Trang trong tổng số 13 trang (123 bài trả lời)
[1] [2] [3] [4] ... ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Hoa bìm bìm (Fukuda Chiyo-ni): Bản dịch của Nhật Chiêu

Ôi hoa triêu nhan!
Dây gàu vương hoa bên giếng
Đành xin nước nhà bên.


Bản dịch này được sử dụng trong SGK Ngữ Văn 10 (tập 1) từ năm 2022.

[Thông tin 2 nguồn tham khảo đã được ẩn]
Ảnh đại diện

Gửi những người tốt đã chết (Ernest Hemingway): Bản dịch của Ngu Yên

Chúng lôi cuốn chúng ta vào
Vua và đất nước
Đấng Christ toàn năng
Và những thứ khác còn lại.
Lòng yêu nước,
Dân chủ, Danh dự,
Lời lẽ và câu nói
Hoặc chúng chửi rủa hoặc giết chúng ta.


Ảnh đại diện

Lời khuyên con trai (Ernest Hemingway): Bản dịch của Ngu Yên

Đừng bao giờ tin người da trắng
Đừng bao giờ giết người Do Thái
Đừng bao giờ ký hợp đồng
Đừng bao giờ thuê ghế dài.
Đừng nhập ngũ
Đừng cưới nhiều vợ
Đừng bao giờ viết bài cho tạp chí
Đừng bao giờ gãi ngứa.
Luôn đặt giấy lên ghế
Đừng tin vào chiến tranh
Giữ mình sạch sẽ, gọn gàng
Đừng bao giờ cuới gái mại dâm.
Đừng trả tiền cho kẻ tống tiền
Đừng bao giờ kiện tụng
Đừng bao giờ tin tưởng nhà xuất bản
Nếu không, con sẽ ngủ trên rơm
Tất cả bạn bè sẽ rời bỏ
Tất cả bạn bè sẽ chết
Vì vậy hãy sống sạch và lành
Và cùng nhau lên thiên xứ.


Ảnh đại diện

Vắng bóng em rồi (Hermann Hesse): Bản dịch của Ngu Yên

Trong đêm chiếc gối nhìn anh
Trống vắng như bia mộ;
Anh chưa bao nghĩ sẽ chịu nhiều đắng cay
Vì hiu quạnh,
Không được ngủ trên bờ tóc em.

Một mình nằm trong toàn nhà vắng lặng
Đèn tối dần
Cánh tay dịu dàng mở rộng
Ôm lấy em,
Rồi áp sát đôi môi ấm áp
Lên em, chỉ hôn chính mình, kiệt sức và mỏi mòn
Chợt anh tỉnh giấc
Đêm trùm lạnh lẽo xung quanh.
Qua cửa sổ ngôi sao rõ ràng toả sáng
Mái tóc vàng em ở đâu?
Đôi môi ngọt ngào em nơi nào?

Anh nuốt nỗi đau trong từ niềm vui
Như thuốc độc trong từng ngụm rượu;
Anh chưa bao giờ nghĩ sẽ chịu nhiều đắng cay
Vì hiu quạnh,
Cô đơn, không có em.


Dịch từ bản tiếng Anh.
Ảnh đại diện

Vắng bóng em rồi (Hermann Hesse): Bản dịch của James Wright

My Pillow gazes upon me at night
Empty as a gravestone;
I never thought it would be so bitter
To be alone,
Not to lie down asleep in your hair.

I lie alone in a silent house,
The hanging lamp darkened,
And gently stretch out my hands
To gather in yours,
And softly press my warm mouth
Toward you, and kiss myself, exhausted and weak-
Then suddenly I’m awake
And all around me the cold night grows still.
The star in the window shines clearly-
Where is your blond hair,
Where your sweet mouth?

Now I drink pain in every delight
And poison in every wine;
I never knew it would be so bitter
To be alone,
Alone, without you.


Ảnh đại diện

Tội nghiệp người đẹp (Dana Gioia): Bản dịch của KI

Tội nghiệp người đẹp, những người đàn
bà hấp dẫn, những người đàn bà
thon gọn, những người đàn bà trẻ
với những nhân tình ra vẻ, đang

Ban phát cho họ những ước muốn.
Tội nghiệp những chàng đẹp trai, những
chàng trai lực lưỡng, và những chàng
trai nam tính, những chàng trai vàng

Mà sự thành công luôn luôn bám theo.
Những người lôi cuốn sự thèm muốn
những người cám dỗ không cưỡng được,
những người ở hạng thóp, những người

Ngoại hạng, những người đàn ông hàng
đâu hết sẩy. Tội nghiệp kẻ tàn
lụi, kẻ béo phì, kẽ nhếch nhác,
chàng đẹp trai nay đã bụng phệ

Sự may mắn đến nước tôi tệ.
Tội nghiệp những vị thánh không còn
thiêng, tội nghiệp đêm, những vì
sao đánh mất sự chói sáng.


Ghi chú: “Apollos và Adonis là những vị thần thời cổ đại La Hy, chỉ những chàng đẹp trai. Nguyên tác thì kiệm lời, nhưng bản dịch thì nhiều lời để làm rõ ý, một phần vì bài thơ dùng nhiều tiếng lóng”.

[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
Ảnh đại diện

Thanh Tâm tài nhân thi tập tự (Chu Mạnh Trinh): Bản dịch của Nguyễn Văn Nghĩa

Nếu thuở ấy duyên trao quạt thắm, chàng Kim không phải về quê Liêu Dương chịu tang chú; biến cố bán tơ không xảy ra, quan phủ Lôi Châu lập tức giải quyết xong vụ án oan cho dân nghèo; thì đôi lứa đã sắt cầm hoà hợp, cốt nhục sum vầy; ngọc bích nguyên lành, trâm vàng chẳng gãy. Thế thì khách làng chơi lấy đâu ra tiền vàng để mua tiếng cười; người anh hùng nơi biên thuỳ như Từ Hải sao lại phải chịu trói mình xin hàng? Nhưng nếu như thế, làm sao tỏ rõ được hiếu hạnh của người con gái chốn phòng khuê, làm sao thấy được sự quyền biến, cơ trí của bậc hiệp nữ? Thế mới biết: Việc đời không trắc trở thì không kỳ lạ; cảnh ngộ càng gian truân thì phẩm chất lại càng sáng ngời.

Nàng thực là người thấu hiểu lẽ đời, hẳn phải biết trời xanh kia cũng xót thương kẻ có tài; ta cũng nghĩ như vậy, xin nàng chớ oán trách phận hồng nhan là vô duyên bạc mệnh. Chỉ hiềm nỗi: Chưa qua mối lái đã vội tự đính ước, một khi đã sa chân vào chốn bùn nhơ thì dễ trở thành thói quen lưu lạc. Có người sẽ cho rằng đó là điệu bộ lả lơi như nước trôi mây nổi; rồi sa đoạ vào thói đón ngõ đưa kề. Nhưng họ đâu biết rằng: Dẫu như cành hạnh đỏ ghé bờ tường, nàng chưa từng trao tấm lòng thơm cho lũ bướm phấn; dẫu ngậm hờn giữ lưỡi gươm sắc bén, nàng vẫn nén lòng vì sợ liên luỵ đến kẻ vô can. Nàng vẫn giữ lòng băng tuyết sáng trong như gương, lặng lẽ trải qua những năm tháng u sầu. Viên ngọc không tì vết ấy, giá trị quý hơn mấy toà thành liên tiếp; cánh hoa trôi theo dòng nước, giấc mơ vẫn đau đáu hướng về bến cũ. Nếu công bằng mà luận xét, ta nên bỏ qua những dấu vết bên ngoài mà suy xét tận cùng tấm lòng bên trong của nàng.

Huống chi: Mười bài thơ mới, được xếp vào hàng đầu của tập thơ Đoạn Trường; khúc đàn bốn dây oán hận, phổ thành âm điệu của kẻ Bạc Mệnh. Nghe thê lương đến não lòng, mà vẫn thấy bóng dáng thướt tha in bóng. Hoa cũng phải nhường sắc thắm, liễu cũng phải ghen nét kiều. Sánh với phong tao phương Bắc, lúc khóc lúc cười đều mang đầy vận vị; vượt trội hơn phấn son Nam triều, dù trang điểm đậm nhạt đều vô cùng thích hợp. Thật đúng khi các bậc tiền bối đều đem lòng chung thuỷ với nàng, viết kín tên nàng nơi vạt áo tay góc tụ; khiến cho nghìn năm sau người chép sử vẫn nhặt nhạnh nét phong lưu từ chút son phấn tàn rơi.

Than ôi! Một kiếp đày ải chốn phong trần, biết bao lần gặp tai ương ma nghiệp. Trời tình bát ngát, bể hận mênh mang. Cánh hoa rụng, sợi tơ bay theo gió biết nương tựa vào đâu. “Việc ấy can hệ gì đến anh, mà anh lại đi sầu muộn thay cho người cổ đại?” Thế nhưng, nghe tiếng tỳ bà dưới đêm trăng, vạt áo xanh của quan tư mã dễ dàng thấm lệ; hát khúc Ngọc Thụ bên sông, mái đầu bạc như điểm thêm hoa. Từ xưa danh sĩ và giai nhân vốn có mối tiền duyên nơi kiếp Hoa Nghiêm trần ải; xin chớ trách núi xanh đất vàng, nghìn năm sau vẫn chung một nỗi bi thương chìm nổi.

Ta vốn là kẻ đa tình, cảm khái sâu sắc vì gặp người đồng điệu. Chưa ngộ được lẽ “không hoa” hư ảo của cõi sắc giới, nên lại càng thương xót cho giấc mộng huyễn hoặc nơi trần thế. Như chứa chấp nàng A Kiều trong nhà vàng, luống những mơ mộng giữa khoảng không; mượn hình ảnh mỹ nhân phương thảo để vẫy gọi hương hồn người đời trước. Nhân lúc hứng bút dâng trào liền viết ra những dòng suy nghĩ, rồi theo từng hồi của truyện mà ngâm vịnh thành thơ. Lời lẽ dông dài này, xin mượn làm câu chuyện trò bên cửa sổ lúc nghe mưa; nếu hương hồn nàng có hiển linh, biết đâu sẽ gặp nhau trong một đêm lướt sóng nhẹ bên bến nước Lạc Thần.


Ảnh đại diện

Người trồng hoa (Nguyễn Quang Thiều): Cuộc tranh luận giữa cách đọc thơ.

Câu chuyện tranh cãi về bài thơ bắt đầu khi tác phẩm này xuất hiện trong một văn bản được cho là đề thi học sinh giỏi Ngữ văn hoặc đề kiểm tra lớp 12. Sự việc đã tạo ra một làn sóng tranh luận gay gắt trên mạng xã hội với những quan điểm đối lập rõ rệt giữa công chúng và giới chuyên môn.

Nhiều người cho rằng tác phẩm thiếu “tính thơ”, câu từ vỡ vụn, rời rạc và không có nhạc điệu mượt mà như thơ truyền thống. Thậm chí, có ý kiến nhận xét bài thơ giống như “văn xuôi xuống dòng”. Độc giả đại chúng cảm thấy nội dung bài thơ u ám, rùng rợn khi sử dụng hình ảnh “xác chết”. Nhiều phụ huynh đặt dấu hỏi về tính giáo dục khi đưa một văn bản có yếu tố “giật gân”, kinh dị vào đề thi dành cho học sinh. Bài thơ còn bị coi là khó hiểu, tối nghĩa và mang tính cá nhân quá cao, khiến học sinh phổ thông khó có thể giải mã được ý nghĩa thực sự.

Tuy nhiên, bên ủng hộ và phân tích chuyên môn (các nhà thơ, nhà nghiên cứu) lại cho rằng bài thơ thuộc khuynh hướng triết luận - suy tưởng hiện đại, sử dụng thủ pháp biểu tượng và siêu thực. Tác phẩm không nhằm mục đích mơn trớn cảm xúc mà ép người đọc phải trăn trở và tự đào bới các lớp nghĩa. Bài xây dựng sự tương phản giữa hai hình ảnh:

- Người thứ nhất đại diện cho lối sống duy mỹ phù phiếm, hưởng thụ vẻ đẹp một cách ích kỷ dưới vỏ bọc văn minh.
- Người thứ hai (bị gọi là “kẻ điên”) là biểu tượng của người đi tìm chân lý, dám nhổ tung cái đẹp giả tạo để đối diện với nỗi đau và sự thật nghiệt ngã (xác người bị vùi lấp).

Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến và các chuyên gia cho rằng bài thơ là lời thức tỉnh lương tri, phê phán sự vô cảm của con người trước nỗi đau của đồng loại.

Để lý giải nguyên nhân của sự tranh cãi. Theo ThS Vũ Thị Thanh Tâm, độc giả Việt Nam vốn quen với dòng thơ giàu nhạc điệu, lãng mạn nên khi đối diện với thơ tự do gai góc, trần trụi đã nảy sinh phản ứng tự vệ bản năng. Đề thi vốn được thiết kế cho học sinh giỏi - nhóm đối tượng có nền tảng lý luận văn học, nhưng khi đưa lên mạng xã hội đại chúng đã tạo ra sự so sánh khập khiễng. Bài thơ thuộc dòng thơ hiện đại/hậu hiện đại, vốn đòi hỏi người đọc phải có năng lực đồng sáng tạo và tâm thế sẵn sàng giải mã biểu tượng, thay vì chỉ đọc lướt để giải trí.


Ảnh đại diện

Những chiếc lá (Nguyễn Đình Thi): Phân tích bài thơ “Những chiếc lá” của nhà thơ Nguyễn Đình Thi

Nguyễn Đình Thi không chỉ là một nhà văn, nhà nhạc hoạ tài hoa mà còn là một hồn thơ có sự kết hợp nhuần nhị giữa chất trữ tình đằm thắm và chiều sâu triết lý sâu sắc. Bài thơ xuôi Những chiếc lá là một minh chứng tiêu biểu cho phong cách ấy. Qua hình tượng những chiếc lá trải qua bốn mùa và điểm kết thúc nơi bếp lửa nghèo, tác giả đã dệt nên một bài ca cảm động về sự hiến dâng, vòng đời của vạn vật và tình người ấm áp giữa mùa đông lạnh giá.

Mở đầu bài thơ, Nguyễn Đình Thi đưa người đọc vào một không gian đậm chất hội hoạ nhưng đượm buồn của một chiều đông:

Chiều lạnh cóng, vườn cây vắng tanh, gió thổi bay lao xao những chiếc lá rụng trên mặt cỏ
Những chiếc lá nâu, đen, rách quăn queo
Không gian được khắc hoạ bằng những tính từ mạnh: ”lạnh cóng”, ”vắng tanh”. Trên cái nền u ám ấy, hình ảnh những chiếc lá hiện lên thật tội nghiệp: ”nâu, đen, rách quăn queo”. Đó là hình ảnh thực của thiên nhiên khi sang đông, nhưng cũng là ẩn dụ cho sự tàn phai, sự già nua và điểm cuối của một kiếp sống.

Tuy nhiên, mạch thơ không dừng lại ở sự bi luỵ. Bằng nghệ thuật nhân hoá tài tình, tác giả đã cho những chiếc lá “cất lời” gọi về ký ức. Đó là một cuốn phim quay chậm về thời hoàng kim đầy kiêu hãnh của chúng qua ba mùa: Xuân, Hạ, Thu.
Đâu những ngày xuân, chúng ta xoè biếc đón về ríu rít những đàn chim
Từ ”xoè biếc” gợi lên sức sống thanh xuân mơn mởn, lá mở lòng ra để làm tổ, làm bạn với âm thanh ríu rít của sự sống.
Những buổi trưa hè, chúng ta um tùm che mát cho người đi đường mồ hôi nhễ nhại
Ở đây, chiếc lá mang giá trị của sự sẻ chia, chở che cho những nhọc nhằn của con người.
Những chiều thu nhẹ trong, chúng ta thắp vàng trên đầu bao đôi người yêu
Động từ ”thắp vàng” cực kỳ khơi gợi, biến sắc lá thu thành những ngọn đèn hạnh phúc, chứng kiến và tôn vinh tình yêu đôi lứa.

Ba mùa đi qua, những chiếc lá đã sống một cuộc đời trọn vẹn và ý nghĩa. Chúng không ích kỷ tồn tại mà luôn gắn liền với niềm vui, sự sống và hạnh phúc của vạn vật bao quanh. Để rồi khi ”gió bấc đã dứt chúng ta, ném xuống đất bụi”, quy luật nghiệt ngã của thời gian ập đến, chúng chấp nhận thân phận rụng rơi nhưng trong lòng vẫn vẹn nguyên niềm kiêu hãnh về một thời đã sống rực rỡ.

Giữa lúc không gian tưởng chừng như đóng băng trong cái lạnh và sự cô độc của những chiếc lá rơi, một nhân vật xuất hiện làm thay đổi hoàn toàn cục diện cảm xúc của bài thơ:

Ai bé nhỏ vừa đi tới

Giữa gió buốt, chú bé lụi hịu xuýt xoa, loạt xoạt, loạt xoạt, chiếc chổi tre quét trên mặt cỏ
Sự xuất hiện của chú bé mang lại hơi ấm của sự sống con người. Các từ láy tượng hình, tượng thanh như ”lụi hịu”, ”xuýt xoa”, ”loạt xoạt” được tác giả sử dụng rất đắt. Nó vừa gợi lên cái lạnh cắt da cắt thịt mà chú bé phải chịu đựng, vừa ca ngợi sự chăm chỉ, cần mẫn của một đứa trẻ nhà nghèo.

Hành động ”ôm từng ôm lá nén vào chiếc bao tải dần căng phồng” và hình ảnh ”vác bao tải to, trên con đường đầu ô bụi bặm” cho thấy một hoàn cảnh sống lam lũ. Không gian đã dịch chuyển từ “vườn cây” rộng lớn, hoang vu sang “con đường đầu ô bụi bặm” - không gian của cuộc sống mưu sinh, của tầng lớp lao động nghèo khổ. Chiếc lá lúc này không còn là phế tích của mùa đông nữa, nó đã trở thành một “tài sản”, một nguồn trợ lực cho con người.

Đoạn kết của bài thơ là một trong những phân đoạn giàu sức gợi và ấm áp nhất:
Đây rồi, dưới mái bếp tranh, chú bé ngồi vốc từng nắm lá khô nhóm lửa, đặt nồi cơm, đợi mẹ đi làm về
Khói hắc hắc thơm thơm bay lên
À, à, vậy chứ, - những chiếc lá reo phù phù, nhảy nhót
Bếp lửa hiện lên dưới ”mái bếp tranh” nghèo xơ xác nhưng lại tràn ngập tình yêu thương. Chú bé nhóm lửa nấu cơm để ”đợi mẹ đi làm về”. Đây là một nét đẹp văn hoá, một biểu hiện thiêng liêng của tình mẫu tử và lòng hiếu thảo.

Và chính tại không gian bếp lửa này, những chiếc lá rách quăn queo, tưởng như đã chết, đã tìm thấy một kiếp sống mới. Khi được vốc vào bếp, chúng không lụi tàn trong đau đớn mà bùng cháy một cách mãnh liệt.

Mùi khói ”hắc hắc thơm thơm” - cái mùi đặc trưng của đồng quê, của sự nghèo khó nhưng bình yên. Hành động ”reo phù phù, nhảy nhót” là một đỉnh cao của nghệ thuật nhân hoá. Tiếng lửa cháy được ví như tiếng reo vui hạnh phúc.

Lá rụng không phải là hết. Khi còn trên cành, lá cho bóng mát, cho sắc hương. Khi lìa cành, lá lại hoá thân thành ngọn lửa, dâng hiến chút năng lượng cuối cùng để sưởi ấm không gian, để làm chín nồi cơm đợi mẹ, để dệt nên cái hạnh phúc bình dị của một gia đình nghèo. Đó là một sự hy sinh kiêu hãnh và đầy chủ động.

Qua đến phần đặc sắc nghệ thuật của bài thơ. Ta thấy bài thơ mang một loại thể thơ xuôi độc đáo, không bị gò bó bởi vần luật nghiêm ngặt, bài thơ trôi chảy như một câu chuyện kể, tự nhiên và giàu nhạc điệu nội tại. Nhịp điệu thơ thay đổi linh hoạt từ chậm rãi, hoài niệm ở đoạn đầu sang hối hả, sống động ở đoạn sau. Việc nhân hoá chiếc lá có tâm tư, ký ức và biết “reo vui” làm cho thế giới loài vật trở nên có linh hồn. Sự tương phản giữa cái lạnh ngắt của mùa đông với cái ấm nồng của bếp lửa, giữa vẻ ngoài “rách quăn queo” với vẻ đẹp tâm hồn bên trong của lá tạo nên sức căng thẩm mỹ cho tác phẩm. Bài thơ còn sử dụng từ ngữ giản dị nhưng có khả năng khơi gợi xúc giác, thính giác và khứu giác mạnh mẽ (“lạnh cóng”, “loạt xoạt”, “hắc hắc thơm thơm”, “phù phù”).

Những chiếc lá của Nguyễn Đình Thi không đơn thuần là một bài thơ tả cảnh thiên nhiên hay cuộc sống con người, mà là một triết lý nhân sinh sâu sắc về sự hiến dâng. Bài thơ nhắn nhủ chúng ta rằng: giá trị của một sự sống không đo bằng chiều dài của thời gian, mà đo bằng những gì nó đã cống hiến cho cuộc đời. Giống như những chiếc lá kia, dù ở thể xác nào, dù ở giai đoạn nào của cuộc đời, vẫn có thể chọn cách bùng cháy và reo vui để sưởi ấm cho nhân gian. Tác phẩm để lại trong lòng độc giả một dư vị ấm áp, khơi dậy tình yêu thương và thái độ sống tích cực, vị tha.


Ảnh đại diện

Mùa hạ đi đâu (Hữu Thỉnh): Phân tích bài thơ “Mùa hạ đi đâu” của nhà thơ Hữu Thỉnh

Nhà thơ Hữu Thỉnh vốn nổi tiếng với những vần thơ viết về làng quê Việt Nam vô cùng mộc mạc, tinh tế và thấm đẫm tình người. Bên cạnh những bài thơ nổi tiếng như Sang thu, ông còn có những thi phẩm viết cho thiếu nhi mang đậm màu sắc cổ tích đời thường. Mùa hạ đi đâu là một trong những bài thơ như thế. Tác phẩm không chỉ vẽ nên một bức tranh giao mùa sinh động qua lăng kính trẻ thơ mà còn ngợi ca tình bà cháu ấm áp, thiêng liêng, làm lay động trái tim mọi độc giả.

Bài thơ mở đầu bằng một câu hỏi tu từ đầy hồn nhiên của người cháu:

Bà ơi mùa hạ đi đâu?
Chùm vải trọc đầu trốn biệt trên cây
Tiếng sấm trốn lẩn vào mây
Quạt nan nằm nhớ bàn tay của bà
Cháu nhận ra sự thay đổi của đất trời khi những dấu hiệu quen thuộc của mùa hạ đã không còn. Bằng biện pháp nhân hoá vô cùng đặc sắc, nhà thơ đã thổi hồn vào vạn vật. Quả vải mùa hè giờ đã hết mùa, chỉ còn trơ lại những cành cây khẳng khiu được miêu tả bằng hình ảnh “trọc đầu trốn biệt”. Tiếng sấm giòn giã của những cơn mưa rào rực rỡ cũng “trốn lẩn vào mây”. Đặc biệt, hình ảnh “Quạt nan nằm nhớ bàn tay của bà” gợi lên một nỗi niềm đầy xao xuyến. Chiếc quạt nan - vật dụng xua đi cái nóng mùa hè giờ đây được cất đi, nó như một sinh thể biết buồn, biết nhớ hơi ấm từ bàn tay tần tảo của người bà.

Mùa hạ đi qua để lại không gian cho mùa đông lạnh giá ngự trị. Khổ thơ thứ hai là những nét vẽ tuyệt đẹp về bức tranh làng quê lúc nông nhàn:
Sông gầy, đê doãi chân ra
Mặt trời ngủ sớm, tiếng gà dậy trưa
Khoai sọ mọc chiếc răng thưa
Cóc ngồi cóc nhớ cơn mưa trắng chiều
Hữu Thỉnh đã thể hiện tài năng quan sát vô cùng tinh tế. Mùa đông hanh khô khiến nước sông cạn đi, dòng sông như “gầy” lại, nhường chỗ cho bãi bồi, khiến triền đê như đang “doãi chân ra” thư thái. Những quy luật tự nhiên cũng được thi vị hoá: ngày mùa đông ngắn lại nên “mặt trời ngủ sớm”, buổi sáng giá rét nên “tiếng gà dậy trưa”. Ngay cả củ khoai sọ nảy mầm cũng được ví von như “mọc chiếc răng thưa” đầy ngộ nghĩnh. Hình ảnh chú cóc ngồi thu lu nhớ “cơn mưa trắng chiều” vừa gợi cái khô hanh của mùa đông, vừa thể hiện sự tiếc nuối những cơn mưa rào mùa hạ. Cảnh vật tĩnh lặng, có chút co ro nhưng lại mang một vẻ đẹp bình dị, thân thương của làng quê Bắc Bộ.

Cái lạnh của mùa đông không chỉ hiện hữu ở cảnh vật mà còn ngấm vào da thịt của con người:
Nghe bà, cháu mặc đã nhiều
Mà sao cái rét vẫn theo vào nhà
Cháu sà vào lòng của bà
Đôi tai đã buốt, tay xoa ấm dần
Dù người cháu ngoan ngoãn nghe lời bà mặc nhiều áo ấm, nhưng “cái rét vẫn theo vào nhà”. Động từ “theo” biến cái lạnh như một thực thể hữu hình, len lỏi qua từng lớp áo. Trong khoảnh khắc rét buốt ấy, hành động”sà vào lòng của bà” diễn ra thật tự nhiên như một bản năng tìm kiếm sự che chở. Lòng bà chính là tổ ấm, là bến đỗ an toàn nhất của tuổi thơ. Đôi tay nhăn nheo, thô ráp của bà ân cần xoa lên đôi tai đã buốt lạnh của cháu, truyền sang cho cháu một hơi ấm diệu kỳ.

Nhờ có sự vỗ về, ấp ủ của bà, cái lạnh giá dường như bị đẩy lùi:
Cái lạnh chạy khỏi đôi chân
Hàm răng thôi khỏi va nhầm vào nhau
Bà ơi cháu đã thấy rồi:
Mùa hạ vào ở trong đôi tay bà.
Biện pháp nhân hoá tiếp tục được sử dụng hiệu quả: “cái lạnh chạy khỏi đôi chân”. Từ sự thay đổi về mặt thể chất (răng không còn đập vào nhau vì rét), người cháu đã đi đến một nhận thức, một sự “giác ngộ” mang đậm tính triết lý và dạt dào cảm xúc: “Mùa hạ vào ở trong đôi tay bà”.

Đây là hình ảnh ẩn dụ tuyệt đẹp và là nhãn tự của toàn bộ tác phẩm. Mùa hạ trong tự nhiên đã đi qua, nhưng “mùa hạ” của tình yêu thương thì vẫn luôn ở lại. Đôi bàn tay của bà không chỉ toả ra hơi ấm vật lý để xua đi giá rét mùa đông, mà đó còn là hơi ấm của tình mẫu tử, của sự hy sinh, tần tảo và lòng yêu thương vô bờ bến mà bà dành cho cháu. Nhờ có đôi bàn tay ấy, tuổi thơ của cháu luôn được sưởi ấm, luôn có một “mùa hạ” ngự trị giữa những ngày đông tháng giá.

Để làm nên thành công của bài thơ, không thể không nhắc đến những nét đặc sắc về nghệ thuật. Bài thơ theo thể thơ lục bát mang nhịp điệu nhịp nhàng, êm ái như một lời ru, một câu chuyện cổ tích bà kể cháu nghe, rất phù hợp với việc diễn tả tình cảm gia đình. Những hình ảnh mộc mạc, gần gũi như chùm vải, quạt nan, con cóc, củ khoai sọ... đưa người đọc trở về với không gian đồng quê Bắc Bộ thân thuộc. Biện pháp nhân hoá và ẩn dụ được sử dụng tự nhiên, không gượng ép, giúp cảnh vật trở nên có linh hồn và bộc lộ được chiều sâu cảm xúc của nhân vật trữ tình.

Mùa hạ đi đâu của Hữu Thỉnh là một bài thơ tuy ngắn gọn nhưng lại có sức lay động mãnh liệt. Từ sự quan sát tinh tế về sự luân chuyển của đất trời, nhà thơ đã khéo léo dẫn dắt người đọc đến một chân lý giản dị mà sâu sắc về tình cảm gia đình. Mùa hạ của thiên nhiên có thể đến rồi đi theo chu kỳ, nhưng mùa hạ trong đôi bàn tay của người bà - mùa hạ của tình thương yêu che chở - sẽ còn mãi trong trái tim và kí ức tuổi thơ của mỗi người. Bài thơ nhắc nhở chúng ta hãy luôn trân trọng những phút giây ấm áp bên gia đình và những người thân yêu.


Trang trong tổng số 13 trang (123 bài trả lời)
[1] [2] [3] [4] ... ›Trang sau »Trang cuối




Tìm bài trả lời thơ:

Kết quả tìm được thoả mãn đồng thời tất cả các tiêu chí bạn chọn.
Bạn có thể tìm bằng Google với giao diện đơn giản hơn.

Tiêu đề bài trả lời:

Nội dung:

Thể loại:

Người gửi:

Tiêu đề bài thơ:

Tác giả bài thơ: