Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Thơ tự do
Thời kỳ: Hiện đại

Đăng bởi tôn tiền tử vào 20/09/2014 06:22

Tinh mơ từ núi Tam Điệp
Một con ngựa phóng như bay
Kỵ sỹ đầu vấn khăn đỏ
Vút qua núi thẳm, truông dài
Xón thôn lùi lại đằng sau
Mỗi khắc thêm gần chủ soái
Mang tin cấp báo, lòng đau
Ước sao cho đường gần lại
Một trạm, hai trạm, ba trạm
Mấy lần đổi ngựa, thay người
Tuấn mã bờm tung trong nắng
Kỵ sỹ trán đầm mồ hôi
Qua bao đoạn đường phẳng, rậm
Bao nhiêu làng xanh, thôn xanh
Một con trâu cày trên ruộng
Giục người, giục ngựa phi nhanh
Nước non như gấm như hoa
Sông xanh lượn quanh núi biếc
Bản trưa đầm ấm tiếng gà
Khói chiều lam ôm mái bếp
Buồm nâu lững lờ trên sông
Nắng trải chiều vàng lũng hẹp...
Nghe tin giặc dữ tràn qua
Lòng dân sục sôi, căm uất

Tin về đến thành Phú Xuân
Trống giục trước sân đại sảnh
Các vị tướng quân họp bàn
Tuốt kiếm xin thề quyết đánh.
Quân sỹ các cơ, các đội
Mang gươm tụ họp, bồn chồn
Những người dân cày nghèo khổ
Một đời rách áo đói cơm
Đứng dưới cờ đào nghĩa quân
Từ ấp Tây Sơn nổi dậy
Tay không xô huyện, phá thành
Thế mạnh tung mây, cuốn gió
Non sông gồm thu một mối
Điên cuồng, giặc lại tràn sang
Máu sôi trong gan, trong ruột:
- Thề phanh thây bọn Mãn Thanh!
Kỵ binh buộc lại yên cương
Sửa lại dây cung, túi nỏ
Bộ binh tập lại đường gươm
Đấu trường chật người luyện võ

Ở ngoài các phường, các chợ
Lòng dân như bể dầu sôi
Hăm hở bàn mưu chống giặc
Khí giận trào lên ngút trời.
Các bô lão tóc bạc phơ
Có người sống ngoài trăm tuổi
Đã chịu muôn khổ nghìn đau
Nghe tin, lòng như xát muối
Đất nước nghìn năm giặc giã
Hùm beo ở sát nách mình
Bao lần cùm ách đô hộ
Dân mình bẻ gẫy, đứng lên
Các cụ soạn bày hương án
Chí thiêng xin khấn thấu trời
- Nước non này không để mất
Xương tan, thịt nát không lui

Không hẹn mà lòng gặp nhau
Quân sỹ với dân một dạ
Ùn ùn kín sân sảnh đường
Chờ Bắc Bình Vương hiểu dụ

Nguyễn Huệ mặc áo bào đỏ
Đội mũ võ tướng oai nghiêm
Tiếng hô long trời chuyển đất:
- Muôn muôn tuổi, Bắc Bình Vương!

Sang sảng hịch truyền như chuông
- "Trẫm vốn là dân áo vải
Chẳng hề có chí làm vua
Tay quen cuốc cày sớm tối.
Nhưng sinh ra trong thời loạn
Thương dân trong cảnh điêu linh
Trẫm phải cầm gươm, múa giáo
Góp sức giúp Hoàng đại huynh
(Từng lời sang sảng vang xa
Vọng đầu hàng quân đến cuối
Trầm hùng, sôi nổi, thiết tha
Trong mỗi tim người, gió nổi.
Hàng vạn nghĩa binh đứng lặng
Bâng khuâng nhớ lại những ngày
Quan nha về làng đốc thuế
Dây thừng trói lằn cánh tay
Ngày đông, thân trần chiếc khố
Ngụp dưới biển sâu mò trai
Đêm hè vào rừng săn hổ
Sáng về roi vụt bầm vai)

"Hai lần gây dựng non sông
Trả lại nhà Lê xã tắc
Vua tôi bỏ nước bôn vong
Hèn hạ khom lưng cõng giặc.
Nghìn năm đã phân cương vực
Nước Nam là của người Nam
Giặc hòng chia thành quận huyện
Há quên nhìn gương Tống, Nguyên?
Hôm nay, trên thuận ý trời
Dưới hợp lòng dân mong ước
Trẫm đọc chiếu, lên ngôi vua
Để cùng ba quân đánh giặc.
Đất đai một tấc cũng giữ
Núi sông bền vững nghìn năm!"
Những lồng ngực trẻ phồng căng
Rướn người tung hô "vạn tuế"
Trên đài, vua nhìn ba quân
Mắt dài, hiền như mắt mẹ


Nguồn: Trống trận đêm xuân, NXB Kim Đồng, 1970