Trang trong tổng số 12 trang (117 bài trả lời)
[1] [2] [3] [4] ... ›Trang sau »Trang cuối
Gửi bởi Vũ Phong Lĩnh 武風嶺 ngày 17/07/2026 12:13
Nếu thuở ấy duyên trao quạt thắm, chàng Kim không phải về quê Liêu Dương chịu tang chú; biến cố bán tơ không xảy ra, quan phủ Lôi Châu lập tức giải quyết xong vụ án oan cho dân nghèo; thì đôi lứa đã sắt cầm hoà hợp, cốt nhục sum vầy; ngọc bích nguyên lành, trâm vàng chẳng gãy. Thế thì khách làng chơi lấy đâu ra tiền vàng để mua tiếng cười; người anh hùng nơi biên thuỳ như Từ Hải sao lại phải chịu trói mình xin hàng? Nhưng nếu như thế, làm sao tỏ rõ được hiếu hạnh của người con gái chốn phòng khuê, làm sao thấy được sự quyền biến, cơ trí của bậc hiệp nữ? Thế mới biết: Việc đời không trắc trở thì không kỳ lạ; cảnh ngộ càng gian truân thì phẩm chất lại càng sáng ngời.
Nàng thực là người thấu hiểu lẽ đời, hẳn phải biết trời xanh kia cũng xót thương kẻ có tài; ta cũng nghĩ như vậy, xin nàng chớ oán trách phận hồng nhan là vô duyên bạc mệnh. Chỉ hiềm nỗi: Chưa qua mối lái đã vội tự đính ước, một khi đã sa chân vào chốn bùn nhơ thì dễ trở thành thói quen lưu lạc. Có người sẽ cho rằng đó là điệu bộ lả lơi như nước trôi mây nổi; rồi sa đoạ vào thói đón ngõ đưa kề. Nhưng họ đâu biết rằng: Dẫu như cành hạnh đỏ ghé bờ tường, nàng chưa từng trao tấm lòng thơm cho lũ bướm phấn; dẫu ngậm hờn giữ lưỡi gươm sắc bén, nàng vẫn nén lòng vì sợ liên luỵ đến kẻ vô can. Nàng vẫn giữ lòng băng tuyết sáng trong như gương, lặng lẽ trải qua những năm tháng u sầu. Viên ngọc không tì vết ấy, giá trị quý hơn mấy toà thành liên tiếp; cánh hoa trôi theo dòng nước, giấc mơ vẫn đau đáu hướng về bến cũ. Nếu công bằng mà luận xét, ta nên bỏ qua những dấu vết bên ngoài mà suy xét tận cùng tấm lòng bên trong của nàng.
Huống chi: Mười bài thơ mới, được xếp vào hàng đầu của tập thơ Đoạn Trường; khúc đàn bốn dây oán hận, phổ thành âm điệu của kẻ Bạc Mệnh. Nghe thê lương đến não lòng, mà vẫn thấy bóng dáng thướt tha in bóng. Hoa cũng phải nhường sắc thắm, liễu cũng phải ghen nét kiều. Sánh với phong tao phương Bắc, lúc khóc lúc cười đều mang đầy vận vị; vượt trội hơn phấn son Nam triều, dù trang điểm đậm nhạt đều vô cùng thích hợp. Thật đúng khi các bậc tiền bối đều đem lòng chung thuỷ với nàng, viết kín tên nàng nơi vạt áo tay góc tụ; khiến cho nghìn năm sau người chép sử vẫn nhặt nhạnh nét phong lưu từ chút son phấn tàn rơi.
Than ôi! Một kiếp đày ải chốn phong trần, biết bao lần gặp tai ương ma nghiệp. Trời tình bát ngát, bể hận mênh mang. Cánh hoa rụng, sợi tơ bay theo gió biết nương tựa vào đâu. “Việc ấy can hệ gì đến anh, mà anh lại đi sầu muộn thay cho người cổ đại?” Thế nhưng, nghe tiếng tỳ bà dưới đêm trăng, vạt áo xanh của quan tư mã dễ dàng thấm lệ; hát khúc Ngọc Thụ bên sông, mái đầu bạc như điểm thêm hoa. Từ xưa danh sĩ và giai nhân vốn có mối tiền duyên nơi kiếp Hoa Nghiêm trần ải; xin chớ trách núi xanh đất vàng, nghìn năm sau vẫn chung một nỗi bi thương chìm nổi.
Ta vốn là kẻ đa tình, cảm khái sâu sắc vì gặp người đồng điệu. Chưa ngộ được lẽ “không hoa” hư ảo của cõi sắc giới, nên lại càng thương xót cho giấc mộng huyễn hoặc nơi trần thế. Như chứa chấp nàng A Kiều trong nhà vàng, luống những mơ mộng giữa khoảng không; mượn hình ảnh mỹ nhân phương thảo để vẫy gọi hương hồn người đời trước. Nhân lúc hứng bút dâng trào liền viết ra những dòng suy nghĩ, rồi theo từng hồi của truyện mà ngâm vịnh thành thơ. Lời lẽ dông dài này, xin mượn làm câu chuyện trò bên cửa sổ lúc nghe mưa; nếu hương hồn nàng có hiển linh, biết đâu sẽ gặp nhau trong một đêm lướt sóng nhẹ bên bến nước Lạc Thần.
Gửi bởi Vũ Phong Lĩnh 武風嶺 ngày 03/07/2026 11:35
Câu chuyện tranh cãi về bài thơ bắt đầu khi tác phẩm này xuất hiện trong một văn bản được cho là đề thi học sinh giỏi Ngữ văn hoặc đề kiểm tra lớp 12. Sự việc đã tạo ra một làn sóng tranh luận gay gắt trên mạng xã hội với những quan điểm đối lập rõ rệt giữa công chúng và giới chuyên môn.
Nhiều người cho rằng tác phẩm thiếu “tính thơ”, câu từ vỡ vụn, rời rạc và không có nhạc điệu mượt mà như thơ truyền thống. Thậm chí, có ý kiến nhận xét bài thơ giống như “văn xuôi xuống dòng”. Độc giả đại chúng cảm thấy nội dung bài thơ u ám, rùng rợn khi sử dụng hình ảnh “xác chết”. Nhiều phụ huynh đặt dấu hỏi về tính giáo dục khi đưa một văn bản có yếu tố “giật gân”, kinh dị vào đề thi dành cho học sinh. Bài thơ còn bị coi là khó hiểu, tối nghĩa và mang tính cá nhân quá cao, khiến học sinh phổ thông khó có thể giải mã được ý nghĩa thực sự.
Tuy nhiên, bên ủng hộ và phân tích chuyên môn (các nhà thơ, nhà nghiên cứu) lại cho rằng bài thơ thuộc khuynh hướng triết luận - suy tưởng hiện đại, sử dụng thủ pháp biểu tượng và siêu thực. Tác phẩm không nhằm mục đích mơn trớn cảm xúc mà ép người đọc phải trăn trở và tự đào bới các lớp nghĩa. Bài xây dựng sự tương phản giữa hai hình ảnh:
- Người thứ nhất đại diện cho lối sống duy mỹ phù phiếm, hưởng thụ vẻ đẹp một cách ích kỷ dưới vỏ bọc văn minh.
- Người thứ hai (bị gọi là “kẻ điên”) là biểu tượng của người đi tìm chân lý, dám nhổ tung cái đẹp giả tạo để đối diện với nỗi đau và sự thật nghiệt ngã (xác người bị vùi lấp).
Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến và các chuyên gia cho rằng bài thơ là lời thức tỉnh lương tri, phê phán sự vô cảm của con người trước nỗi đau của đồng loại.
Để lý giải nguyên nhân của sự tranh cãi. Theo ThS Vũ Thị Thanh Tâm, độc giả Việt Nam vốn quen với dòng thơ giàu nhạc điệu, lãng mạn nên khi đối diện với thơ tự do gai góc, trần trụi đã nảy sinh phản ứng tự vệ bản năng. Đề thi vốn được thiết kế cho học sinh giỏi - nhóm đối tượng có nền tảng lý luận văn học, nhưng khi đưa lên mạng xã hội đại chúng đã tạo ra sự so sánh khập khiễng. Bài thơ thuộc dòng thơ hiện đại/hậu hiện đại, vốn đòi hỏi người đọc phải có năng lực đồng sáng tạo và tâm thế sẵn sàng giải mã biểu tượng, thay vì chỉ đọc lướt để giải trí.
Gửi bởi Vũ Phong Lĩnh 武風嶺 ngày 12/06/2026 10:20
Đã sửa 1 lần,
lần cuối bởi Vũ Phong Lĩnh 武風嶺
vào 12/06/2026 10:25
Nguyễn Đình Thi không chỉ là một nhà văn, nhà nhạc hoạ tài hoa mà còn là một hồn thơ có sự kết hợp nhuần nhị giữa chất trữ tình đằm thắm và chiều sâu triết lý sâu sắc. Bài thơ xuôi Những chiếc lá là một minh chứng tiêu biểu cho phong cách ấy. Qua hình tượng những chiếc lá trải qua bốn mùa và điểm kết thúc nơi bếp lửa nghèo, tác giả đã dệt nên một bài ca cảm động về sự hiến dâng, vòng đời của vạn vật và tình người ấm áp giữa mùa đông lạnh giá.
Mở đầu bài thơ, Nguyễn Đình Thi đưa người đọc vào một không gian đậm chất hội hoạ nhưng đượm buồn của một chiều đông:
Chiều lạnh cóng, vườn cây vắng tanh, gió thổi bay lao xao những chiếc lá rụng trên mặt cỏKhông gian được khắc hoạ bằng những tính từ mạnh: ”lạnh cóng”, ”vắng tanh”. Trên cái nền u ám ấy, hình ảnh những chiếc lá hiện lên thật tội nghiệp: ”nâu, đen, rách quăn queo”. Đó là hình ảnh thực của thiên nhiên khi sang đông, nhưng cũng là ẩn dụ cho sự tàn phai, sự già nua và điểm cuối của một kiếp sống.
Những chiếc lá nâu, đen, rách quăn queo
Đâu những ngày xuân, chúng ta xoè biếc đón về ríu rít những đàn chimTừ ”xoè biếc” gợi lên sức sống thanh xuân mơn mởn, lá mở lòng ra để làm tổ, làm bạn với âm thanh ríu rít của sự sống.
Những buổi trưa hè, chúng ta um tùm che mát cho người đi đường mồ hôi nhễ nhạiỞ đây, chiếc lá mang giá trị của sự sẻ chia, chở che cho những nhọc nhằn của con người.
Những chiều thu nhẹ trong, chúng ta thắp vàng trên đầu bao đôi người yêuĐộng từ ”thắp vàng” cực kỳ khơi gợi, biến sắc lá thu thành những ngọn đèn hạnh phúc, chứng kiến và tôn vinh tình yêu đôi lứa.
Ai bé nhỏ vừa đi tớiSự xuất hiện của chú bé mang lại hơi ấm của sự sống con người. Các từ láy tượng hình, tượng thanh như ”lụi hịu”, ”xuýt xoa”, ”loạt xoạt” được tác giả sử dụng rất đắt. Nó vừa gợi lên cái lạnh cắt da cắt thịt mà chú bé phải chịu đựng, vừa ca ngợi sự chăm chỉ, cần mẫn của một đứa trẻ nhà nghèo.
Giữa gió buốt, chú bé lụi hịu xuýt xoa, loạt xoạt, loạt xoạt, chiếc chổi tre quét trên mặt cỏ
Đây rồi, dưới mái bếp tranh, chú bé ngồi vốc từng nắm lá khô nhóm lửa, đặt nồi cơm, đợi mẹ đi làm vềBếp lửa hiện lên dưới ”mái bếp tranh” nghèo xơ xác nhưng lại tràn ngập tình yêu thương. Chú bé nhóm lửa nấu cơm để ”đợi mẹ đi làm về”. Đây là một nét đẹp văn hoá, một biểu hiện thiêng liêng của tình mẫu tử và lòng hiếu thảo.
Khói hắc hắc thơm thơm bay lên
À, à, vậy chứ, - những chiếc lá reo phù phù, nhảy nhót
Gửi bởi Vũ Phong Lĩnh 武風嶺 ngày 06/06/2026 19:16
Nhà thơ Hữu Thỉnh vốn nổi tiếng với những vần thơ viết về làng quê Việt Nam vô cùng mộc mạc, tinh tế và thấm đẫm tình người. Bên cạnh những bài thơ nổi tiếng như Sang thu, ông còn có những thi phẩm viết cho thiếu nhi mang đậm màu sắc cổ tích đời thường. Mùa hạ đi đâu là một trong những bài thơ như thế. Tác phẩm không chỉ vẽ nên một bức tranh giao mùa sinh động qua lăng kính trẻ thơ mà còn ngợi ca tình bà cháu ấm áp, thiêng liêng, làm lay động trái tim mọi độc giả.
Bài thơ mở đầu bằng một câu hỏi tu từ đầy hồn nhiên của người cháu:
Bà ơi mùa hạ đi đâu?Cháu nhận ra sự thay đổi của đất trời khi những dấu hiệu quen thuộc của mùa hạ đã không còn. Bằng biện pháp nhân hoá vô cùng đặc sắc, nhà thơ đã thổi hồn vào vạn vật. Quả vải mùa hè giờ đã hết mùa, chỉ còn trơ lại những cành cây khẳng khiu được miêu tả bằng hình ảnh “trọc đầu trốn biệt”. Tiếng sấm giòn giã của những cơn mưa rào rực rỡ cũng “trốn lẩn vào mây”. Đặc biệt, hình ảnh “Quạt nan nằm nhớ bàn tay của bà” gợi lên một nỗi niềm đầy xao xuyến. Chiếc quạt nan - vật dụng xua đi cái nóng mùa hè giờ đây được cất đi, nó như một sinh thể biết buồn, biết nhớ hơi ấm từ bàn tay tần tảo của người bà.
Chùm vải trọc đầu trốn biệt trên cây
Tiếng sấm trốn lẩn vào mây
Quạt nan nằm nhớ bàn tay của bà
Sông gầy, đê doãi chân raHữu Thỉnh đã thể hiện tài năng quan sát vô cùng tinh tế. Mùa đông hanh khô khiến nước sông cạn đi, dòng sông như “gầy” lại, nhường chỗ cho bãi bồi, khiến triền đê như đang “doãi chân ra” thư thái. Những quy luật tự nhiên cũng được thi vị hoá: ngày mùa đông ngắn lại nên “mặt trời ngủ sớm”, buổi sáng giá rét nên “tiếng gà dậy trưa”. Ngay cả củ khoai sọ nảy mầm cũng được ví von như “mọc chiếc răng thưa” đầy ngộ nghĩnh. Hình ảnh chú cóc ngồi thu lu nhớ “cơn mưa trắng chiều” vừa gợi cái khô hanh của mùa đông, vừa thể hiện sự tiếc nuối những cơn mưa rào mùa hạ. Cảnh vật tĩnh lặng, có chút co ro nhưng lại mang một vẻ đẹp bình dị, thân thương của làng quê Bắc Bộ.
Mặt trời ngủ sớm, tiếng gà dậy trưa
Khoai sọ mọc chiếc răng thưa
Cóc ngồi cóc nhớ cơn mưa trắng chiều
Nghe bà, cháu mặc đã nhiềuDù người cháu ngoan ngoãn nghe lời bà mặc nhiều áo ấm, nhưng “cái rét vẫn theo vào nhà”. Động từ “theo” biến cái lạnh như một thực thể hữu hình, len lỏi qua từng lớp áo. Trong khoảnh khắc rét buốt ấy, hành động”sà vào lòng của bà” diễn ra thật tự nhiên như một bản năng tìm kiếm sự che chở. Lòng bà chính là tổ ấm, là bến đỗ an toàn nhất của tuổi thơ. Đôi tay nhăn nheo, thô ráp của bà ân cần xoa lên đôi tai đã buốt lạnh của cháu, truyền sang cho cháu một hơi ấm diệu kỳ.
Mà sao cái rét vẫn theo vào nhà
Cháu sà vào lòng của bà
Đôi tai đã buốt, tay xoa ấm dần
Cái lạnh chạy khỏi đôi chânBiện pháp nhân hoá tiếp tục được sử dụng hiệu quả: “cái lạnh chạy khỏi đôi chân”. Từ sự thay đổi về mặt thể chất (răng không còn đập vào nhau vì rét), người cháu đã đi đến một nhận thức, một sự “giác ngộ” mang đậm tính triết lý và dạt dào cảm xúc: “Mùa hạ vào ở trong đôi tay bà”.
Hàm răng thôi khỏi va nhầm vào nhau
Bà ơi cháu đã thấy rồi:
Mùa hạ vào ở trong đôi tay bà.
Để có một cái nhìn thấu đáo về tác phẩm Nhớ cơn mưa quê hương, trước hết cần phải đặt bài thơ vào đúng hệ toạ độ thời gian và không gian mà nó được sinh ra. Lê Anh Xuân, tên khai sinh là Ca Lê Hiến, sinh ngày 05 tháng 06 năm 1940 tại xã An Hội, tỉnh Bến Tre. Ông chào đời vào đúng những ngày Nam Kỳ khởi nghĩa đang sục sôi, trên một vùng đất giàu truyền thống cách mạng và văn hoá. Xuất thân từ một gia đình trí thức yêu nước, là con trai của nhà giáo dục, nhà nghiên cứu văn học lỗi lạc - Giáo sư Ca Văn Thỉnh, Lê Anh Xuân đã được tắm mình trong một bầu khí quyển văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc ngay từ thuở nhỏ. Hoàn cảnh sáng tác của bài thơ Nhớ cơn mưa quê hương gắn liền với một bước ngoặt lịch sử của dân tộc và cuộc đời tác giả. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, Lê Anh Xuân theo cha tập kết ra miền Bắc. Khi viết tác phẩm này vào năm 1959, nhà thơ mới tròn 19 tuổi và đang sống trong nỗi nhớ đau đáu về quê nội Bến Tre - nơi ông đã gắn bó suốt những năm tháng kháng chiến chống Pháp ở miền Tây Nam Bộ. Bài thơ không chỉ đơn thuần là tiếng lòng của một cá nhân mà còn đại diện cho tiếng lòng của cả một thế hệ học sinh miền Nam tập kết, luôn hướng về nửa kia của đất nước với niềm tin sắt đá vào ngày thống nhất.
Bài thơ mở đầu bằng một tiếng gọi trực diện, thiết tha: “Quê nội ơi”. Lời gọi này không chỉ là sự xác định đối tượng mà còn là một tiếng nấc nghẹn của nỗi nhớ sau “mấy năm trời xa cách”. Trong không gian tĩnh lặng của đêm đêm, khi “ta nằm nghe mưa rơi”, âm thanh của thực tại bỗng trở thành chiếc chìa khoá mở ra cánh cửa của quá khứ. Tiếng “trời gầm xa lắc” ở hiện tại đối lập với sự im lặng của tâm hồn người xa xứ, để rồi từ đó, một câu hỏi tu từ vang lên đầy trăn trở: “Cớ sao lòng thấy nhớ thương”. Đây là một sự vận động cảm xúc tự nhiên: từ âm thanh vật lý dẫn đến rung động tâm linh. Lê Anh Xuân không miêu tả cơn mưa như một hiện tượng thiên nhiên khách quan mà cá nhân hoá nó thành một sinh thể có khả năng “ru hát hồn ta thuở bé” và “thấm nặng lòng ta những tình yêu chớm hé”. “Thấm nặng” ở đây không chỉ là sự ướt át của nước mưa mà là sự khắc ghi, sự định hình nhân cách và tình cảm trong lòng đứa trẻ quê hương.
Đi sâu vào cấu trúc hình ảnh, nhà thơ đã khéo léo chọn lọc những chi tiết mang đậm dấu ấn phong thổ Nam Bộ. Tiếng mưa không rơi chung chung mà rơi “trên tàu chuối, bẹ dừa”. Đây là những âm thanh mộc mạc, giòn tan nhưng cũng rất dịu dàng, vẽ nên một không gian xanh mướt và trù phú của làng quê miền Tây. Nghệ thuật chuyển đổi cảm giác được Lê Anh Xuân sử dụng một cách điêu luyện khi ông viết về tiếng mưa “ấm” và “trong”. Thông thường, mưa gợi cảm giác lạnh lẽo, nhưng trong tâm tưởng người xa quê, đó là tiếng “ấm” của tình thân, của sự bao bọc, và là tiếng “trong” của một tâm hồn chưa vướng bụi trần chiến tranh. Sự đối lập giữa “tiếng sấm” dữ dội và tiếng mưa “ấm trong” cho thấy khả năng bao quát không gian và cảm xúc của tác giả, từ cái hùng vĩ của thiên nhiên đến cái vi tế của tâm hồn trẻ thơ.
Ký ức tuổi thơ hiện lên qua một loạt các động từ mạnh: “dầm mưa”, “tắm”, “lội tung tăng”, “lặn xuống”. Đây là những hình ảnh biểu tượng cho sự tự do, sự hoà quyện tuyệt đối giữa con người và thiên nhiên rực rỡ phù sa. Cơn mưa quê hương không chỉ là nước, nó là một thánh đường của kỷ niệm, nơi mỗi “vết chân thơ ấu buổi đầu tiên” đều được thiên nhiên nâng niu, che chở. Việc tác giả liệt kê những trò chơi dân dã như “tàu chuối bẹ dừa”, “mảnh chòi nhỏ bé”, “mo cau làm thuyền” không chỉ đơn thuần là kể lại quá khứ. Những vật dụng tầm thường ấy, qua lăng kính của tình yêu quê hương, đã trở thành những bảo vật của tâm hồn. Cơn mưa “cuốn đi” những chiếc thuyền mo cau, chảy xuống dòng sông quê nội, và từ đó “sóng nước quê hương dào dạt chảy về khơi”. Hình ảnh này mang tính ẩn dụ sâu sắc: những kỷ niệm nhỏ bé của cá nhân đã hoà vào dòng chảy chung của quê hương, đất nước, chuẩn bị cho một sự vươn mình lớn lao hơn trong tương lai.
Một trong những điểm sáng nhất của bài thơ Nhớ cơn mưa quê hương chính là sự dịch chuyển mang tính triết lý từ nỗi nhớ cá nhân sang tình yêu Tổ quốc rộng lớn. Lê Anh Xuân đã viết:
Và ta lớn tình yêu hoà bể rộngSự chuyển biến này không khiên cưỡng mà diễn ra theo một quy luật tất yếu của tâm hồn. “Cơn mưa nhỏ” là biểu tượng của kỷ niệm ấu thơ, của gia đình và làng xóm hữu hình. “Bể rộng” và “trăm sông” là biểu tượng của đất nước, của dân tộc và của cuộc kháng chiến vĩ đại đang vẫy gọi. Tình yêu quê hương của Lê Anh Xuân còn được định nghĩa bằng một điệu thức nồng nàn qua điệp từ “yêu”: yêu mưa, yêu tre dừa, yêu làng xóm và đặc biệt là yêu “những con người - biết mấy yêu thương”.
Cơn mưa nhỏ của quê hương ta đã sống
Nay vỗ lòng ta rung động cả trăm sông,
Nghe như tiếng của Cha Ông dựng nước,Đây là lúc cơn mưa quê hương trở thành biểu tượng cho sức mạnh quật khởi, cho truyền thống chống ngoại xâm bền bỉ của dân tộc Việt Nam. Lời của “cây cỏ gió mưa” chính là lời của đất nước đang “hát tiếp bài ca bất khuất ngàn xưa”. Qua đó, tác giả khẳng định rằng tình yêu quê hương không thể tách rời với lý tưởng đấu tranh giải phóng dân tộc.
Truyền con cháu phải ngẩng cao mà bước
Mấy cô gái bên kia sông giặt áoNhững câu thơ này cho thấy một cái nhìn hào hoa, lãng mạn của nhà thơ trẻ. Vẻ đẹp của người phụ nữ Nam Bộ hoà quyện vào vẻ đẹp của thiên nhiên, tạo nên một sự hài hoà tuyệt đối. Hình ảnh “Rễ dừa nâu, muờn mượt gân tơ” và “đất lên màu tươi mởn” là những quan sát sắc sảo của một người con am hiểu và yêu tha thiết mảnh đất quê mình. Lê Anh Xuân đã định nghĩa tình yêu quê hương không phải bằng những khái niệm trừu tượng mà bằng những gam màu, những đường nét mộc mạc nhất của đời sống.
Tay rẩy nước. Bỗng mưa rào nho nhỏ
Cánh tay cô hay cánh gió nhẹ đưa
Ta muốn về quê nộiBiện pháp tu từ này không chỉ tạo nên một giọng điệu dồn dập, tha thiết mà còn nhấn mạnh khát vọng cháy bỏng của nhân vật trữ tình. Đây là lời khẳng định về một sự lựa chọn mang tính định mệnh: trở về để gắn bó, để chiến đấu và để dâng hiến cho quê hương. Nỗi nhớ ban đầu là “nhớ thương” đã chuyển hoá thành cái “xót đau” của sự chia cắt, và cuối cùng kết thúc bằng âm vang của “tiếng sấm từ xa, bỗng gầm vang rộn rã” - tiếng sấm của niềm tin vào ngày chiến thắng hoàn toàn.
Ta muốn trở lại tuổi thơ
Ta muốn nằm trên mảnh đất ông cha
Ngôn ngữ: Tiếng Séc
Gửi bởi Vũ Phong Lĩnh 武風嶺 ngày 14/01/2026 22:12
Když na jaře led roztajeti
Plave jak řeka rozbouřená,
Když místy mezi poli
Holá země zčerná
A mlha se usazuje jako mrak
Nad polomladými poli,
Zlý sen chová smutek
V mé nezkušené duši;
Vidím, jak příroda mládne,
Ale může jen ona mládnout;
Šarlatový plamen klidných tváří
Čas si s sebou odnese,
A ten, kdo tolik trpěl,
nikdy k ní ve svém srdci lásku nenajde!
Gửi bởi Vũ Phong Lĩnh 武風嶺 ngày 14/01/2026 22:10
Khi xuân về, những mảnh băng tan vỡ
Trôi lang thang trên dòng nước cuộn trào,
ở đâu đó hoang vắng giữa hư không
Đất trơ trụi chuyển dần màu đen thẫm
Sương mù giăng tựa đám mây khuất lối
Trên cánh đồng thưa thớt cuộc hồi sinh,
Ác mộng nâng niu kéo những nỗi buồn
Trong tâm hồn trai ngây thơ non dại
Ta cảm nhận thiên nhiên bừng tỉnh lại,
Như chỉ riêng nàng có thể hồi xuân;
Ngọn lửa thắm trên thanh tú má môi
Theo thời gian sẽ mang đi tất cả,
Khi ai đó từng trải qua đau khổ
Tìm được sao tình yêu trong trái tim mình!
Gửi bởi Vũ Phong Lĩnh 武風嶺 ngày 14/01/2026 22:07
Xuân về băng nứt vỡ tan từng mảng,
Lờ đờ trên dòng nước cuộn trôi,
Giữa cánh đồng đây đó một vài nơi
Trơ ra khoảng đất màu đen sẫm.
Làn sương mù sà xuống tựa tầng mây
Phủ cánh đồng trong ngày xuân mới
Mộng dữ đưa nỗi buồn ru êm ái,
Trong mảnh hồn non dại của tôi đây.
Tôi thấy thiên nhiên hồi xuân trở lại
Chỉ con người không trẻ mãi cùng xuân.
Gò má thắm hừng lên như ánh lửa,
Cũng tắt dần cuốn theo cả thời gian.
Kẻ nếm trải đã từng nhiều đau khổ
Chẳng còn tình yêu dành cho người ấy trong tim...
Gửi bởi Vũ Phong Lĩnh 武風嶺 ngày 28/12/2025 08:50
Đã sửa 1 lần,
lần cuối bởi Vũ Phong Lĩnh 武風嶺
vào 28/12/2025 08:50
Mùa xuân về những khối băng tan vỡ
Theo dòng sông cuồn cuộn nước cuốn trôi
Giữa những cánh đồng có một số nơi
Lộ những khoảnh đất màu đen trơ trụi
Và sương mù như đám mây giăng lối
Trên những cánh đồng cây cỏ xanh non,
Giấc mơ xấu xa nuôi dưỡng nỗi buồn
Trong tâm hồn tôi vẫn còn non dại
Tôi thấy thiên nhiên như đang trẻ lại,
Nhưng trẻ lại chỉ có nàng mà thôi
Đôi má thanh tú ngọn lửa thắm tươi
Cùng với mình thời gian dẫn theo nó
Và những ai đã từng mang đau khổ
Không thấy Tình yêu cho nàng trong tim!
Gửi bởi Vũ Phong Lĩnh 武風嶺 ngày 15/12/2025 15:06
Em nói em thích trời mưa
Ô che, nón đội khi vừa giọt rơi
Em yêu nắng ấm khung trời
Sợ hồng đôi má em thời tránh che
Em yêu gió lộng ngày hè
Sợ bay tóc rối ngồi khe cửa cài
Yêu anh chỉ một, không hai
Bâng khuâng tự hỏi… ngày mai thế nào?
Trang trong tổng số 12 trang (117 bài trả lời)
[1] [2] [3] [4] ... ›Trang sau »Trang cuối