題宋珍墓

八歲才名壓眾豪,
大鵬風力志雲霄。
三千策對詞鋒銳,
萬里觀光使節高。
心點精誠驚惡獸,
獄情剖決析秋毫。
九泉誰作千年鬼,
為拂叢荒仿俊髦。

 

Đề Tống Trân mộ

Bát tuế tài danh áp chúng hào,
Đại bằng phong lực chí vân tiêu.
Tam thiên sách đối từ phong nhuệ,
Vạn lý quan quang sứ tiết cao.
Tâm điểm tinh thành kinh ác thú,
Ngục tình phẫu quyết tích thu hào.
Cửu tuyền thuỳ tác thiên niên quỷ,
Vị phất tùng hoang phỏng tuấn mao.

 

Dịch nghĩa

Mới tám tuổi đã là bậc tài danh hơn người,
Như chim đại bàng được sức gió, chí vươn tới tầng mây bầu trời.
Bài đối sách ba ngàn chữ lời lời sắc nhọn,
Đi sứ ngoài muôn dặm, lá cờ tiết giương cao.
Tấm lòng tinh thành làm kinh sợ cả thú dữ,
Việc án hình đã phán quyết kỹ càng chi ly.
Ai đó làm ma nghìn năm nơi chín suối,
Xin vạch cỏ cây hoang dại mà thăm viếng bậc nhân tài.


Tuyển từ Yên Đổ tiến sĩ thi tập (VHv.1864).

Tống Trân là nhân vật không phải trong chính sử, mà trong truyện Nôm khuyết danh Tống Trân - Cúc Hoa. Tống Trân nhà nghèo phải dắt mẹ đi ăn mày, được con gái phú ông là Cúc Hoa thương yêu, lấy làm chồng và nuôi ăn học. Năm lên tám tuổi, Tống Trân đỗ trạng nguyên, được cử đi sứ Tàu. Do ứng phó tài trí, vua Tàu phong làm Lưỡng quốc trạng nguyên và gả công chúa cho. Tương truyền ông có mộ ở huyện Phù Tiên, tỉnh Hưng Yên.

Nguồn: Trần Văn Nhĩ, Tuyển tập thơ chữ Hán Nguyễn Khuyến, NXB Văn Nghệ, 2005

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Trần Văn Nhĩ

Anh hào tám tuổi đã lừng danh,
Được gió tung mây thoả chí bằng.
Cờ sứ giương cao đường vạn dặm,
Đối văn sắc nhọn chữ ba ngàn.
Giãi lòng hiếu nghĩa kinh muông thú,
Xét việc tinh tường thoả án hình.
Ai đó ngàn năm ma chín suối,
Vạch cây tìm viếng bậc anh tài.

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Trương Việt Linh

Tám tuổi tài danh đã vượt người,
Chim bằng tung gió thoả trời mây.
Đối văn sắc nhọn ba ngàn chữ,
Cờ tiết giương cao vạn dặm dài.
Hiếu nghĩa giãi bày kinh thú dữ,
Án hình nghiêm mật chẳng đơn sai.
Hồn ma chín suối ngàn năm nữa,
Vạch cỏ đi tìm viếng mộ ai.

Chưa có đánh giá nào
Trả lời