再為人代擬紀功碑文更無所得因賦以示

碑文不似祭文焚,
鑿鑿流傳未易云。
長短已難千里度,
是非猶有百年聞。
近來學殖多荒落,
況值時艱太泯紛。
君且歸來當日得,
皇都不少頌功文。

 

Tái vị nhân đại nghĩ kỷ công bi văn cánh vô sở đắc nhân phú dĩ thị

Bi văn bất tự tế văn phần,
Tạc tạc lưu truyền vị dị vân.
Trường đoản dĩ nan thiên lý đạc,
Thị phi do hữu bách niên văn.
Cận lai học thực đa hoang lạc,
Huống trị thời gian thái dẫn phân.
Quân thả quy lai đương nhật đắc,
Hoàng đô bất thiểu tụng công văn.

 

Dịch nghĩa

Văn bia không đốt đi như văn tế
Ghi rành rành để lưu truyền mãi về sau không phải là việc dễ
Dài hay ngắn đã khó mà đo được nghìn dặm
Phải hay trái còn có người trăm năm sau biết
Gần đây sự học đã hoang phí nhiều
Huống chi gặp buổi đời khó khăn lắm sự rối ren
Anh hãy trở về tìm lấy thì sẽ được
Thứ văn tán tụng công đức kinh đô không thiếu!


Rút từ Quế Sơn tam nguyên thi tập (A.3160).

Nguồn: Trần Văn Nhĩ, Tuyển tập thơ chữ Hán Nguyễn Khuyến, NXB Văn Nghệ, 2005

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Đỗ Đình Tuân

Văn bia văn tế khác nhau thay
Thứ để lâu dài thứ đốt ngay
Văn tế nhân gian không thước đạc
Văm bia hậu thế có người hay
Gần đây sự học nhiều hoang phế
Huống gặp thời cùng lắm dắt dây
Anh hãy trở về tìm sẽ thấy
Kinh đô tán tụng ối văn này

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Đinh Tú Anh

Văn bia không đốt như văn tế,
Lưu lại ngàn sau việc chẳng dễ.
Ngắn dài một đoạn khó người khen,
Phải trái trăm năm còn kẻ chế.
Học đã phôi phai nghĩ chẳng ra,
Đời đương bức bối càng không thể.
Thôi anh tự kiếm chốn kinh đô,
Văn tán tụng này kiếm cũng dễ.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời