờn tuyết hoa bay trắng.

Rừng đáng yêu, âm u và sâu thẳm,
Nhưng nặng lòng ta ước hẹn còn ghi,
Đường còn xa chờ đón bước ta đi,
Đi, đi nữa trước khi ta ngơi nghỉ.


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]

Trang trong tổng số 12 trang (114 bài trả lời)
[1] [2] [3] [4] ... ›Trang sau »Trang cuối




Tìm bài trả lời thơ:

Kết quả tìm được thoả mãn đồng thời tất cả các tiêu chí bạn chọn.
Bạn có thể tìm bằng Google với giao diện đơn giản hơn.

Tiêu đề bài trả lời:

Nội dung:

Thể loại:

Người gửi:

Tiêu đề bài thơ:

Tác giả bài thơ: