神龍起兮飛藍京,
天戈指兮朔塞清,
創業之功成閟毖,
西土之山川有靈。
繄我皇之聖武,
當四方之經營。
國步方屯,
心困慮衡。
既於天而取必,
乃勵志以競成。
此今日所以化胡越為一家,
而茲山得以千古垂名也。
當其:
義兵初起,賊勢方張;
一國英豪,秋樹隕霜。
志吞吳兮,孰種孰蠡;
圖興漢兮,孰平孰良。
我皇方遁跡于茲山,惟鏟採以埋光。
妻子流離,士卒散亡。
雖處困而益亨,知將興之有祥。
躬介胄以為衣,食菜根而為糧。
志汲汲於圖回,心鬱鬱而不忘。
想此山於此時兮,豈不似漢皇之在芒碭者耶?
由其知彼知己,能弱能強;
待時伺弊,收鋒斂芒;
枕薪而卧,懸膽而嘗;
思雪前恥,以復故疆。
想此山於斯時兮,豈不似會稽之棲越王者耶?
既乃:
收其散卒,撫養益勤;
內修戰具,外托和親。
捐金募士,殺象饗軍。
人懷親上以死長,
思欲效力以酬恩。
於是:
練兵遣將,製勝出奇。
生辱死榮,知我軍之可用;
餉糧器械,告因敵以為資。
萬全以取,一簇不遺。
琴彭稽頭以獻地;
方政虛喝以恫疑。
乃據險而立功,又多方以誤之。
夜則舉火,晝則張旗。
杜家之侵地爭便,
可留之渡江沉師。
雷驅電掣,竹破灰飛。
朱傑楹車,黃誠暴屍。
乂安之地,已為我有;
西都之捷,疾于驅馳。
夾道壺察,來者如歸。
豪傑咸憤以切齒,
父老感泣而欷欷,
我之軍整,日以益振;
賊之奔命,日以益疲。
市橋之崩堤潰蟻,
窣洞之勁風摧萎。
陳洽李亮之深坑墜虎,
王通馬騏之沸鼎魚兒。
萬里之山河剋復,
東都之市肆不移。
當此之時,豈不似漢高垓下四而之圍者耶?
奈何,
狂虜之貪心不戢,
舉國之援兵復來。
以油救焚,樂禍幸災。
柳升送死而支棱流血;
沐晟宵遁而冷涇積骸。
兩路救兵,不旋踵而俱敗;
各處賊城,不血刃而自開。
棹尾乞憐,誠切堪哀。
當此之時,豈不似勾踐之困吳王于姑蘇台者耶?
雖然,
漢高之規模宏違,正似吾皇今日之盛;
勾踐特取其復仇之志而己,豈足以擬議其萬一哉。
至若:
神武不毅,大德好生。
念國家長久之計,
放十萬乞降之兵。
修兩國之和好,
息萬世之戰爭。
全國為上,惟圖輯寧。
是則我皇之盛德,
又豈高祖同日之俱語,
將與二帝三王而並稱者也。
嗟乎!
古往今來,百世可推。
堯興唐侯,舜起側微。
成湯之哉自毫,
太王之遷于岐。
蓋多難乃典邦之本,
而殷憂實啟聖之基。
歷變多則思虛深,
計事遠則成功奇。
帝王之興,莫不由斯。
然則,我皇之業,
實由此山而創始;
而我皇之隆功盛德,
長與此山而巍巍者乎!
乃拜首稽首而獻歌曰:
天啟聖兮地興王;
乾坤草昧兮運際非常。
睹茲山之峨峨兮,念昔日之艱苦;
撫王業之攸基兮,何日能忘。
願紀盛德以勒貞珉兮,永垂不朽;
亘千古與萬古兮,同天地而長久。
Thần long khởi hề phi Lam Kinh,
Thiên qua chỉ hề sóc tái thanh,
Sáng nghiệp chi công thành bí bí,
Tây thổ chi sơn xuyên hữu linh.
Ê ngã hoàng chi thánh võ,
Đương tứ phương chi kinh dinh.
Quốc bộ phương truân,
Tâm khốn lự hành.
Ký ư thiên nhi thủ tất,
Nãi lệ chí dĩ cạnh thành.
Thử kim nhật sở dĩ hoá Hồ Việt vi nhất gia,
Nhi tư sơn đắc dĩ thiên cổ thuỳ danh dã.
Đương kỳ:
Nghĩa binh sơ khởi, tặc thế phương trương;
Nhất quốc anh hào, thu thụ vẫn sương.
Chí thôn Ngô hề, thục Chủng thục Lãi?
Đồ hưng Hán hề, thục Bình thục Lương?
Ngã hoàng phương độn tích vu tư sơn, duy sạn thái dĩ mai quang.
Thê tử lưu ly, sĩ tốt tán vương.
Tuy xử khốn nhi ích hanh, tri tương hưng chi hữu tường.
Cung giới trụ dĩ vi y, thực thái căn nhi vi lương.
Chí cấp cấp ư đồ hồi, tâm uất uất nhi bất vương.
Tưởng thử sơn ư thử thì hề, khởi bất tự Hán hoàng chi tại Mang Đãng giả gia?
Do kỳ tri bỉ tri kỷ, năng nhược năng cường;
Đãi thì tứ tệ, thu phong liễm mang;
Chẩm tân nhi ngoạ, huyền đảm nhi thường;
Tư tuyết tiền sỉ, dĩ phục cố cương.
Tưởng thử sơn ư tư thì hề, khởi bất tự Cối Kê chi thê Việt vương giả gia?
Ký nãi:
Thu kỳ tán tốt, phủ dưỡng ích cần;
Nội tu chiến cụ, ngoại thác hoà thân.
Quyên kim mộ sĩ, sát tượng hưởng quân.
Nhân hoài thân thượng dĩ tử trưởng,
Tư dục hiệu lực dĩ thù ân.
Ư thị:
Luyện binh khiển tướng, chế thắng xuất kỳ.
Sinh nhục tử vinh, tri ngã quân chi khả dụng;
Hướng lương khí giới, cáo nhân địch dĩ vi tư.
Vạn toàn dĩ thủ, nhất thốc bất di.
Cầm Bành kê đầu dĩ hiến địa;
Phương Chính hư hát dĩ đỗng nghi.
Nãi cứ hiểm nhi lập công, hựu đa phương dĩ ngộ chi.
Dạ tắc cử hoả, trú tắc trương kỳ.
Đỗ Gia chi xâm địa tranh tiện,
Khả Lưu chi độ giang trầm sư.
Lôi khu điện xiết, trúc phá hôi phi.
Châu kiệt doanh xa, Hoàng Thành bạo thi.
Nghệ An chi địa, dĩ vi ngã hữu;
Tây Đô chi tiệp, tật vu khu trì.
Giáp đạo hồ sát, lai giả như quy.
Hào kiệt hàm phẫn dĩ thiết xỉ,
Phụ lão cảm khấp nhi hy hy,
Ngã chi quân chỉnh, nhật dĩ ích chấn;
Tặc chi bôn mệnh, nhật dĩ ích bì.
Thị Kiều chi băng đê hội nghĩ,
Tốt Động chi kình phong tồi nuy.
Trần Hiệp, Lý Lượng chi thâm khanh truỵ hổ,
Vương Thông, Mã Kỳ chi phí đỉnh ngư nhi.
Vạn lý chi sơn hà khắc phục,
Đông Đô chi thị tứ bất di.
Đương thử chi thì, khởi bất tự Hán Cao Cai Hạ tứ nhi chi vi giả gia?
Nại hà,
Cuồng lỗ chi tham tâm bất tập,
Cử quốc chi viện binh phục lai.
Dĩ du cứu phần, nhạc hoạ hạnh tai.
Liễu Thăng tống tử nhi Chi Lăng lưu huyết;
Mộc Thạnh tiêu độn nhi Lãnh Kinh tích hài.
Lưỡng lộ cứu binh, bất toàn chủng nhi câu bại;
Các xứ tặc thành, bất huyết nhận nhi tự khai.
Trạo vĩ khất liên, thành thiết kham ai.
Đương thử chi thì, khởi bất tự Câu Tiễn chi khốn Ngô vương vu Cô Tô đài giả gia?
Tuy nhiên,
Hán Cao chi quy mô hoành vi, chính tự Ngô hoàng kim nhật chi thịnh;
Câu Tiễn đặc thủ kỳ phục cừu chi chí nhi kỷ, khởi túc dĩ nghĩ nghị kỳ vạn nhất tai.
Chí nhược:
Thần võ bất nghị, đại đức hảo sinh.
Niệm quốc gia trưởng cửu chi kế,
Phóng thập vạn khất giáng chi binh.
Tu lưỡng quốc chi hoà hảo,
Tức vạn thế chi chiến tranh.
Toàn quốc vi thượng, duy đồ tập ninh.
Thị tắc ngã hoàng chi thịnh đức,
Hựu khởi Cao Tổ đồng nhật chi câu ngữ,
Tướng dữ Nhị Đế, Tam Vương nhi tịnh xưng giả dã.
Ta hồ!
Cổ vãng kim lai, bách thế khả thôi.
Nghiêu hưng Đường hầu, Thuấn khởi trắc vi.
Thành Thang chi tai tự Hào,
Thái vương chi thiên vu Kỳ.
Cái đa nan nãi điển bang chi bản,
Nhi ân ưu thực khởi thánh chi cơ.
Lịch biến đa tắc tư hư thâm,
Kế sự viễn tắc thành công kỳ.
Đế vương chi hưng, mạc bất do tư.
Nhiên tắc, ngã hoàng chi nghiệp,
Thực do thử sơn nhi sang thuỷ;
Nhi ngã hoàng chi long công thịnh đức,
Trưởng dữ thử sơn nhi nguy nguy giả hồ!
Nãi bái thủ kê thủ nhi hiến ca viết:
Thiên khởi thánh hề địa hưng vương;
Càn khôn thảo muội hề vận tế phi thường.
Đổ tư sơn chi nga nga hề, niệm tích nhật chi gian khổ;
Phủ vương nghiệp chi du cơ hề, hà nhật năng vương.
Nguyện kỷ thịnh đức dĩ lặc trinh mân hề, vĩnh thuỳ bất hủ;
Tuyên thiên cổ dữ vạn cổ hề, đồng thiên địa nhi trưởng cửu.
Trang trong tổng số 1 trang (3 bài trả lời)
[1]
Gửi bởi Vanachi ngày 04/01/2007 16:41
Có 1 người thích
Rồng thiêng dậy, bay rợp Lam Kinh
Giáo trời chỉ, dẹp tan bắc binh
Dựng nước thành công nhiều khó nhọc
Miền Tây sông núi hẳn anh linh
Ôi! Vua ta tài thánh vũ
Đứng lên bốn phương kinh dinh
Vận nước gian truân, khổ tâm lo tính
Thấy lẽ tất yếu của trời càng quyết chí để nghiệp thành
Nhờ thế ngày nay Hồ Việt đưọc một nhà, mà núi này cũng lưu danh muôn thuở
Khi nghĩa quân mới dấy là lúc thế giặc đương hăng
Anh hào cả nước lưa thưa như lá thu gặp sương
Chí nuốt giặc Ngô, ai Chủng, ai Lãi
Mưu dựng nghiệp Hán, ai Bình, ai Lương
Vua ta ẩn náu núi này, đành bặt tăm hơi, bưng kín ánh sáng
Vợ con lưu lạc, quân sĩ tha phương
Trong cảnh khốn vẫn bền lòng, vững tin ở ngày hưng vượng
Lấy giáo sắt làm áo mặc, lấy rễ lau làm quân lương
Chí rộn ràng lo khôi phục, lòng u uất thật khôn lường
Tưởng núi này lúc ấy khác nào đất Mang Đăng khi Hán hoàng khởi nghiệp
Biết người, biết mình, khi mềm, khi mạnh
Chờ thời, rình mệt, giấu nhọn, che sắc
Gôi củi nằm gai, ngậm cay nuốt đắng
Lo rửa nhục trước, giành lại quê hương
Tưởng núi này khi đó khác nào đất Cối Kê thời Việt vương ẩn náu
Thế rồi, thu nhặt tàn quân, nuôi dưỡng ân cần
Trong sửa chiến cụ, ngoài giả hoà thân
Quyên tiền mộ lính, giết voi khao quân
Ai cũng thân người trên, chết cho người trưởng, cố sức để đền ân
Từ đấy, luyện quân kén tướng, đánh địch ra kỳ
Chết vinh hơn sống nhục, biết quân ta dùng đuợc
Lấy của giặc đánh giặc, thu quân lương vũ khí
Vẹn toàn vững kế, một mũi tên không để phí
Cầm Bành rạp đầu dâng đất
Phương Chính khiếp vía chạy dài
Bèn giữ hiểm để lập công
Lại nhiều phương lừa đánh địch
Đêm lửa đốt, ngày cờ bay
Sớm chiếm Đỗ Gia, giành thế tiện trên núi ấy
Trước vượt Khả Lưu, đánh đắm địch trên sông này
Nhưng thịnh đức của vua ta ngày nay, chỉ quy mô rộnh lớn của Hán Cao Tổ mới sánh kịp
Còn như Câu Tiễn, ngoài chí phục thù là đáng kể, thì trong muôn phần không so được với vua ta
Đến như: uy thần chẳng giết, đức lớn hiếu sinh
Nghĩ kế nước nhà trường cửu
Tha cho mười vạn hàng binh
Gây lại hoà hảo hai nước
Dập tắt chiến tranh cho muôn đời
Địch phải theo thượng sách: hai nước vẹn toàn dân được an ninh
Như thế thì thịnh đức của vua ta Cao tổ nhà Hán sao sánh kịp
Vua ta phải sánh ngang hàng với hai đế ba vương lừng danh thuở trước
Than ôi! Xưa nay đi lại, trăm đời nên nghĩ
Nghiêu nổi dậy từ Đường hầu, Thuấn khởi dậy tự hàn vi
Thành Thang dấy nghĩa nơi đất bạc, Thái vương khởi binh tại núi Kỳ
Nhiều hoạn nạn là nền dựng nước
Lắm lo toan là gốc trị vì
Biến cố trải nhiều thì suy nghĩ sâu
Mọi việc lo trước thì thành công kì
Nối nghiệp đế vương, không thể khác thế
Vậy thì vua ta dựng nghiệp thật đã tự núi này trở đi
Công cao đức cả của vua ta cũng sẽ cùng núi này hùng vĩ muôn đời
Bèn cúi đầu chắp tay, dâng lời ca rằng
Trời sinh vua thánh, đất dấy nghiệp vương
Càn khôn mờ mịt, vận hội phi thường
Nhìn Linh Sơn cao vút, nhớ những ngày gian khổ
Vỗ nghiệp vương bền vững, không một ngày xao lãng
Xin ghi thịnh đức vào đá, lưu truyền bất hủ
Ngàn vạn đời sau, vẫn cùng trời đất dài lâu.
Gửi bởi Vanachi ngày 21/08/2008 08:57
Rồng thiêng bay chừ trên Lam Kinh,
Giáo trời chỉ chừ ải Bắc yên.
Sáng nghiệp thành công bao khó nhọc,
Núi sông miền Tây thật là thiêng!
Ôi! Vua ta tài thánh võ,
Gánh việc bốn phương kinh doanh,
Lao tâm khổ tứ,
Vận nước gian truân.
Đã do trời mà biết thời,
Lại cố chí để công thành.
Nhờ thế ngày nay Hồ - Việt mới hoá một nhà,
Mà núi này được thiên cổ lưu danh.
Khi nghĩa binh mới nổi, thế giặc hoành hành,
Cả nước anh hào như lá thu sương.
Chí nuốt Ngô chừ, ai là Chủng? ai là Lãi?
Mưu hưng Hán chừ, ai là Bình? ai là Lương?
Vua ta giấu vết ở núi này, đành nín hơi để náu nương.
Vợ con lưu ly, quân sĩ tan tác,
Tuy khốn đốn mà lại hay, vì có điều sắp vẻ vang.
Mang giáp trụ để che thân, lấy củ rau để làm lương.
Chí hăm hở lo toan, lòng căm tức chẳng hề quên.
Tưởng núi này lúc bấy giờ chừ khác nào núi Mang Đãng của vua Hán.
Bởi biết người biết mình, hay yếu hay mạnh.
Đợi thời chờ dịp, giấu sắc giấu tài.
Ăn thường nếm mật, ngủ thường nằm gai.
Lo rửa nhục cũ, khôi phục đất xưa,
Tưởng núi này lúc bấy giờ chừ há chẳng giống núi Cối Kê dung Việt vương hay sao?
Rồi thu thập tàn quân, nuôi vỗ ân cần,
Trong rèn chiến cụ, ngoài giả hoà thân,
Bỏ vàng mộ lính, giết voi khao quân.
Ai cũng mến vua mà liều chết,
Ai cũng muốn ra sức để đền ân.
Thế rồi luyện binh, kén tướng, mưu cao như thần,
Sống nhục thà thác vinh, biết quân ta khả dụng.
Lương thực khí giới do giặc cấp cho mình,
Vạn toàn quyết thắng, một mũi tên không coi khinh.
Cầm Bành dập đầu để hiến đất,
Phương Chính đứt hơi mà hồn kinh.
Liền giữ hiểm để lập công, lại dùng mưu để lừa địch,
Đêm thì đốt lửa, ngày thì kéo cờ.
Chiếm Đỗ Gia để tranh chỗ lợi,
Qua Khả Lưu vượt sông để đánh đắm quân thù.
Sấm vang chớp giật, trúc chẻ tro bay.
Chu Kiệt bỏ cũi, Hoàng Thành phơi thây.
Đất Nghệ An chiếm lại,
Tây Đô thu nhanh về tay.
Gạo nước đón rước, người theo đường đầy.
Hào kiệt nghiến răng vì căm giận,
Phụ lão nức nở thấy ngày nay.
Tiếng quân ta ngày càng vang dậy,
Giặc mỏi mệt ngày càng thua chạy.
Trận Thị Cầu như ổ kiến làm đê vỡ,
Trận Tốt Động như gió mạnh gãy cành cây.
Trần Hiệp, Lý Lượng như dưới hố cọp sa,
Vương Thông, Mã Kỳ như vạc sôi cá nhảy.
Muôn dặm non sông thu phục lại,
Đông Đô phường phố vẫn y nguyên.
Lúc bấy giờ khác nào Hán Cao bốn mặt vây Cai Hạ.
Thế mà,
Lòng tham của giặc còn không nén,
Đốc quân cả nước lại kéo đến.
Chữa cháy thêm dầu, vui hoạ thích tai.
Nên Liễu Thăng bỏ mạng mà Chi Lăng máu chảy,
Mộc Thạnh trốn đêm mà Lãnh Câu đầy thây.
Viện binh hai đạo chưa kịp trở gót mà đại bại,
Thành giặc các nơi không đổ máu mà mở cửa ra hàng.
Vẫy đuôi xin tha, thảm thiết kêu than.
Lúc bấy giờ há lại chẳng giống Câu Tiễn vây Ngô vương ở đài Cô Tô hay sao?
Tuy nhiên,
Quy mô to lớn của Hán Cao cũng giống như đức thịnh của vua ta ngày nay,
Còn Câu Tiễn chỉ lo thoả chí phục thù há lại có thể muôn một sánh tày.
Đến như:
Thần võ không giết, đức lớn hiếu sinh.
Nghĩ vì kế lâu dài của nhà nước,
Tha kẻ hàng mười vạn sĩ binh.
Sửa hoà hiếu cho hai nước,
Tắt muôn đời chiến tranh.
Chỉ cần vẹn đất, cốt sao an ninh.
Như thế thịnh đức của vua ta,
Há Hán Câo có thể sánh được,
Mà phải cùng khen với Nhị Đế, Tam Hoàng kia.
Than ôi!
Từ xưa đến nay, trăm đời đổi thay.
Nghiêu từ Đường hầu, Thuần từ hàn vi,
Thành Thang mở đầu từ núi Bạc,
Thái vương dời sang đất Kỳ.
Thế là bởi tai nạn nhiều là gốc dựng nước,
Lo nghĩ nhiều là cái nền mở nghiệp thánh.
Trải nhiều biến thì mưu kế sâu,
Tính việc xa thì thành công kỳ.
Đế vương nổi lên được, bắt đầu từ đấy.
Nhưng sự nghiệp vua ta,
Khởi thuỷ từ lúc này.
Mà công cao đức lớn của vua ta,
Cùng với núi này vòi vọi mãi chăng?
Liền cúi đầu mà dâng lời ca rằng:
Trời sinh thánh chừ, đất dựng vương,
Càn khôn mờ mịt chừ, vận hội phi thường.
Thấy núi này vòi vọi chừ, nhớ đến gian khổ xưa,
Vỗ nền vương nghiệp chừ, mãi mãi vấn vương!
Xin ghi thịnh đức vào đá chừ, để truyền mãi mãi về sau.
Suốt thiên cổ, xạn cổ chừ cùng trời đất cửu trường.
Gửi bởi Albus Llong ngày 23/07/2026 09:18
Mình nghĩ là bài thơ có tên là 'Phú đến Linh Sơn' chứ không phải là 'Phú núi Chí Linh'.
Vì nội dung bài phú chỉ nhắc đến Linh Sơn và Bình Ngô đại cáo cũng nhắc đến Linh Sơn.
Cách gán 'núi Chí Linh' có vẻ rất là gượng ép, không phù hợp với văn phong của Nguyễn Trãi.
Có thể hiểu là bài phú được viết khi Nguyễn Trãi quay trở lại Linh Sơn sau khi nước ta chiến thắng hoàn toàn giặc Minh, và Vua Lê Thái Tổ xác lập lại chủ quyền, độc lập và toàn vẹn lãnh thổ...
Bình luận nhanh 0
Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.