Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Thơ tự do
Thời kỳ: Hiện đại

Đăng bởi tôn tiền tử vào 20/09/2014 06:07

Đất nước đắm chìm trong đêm đen nô lệ
Dân Thanh Chương một cổ hai tròng
Bọn thực dân róc xương nạo tuỷ
Bầy chúa đất giật miếng cơm ăn.

Mang tiếng dân cày mà không có ruộng
Ruộng của nhà giàu, phe giáp, nhà chung
Mồ hôi sôi trên cánh đồng địa chủ
Ngày làm thuê: đàn coi đói nằm chờ!

Muốn có ruộng phải trằn lưng khai phá
Nơi đồng lầy, nơi đất sỏi... ngược xuôi
Ruộng bậc thang, mưa xong hết nước
Lúa ngậm đòng, chó chạy hở đuôi
Sao Trời ở không cân thế mẹ?
Địa chủ, cường hào dãy dọc, toà ngang
Nuôi đàn chó vện, vàng béo múp
Cơm trắng thịt bò vãi khắp sân.
Ông Trị Mục thì mùa hè đóng khố
Còn mùa đông ốp bao tải quanh người
Lót lá chuối khô, bước đi sột soạt
Ông vừa đi, vừa múa, vừa cười:
Hát rằng:
Nỏ thằng mô sướng như tao
Ngủ ngay giữa đất, trời sao là nhà!
Mặc quân Tây, mặc quan ta
Thuế thân, thuế chó, thuế nhà cũng không!

Chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt
Lại ra sức chống với thú rừng
(Chống bầy thú mặt người càng khó!)
Người dân lành phải cố kết cùng nhau
Phải làm nhiều nghề, phải vô phường hội
Phường rẫy, phường săn, phường đốt than
Phường đi bè, phường vạn chài, dệt cửi
Phường trồng dâu, phường bầu bạn sơn tràng...
ÔI đất nghèo cũng lên xanh lộc biếc
Đất tưới nhuần vì đã đẫm mồ hôi
Ngô khoai bốn mùa lên cùng luác nước
Cả bốn mùa ruộng rẫy cứ xanh tươi.
Chỉ riêng khoai cũng mùa nào thức nấy
Khoai lang, khoai sọ, lại khoai từ
Khoai đao riềng, khoai hoàng tinh, khoai vạc
Khoai lặn dỡ về, trang cũng vừa lên

Bưởi, quýt, hồng, trầu cau La Mạc
Cát Ngạn, Văn Ba mía ngọt, trám bùi
Cơm ba lá, cá sông Giăng, măng chợ Chùa hả mẹ?
Tiếng ru hời thưở nhỏ ấm lưng nôi.

Ai về Thanh La xem đan nong, đan cót
Thúng mủng về mua ở chợ Cồn
Quang gánh, chổi tre đi Mỹ Ngọc
Mua nón cho nàng mời đến Đồng Văn...
Quê ở trong hồn như máu thịt
Thấm một đời câu hát mẹ ru
Lời đối đáp chị hái dâu ngoài bãi
Đêm trăng tháng mười, cả xóm oổ cau
Anh hoe Huệ kể chuyện cười nôn ruột
Cười lũ quan tham, cười bọn nhà giàu
Cười mũ cao áo dài mà thậm dốt
Đối đáp gì, mắc lỡm đứa trẻ trâu!

Cười cụ Lý tòm tem con mẹ mõ
Tưởng chồng nó về, rúc đống rau khoai
Chú lợn đói phá chuồng ra ụt ịt
Thầy Lý nằm thấy đầu tóc khai khai

Anh Dũng Giới chưa khi mô chơi nhạc
Mà cầm đàn lên là gẩy thành bài
Rung nốt luyến nghe buồn như tiếng nấc
Tiếng trầm hùng như trúc chẻ, tro bay!

Đất núi biếc sông xanh. Con người trí dũng
Chết đứng còn hơn chịu sống quỳ
Mặc bầy thực dân có gươm có súng
Lòng dân giận sôi máu rồi đây!

Tây về bắt mua rượu Tây. Không chịu
(Rượu toàn mùi bọ xít uống làm sao?)
Mỗi suất đinh một năm gần trăm lít
Đốt ruột gan dân chúng để làm giàu!
Cát Ngạn: Không! Thanh Hưng: Không!
Võ Liệt: Không! Không hết!
Trơ mắt ếch lý trưởng với Tây đồn
Bay say máu thì bay cứ giết
Mồ hôi thấm đất chết đất chôn!

Làng cso đám cưới, đám ma, ỷ men vài lá
Rượu cất từ gạo nhà vừa ngọt vừa thơm
Có hơi nắng của Trời, hơi sương của núi
Uống chén đầu thấy thương nước mình hơn
Uống chén thứ hai: Thương cha, thương mẹ
Uống chén thứ ba: Thương vợ thương con
Uống chén thứ tư thấy xóm làng gần gũi
Chén thứ năm: Vung kiếm diệt sài lang!

- Ông Trị Mục ơi, làm sao ông khóc?
- Ta cười chảy nước mắt đấy thôi!
Ta nghèo khổ được dân làng đùm bọc
Tình cưu mang nặng đến mấy mươi đời!

- Ông Trị Mục cũng văn hoá rứa hẹ?
- Văn hoa chi mô, ta học mót các thầy
Khi tâầy đồ giảng bài, ta nghe lỏm
Nước mắt tràn và sống mũi cay cay.
Có đứa gấm vóc lụa là mà như cóc chết
Trí óc đen mà tâm địa cũng đen
Mặc cho nó ở lầu son, cửa khuyết
Ta dưới bùn vẫn thơm ngát hương sen!

Bà con thương ông góp công, góp sức
Dựng cho ông một túp lều gianh
Vách bốn bên ông bẻ dần hút thuốc
Nằm chõng tre nhìn thấu tận trời xanh...


Nguồn: Thanh Chương tráng khúc, NXB Công an nhân dân, 2003