Chưa có đánh giá nào
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong
Thời kỳ: Trung Đường
2 bài trả lời: 2 bản dịch

Đăng bởi Lâm Xuân Hương vào 16/04/2017 21:34

秋懷其二

秋月須色冰,
老客志氣單。
冷露滴夢破,
峭風梳骨寒。
席上印病文,
腸中轉愁盤。
疑懷無所憑,
虛聽多無端。
梧桐枯崢嶸,
聲響如哀彈。

 

Thu hoài kỳ 2

Thu nguyệt tu sắc băng,
Lão khách chí khí đan.
Lãnh sương trích mộng phá,
Tiêu phong sơ cốt hàn.
Tịch thượng ấn bệnh văn,
Trường trung chuyển sầu bàn.
Nghi hoài vô sở bằng,
Hư thính đa vô đoan.
Ngô đồng khô tranh vanh,
Thanh hưởng như ai đàn.

 

Dịch nghĩa

Vẻ trăng ngày thu lạnh lẽo,
Chí khí kẻ xa nhà lâu năm thấy đơn lẻ.
Tiếng hạt sương lạnh rơi tí tách phá giấc ngủ,
Gió núi lạnh thấu xương.
Nằm bệnh vết hằn in trên chiếu,
Trong lòng nỗi buồn phiền day dứt.
Hoài nghi không cơ sở,
Nghe lầm không nguyên do.
Cây ngô đồng khô héo cao lênh khênh,
Gió thổi phát âm thanh như tiếng đàn ai oán.


Nguồn: Đường thi tuyển, Mã Mậu Nguyên, Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã, 1999

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Minh

Vầng trăng lộ vẻ thu giá lạnh
Xa nhà lâu sống cảnh cô đơn
Sương rơi mất ngủ canh trường
Gió từ núi lạnh thấu xương thổi về
Nằm bệnh hoài vết đè in chiếu
Lòng u buồn biểu hiệu khôn nguôi
Hoài nghi không cơ sở rồi
Nghe lầm cũng chẳng rạch ròi nguyên do
Ngô đồng cao ngất héo khô
Âm thanh ai oán tựa hồ đàn rung.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Trần Đông Phong

Trăng thu thoáng vẻ băng trong
Khách già ý chí nỗi lòng cô đơn
Sương lạnh rỏ phá mộng còn
Chải xương buốt giá gió cơn lạnh lùng
Chiếu bệnh hằn vết dấu lưng
Ruột gan xoay chuyển nghĩ lung mối sầu
Hoài nghi có cớ gì đâu
Nghe sai nhiều lúc không đầu mối so
Ngô đồng chót vót cành khô
Tiếng đàn vang vọng mơ hồ bi ai.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời