Tặng Tú Mỡ

Thế Lữ là một chàng kỳ khôi:
Sống hôm nay không biết có ngày mai,
Cũng không thiết nhận cảnh đời trước mắt.
Tính giản dị, lại ưa điều bí mật,
Trưa mùa hè đi vẽ cảnh đêm trăng,
Ở Đồ Sơn thuật chuyện trên rừng.
Đến khi lên thượng du, có lẽ
Anh lại nghĩ chuyện vẩn vơ dưới bể.
Người vụng về, yên lặng chẳng ai ưa,
Có bao nhiêu nết xấu không thèm chừa,
Ăn mặc thì lôi thôi, lốc thốc:
Đến Hà Nội với chiếc quần cộc lốc,
Với đôi giày vải trắng mang từ hạ sang đông;
Chiếc mũ dạ vàng, dúm dó, bửn vô song,
Đội mưa nắng suốt từ Nam ra Bắc.
Đời dị nghị đến thế nào cũng mặc
Đi giữa đường anh cứ ngước trông trời,
Và dương dương vui vẻ như người
Không bao giờ, không đời nào biết khổ.
Các bạn hữu ái ngại dùm, thường dỗ:
- “Anh dại chi mà lãng phí mất bao ngày?
“Nghe chúng tôi, cứ tới ở đây,
“Có tài trí thì cùng người thi thố,
“Chứ quạnh hiu đời còn đâu là thú?
“Đến ở đây mà vùng vẫy, đua ganh,
“Mua lấy cho mình đôi chút công danh”.
Thế Lữ nghĩ ba hôm mới nói:
“Ồ phải đấy!” Rồi ở ngay Hà Nội,
Anh ta vừa hoạt động, vừa mơ màng;
Lúng túng như anh mán học làm sang
Trong một bộ áo quần rất lịch sự.
Học đo đắn, học dè, học giữ,
Học chen vai thích cánh, - học ra đời!
Nhưng chẳng bao giờ bỏ được tính dở hơi:
Là cứ tưởng trần gian ai cũng tốt.
Ở đời này, quá thực thà là dốt!
Anh ta nào đã biết đâu rằng
Có bao nhiêu đức tính cũng không bằng
Chỉ khôn khéo, gian ngoan là đạt tất!
Bỗng hôm nay, rầu rầu nét mặt,
Vắt bên tay “bộ quần áo văn minh”,
Anh đến bảo tôi rằng: “Cái bước công danh
“Thực chẳng có chút nào thi vị cả!
“Đừng đón hỏi dỗ dành tôi nữa,
“Để cho tôi yên sống đời riêng tôi.
“Cuộc đời lang thang giản dị, nhưng mà vui,
“Riêng cùng với Nàng Thơ làm bầu bạn.
“Cái sung sướng phồn hoa tôi đã chán!”
Rồi bỏ quên bao nỗi giận, buồn qua,
Anh ta buông bộ lốt chẳng nên thơ
Và giữ lại chiếc mũ tàng, đôi giày trắng,
Với chiếc áo đã lợt mầu vì sương nắng,
Anh ta đi, đi tìm chị Ly Tao
Mà ít lâu nay không biết trốn nơi nao!


Trên đây là bài thơ theo bản in lần thứ 2 năm 1941 sau khi đã được tác giả sửa chữa. Dưới đây là bản đầu in năm 1935:
Tặng Tú Mỡ

Thế Lữ là một anh chàng kỳ khôi:
Sống hôm nay không biết có ngày mai,
Cũng không biết những cảnh đời trước mắt.
Tính giản dị, lại ưa điều bí mật,
Trưa mùa hè đi vịnh cảnh đêm trăng,
Ở Đồ Sơn nói chuyện trên rừng.
Đến khi lên thượng du, có lẽ
Anh lại nghĩ chuyện vẩn vơ dưới bể.
Người vụng về, yên lặng chẳng ai ưa,
Có bao nhiêu nết xấu không thèm chừa,
Ăn mặc thì lôi thôi, lốc thốc:
Đến Hà Nội với chiếc quần cộc lốc,
Với đôi giày vải trắng mang từ Hạ sang Đông;
Chiếc mũ dạ vàng, dúm dó, bửn vô song,
Đội mưa nắng suốt từ Nam ra Bắc.
Đời dị nghị đến thế nào cũng mặc
Anh cứ đi giữa đường ngửa mặt trông trời,
luôn luôn vui vẻ như người
Không bao giờ, không đời nào biết khổ.
Các bạn hữu ái ngại dùm, thường dỗ:
“Anh việc chi mà quên lãng mất bao ngày?
“Nghe chúng tôi, cứ tới ở đây,
“Có tài trí thì cùng người thi thố,
“Chứ đời quạnh hiu lấy gì làm thú?
“Đến ở đây, mà vùng vẫy, đua ganh,
“Mua lấy cho mình đôi chút công danh”.
Thế Lữ nghĩ ba hôm mới nói:
“Ồ phải đấy!” Rồi ở ngay Hà Nội,
Anh ta vừa hoạt động, vừa mơ màng;
Lúng túng như anh mán học làm sang
Trong một bộ áo quần rất lịch sự.
Học đo đắn, học dè, học giữ,
Học chen vai thích cánh, - học ra đời!
Nhưng chẳng bao giờ bỏ được tính dở hơi:
Là cứ tưởng trần gian ai cũng tốt.
Ở đời này, quá thực thà là dốt!
Anh ta nào đã biết đâu rằng
Có bao nhiêu đức tính cũng không bằng
Chỉ khôn khéo, gian ngoan là đạt tất!
Bỗng hôm nay, rầu rầu nét mặt,
Vắt bên tay “bộ quần áo văn minh”,
Anh đến bảo tôi rằng: “Cái bước công danh
“Thực không chi là thi vị cả.
“Đừng đón hỏi, dỗ dành tôi nữa,
“Để cho tôi yên sống đời riêng tôi.
“Cuộc đời lang thang giản dị, nhưng mà vui,
“Riêng cùng với Nàng Thơ làm bầu bạn.
“Cái sung sướng phồn hoa tôi đã chán!”
Rồi bỏ quên bao nhiêu nỗi giận, buồn qua,
Anh ta buông bộ y phục chẳng nên thơ
Và giữ lại chiếc mũ tàng, đôi giầy trắng,
Với chiếc áo đã lợt mầu vì sương nắng,
Anh ta đi, đi tìm chị Ly Tao
Mà ít lâu nay không biết trốn nơi nao!
Nguồn:
1. Thế Lữ, Mấy vần thơ, NXB Hội Nhà văn, 1992
2. Tuyển tập Tự lực văn đoàn (tập III), NXB Hội nhà văn, 2004