Trang trong tổng số 5 trang (49 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] [4] [5] ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Dữ Hải Phố ngục trung huynh đệ lưu biệt (Huỳnh Thúc Kháng): Bản dịch của Huỳnh Thúc Kháng

Chim, sâu kiếp nọ nói càng đau,
Quả lớn đông rồi mới chín sau.
Cảnh biệt, năm nào cùng gặp lại,
Người đời buồn nhứt lúc chia nhau.
Non sông be bét thân còn mạnh,
Ngày tháng ta đà khí chửa thâu.
Đường bước, ven trời ai muốn biết,
Hồng đâu móng đỏ tuyết in sâu.


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
Ảnh đại diện

Điếu Châu Thượng Văn (Trần Cao Vân): Bản dịch của Huỳnh Thúc Kháng

Ta có tiếc sống đâu, ngặt vì dịch Trung thiên mở đầu, Dũ Lý bảy năm chưa kịp diễn;

Người hẳn theo nghĩa đấy, khó nhứt kinh muôn đời hay giữ chắc, Thú Dương ngàn thuở vẫn còn nghe.


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
Ảnh đại diện

Điếu Châu Thượng Văn (Huỳnh Thúc Kháng): Bản dịch của Huỳnh Thúc Kháng

Cái chết ai không sợ, ngươi lại không tham cái sống suông; tám thước mày râu, thẹn với non sông dành bữa gạo;

Phần khó dễ ai đương, ngươi bỗng lãnh ngay cái phần dễ; một phần gánh vác, đều đem tâm huyết cáo bà con.


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
Ảnh đại diện

Điếu Trần Quý Cáp (Khuyết danh Việt Nam): Bản dịch của Huỳnh Thúc Kháng

Đàn anh phái tân học, bỗng mất một tay, muôn dặm mịt mù, bạn trẻ trông sau rền rĩ khóc;

Đời thọ với danh thơm, khó toàn hai ngả, một quan nho nhỏ, mẹ già dựa cửa xót xa đau.


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
Ảnh đại diện

Ngục trung cảm Hoà Thanh lão phổ lai thám (Huỳnh Thúc Kháng): Bản dịch của Huỳnh Thúc Kháng

Mình cô, ngục tối, cảnh âm thầm,
Một chữ thân bằng cũng vắng tăm.
Lưa có Hoà Thanh già phổ nọ,
Ân cần gửi thấu bức thư thăm.


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
Ảnh đại diện

Tại Hà Tĩnh ngục cảm tác (Ngô Đức Kế): Bản dịch của Huỳnh Thúc Kháng

Xe như nước chảy, ngựa như rồng,
Vì cớ gì? Ta vẫn bực lòng.
Ham học văn minh đà mấy lúc,
Mão tù đâu khéo cấp cho ông!


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
Ảnh đại diện

Tống Sào Nam tiên sinh Nam du (Đặng Nguyên Cẩn): Bản dịch của Huỳnh Thúc Kháng

Vừa ra Bắc đó lại vào Nam,
Hồ hải lòng hăng bước chửa nhàm.
Tự nghĩ thân này còn mặt trắng,
Há không khí lạ ngạo đời phàm.
Cổ hầu luỹ nọ tìm bia đá,
Cao sĩ làng kia hái thuốc thơm.
Lựa có Tam Thai người bạn cũ,
Giang lầu ngồi dựa ngóng thâu đêm.


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
Ảnh đại diện

Điếu Tăng Bạt Hổ (Phan Châu Trinh): Bản dịch của Huỳnh Thúc Kháng

Ba mươi năm lẻ, núi biển trải nhọc nhằn, ai cũng thương cho cảnh ngộ, trời hẳn thấy nhiệt thành, quất ngựa thẳng non thần, tráng chí mới thông miền thượng quốc;

Hai chục kỷ đời, gió mây chiều biến đổi, người đều đua lấy trí, người muốn đấu bằng sức, quay gươm về nước cũ, hồn thiêng còn mến đất thần kinh.


Ảnh đại diện

Đề toạ thượng bích (Đặng Thái Thân): Bản dịch của Huỳnh Thúc Kháng

Ba mươi hai tuổi lẻ, vẫn chưa nên người, thở vắn than dài, bầu tâm huyết thiêu cơm trời đất;

Trăm thiên sách đọc thừa, còn chưa biết chữ, riêng ngồi lặng ngắm, lửa nhiệt thành rọi đuốc thánh hiền.


Ảnh đại diện

Cảm tác (Huỳnh Thúc Kháng): Bản dịch của Huỳnh Thúc Kháng

Không nước sao rằng bội?
Dân ngu há có quyền!
Hiệp thương gây mối hoạ,
Giảng học cũng can liên.
Bình Định cùng làm phú,
Cam Ranh muốn vượt thuyền.
Án văn như phát bố,
Chuyện tớ có đời truyền.


Bản dịch thơ của chính tác giả.

[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]

Trang trong tổng số 5 trang (49 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] [4] [5] ›Trang sau »Trang cuối




Tìm bài trả lời thơ:

Kết quả tìm được thoả mãn đồng thời tất cả các tiêu chí bạn chọn.
Bạn có thể tìm bằng Google với giao diện đơn giản hơn.

Tiêu đề bài trả lời:

Nội dung:

Thể loại:

Người gửi:

Tiêu đề bài thơ:

Tác giả bài thơ: