Thơ » Việt Nam » Khuyết danh Việt Nam » Thơ dân gian » Vè, đồng dao » Vè địa danh, lịch sử, xã hội
Đăng bởi tôn tiền tử vào Hôm nay 09:40
Năm Mùi thời khí bất an,
Hiệu trời phướn đỏ, rìa vàng, tán xanh.
Ngó vô Nam Việt nước mình,
Cái việc triều đình khuy khuyết thậm đa.
Phần thì Tây qua lấn lướt nước nhà,
Phần thì Ngọc hoàng xuống rước vua ta về trời.
Thánh hoàng di chúc trị ngôi,
Ngài thời vô tử, ngài thời dụng tôn.
Sách có chữ: vô tử dụng tôn,
Lấy câu miêu duệ tử tôn lưu toàn.
Thánh hoàng di chúc đã an,
Phán cùng văn võ bá quan một lời:
Ngày nay lá rụng cành rơi,
Cứ câu lễ lệ việc đời mà phân.
Đạo quân thần chớ vong ân,
Hoàng thiên hữu nhãn mười phần xét soi.
Thánh hoàng di chúc đã rồi,
Đằng vân giá vũ về trời một khi,
Bá quan hiệp diện đơn trì,
Hai hàng châu luỵ phân li ròng ròng!
Can qua tả đột hữu xung,
Nam Quan, Bắc Lạng đã không ra gì.
Ta hồ thánh đế ai bì,
Quân thần phụ tử, vậy thì nghĩa trung.
Bá quan bái mạng đền rồng,
Sanh an tử thuận, lo trong nước nhà.
Bá quan bái xá lui ra,
Hiệp diện chương toà, phụng sắc ký phong.
Bá quan văn võ hội đồng,
Soạn sành nghi giá, đặng hòng rước ngôi.
Sấm kí để lại đã rồi,
Triều đình văn võ vậy thời dự tri.
Ngày mai hiệp diện đơn trì,
Văn danh thiên hạ vậy thì được hay.
Trị ngôi mới được ba ngày,
Xung lăng đột khuyết, mới hay sự tình.
Lập lường bố trận bài binh,
Mới hay sự tình tịch cốc chung thân.
Bá quan văn võ đình thần,
Ai ai đều cũng phân vân việc đời.
Khó thay bẻ nạng chống trời,
Nói ra thì được, sợ thời tội hung.
Đáo để cho ông Phan Đình Phùng,
Nói lời trung nghĩa, mắc vòng gian nan.
Triều đình văn võ bá quan,
Ai ai cũng muốn cho toàn thân danh.
Mặc lòng hai gã quyền hành,
Muốn cho ai bại ai thành thì cho.
Triều đình nói nhỏ nói to,
Lai hàng giữ một chữ phò mà thôi.
Ba ngang một sổ hẳn rồi,
Ai thêm chữ bạch thành noi chữ hoàng.
Tưởng là một số ba ngang,
Thành noi chữ hoàng là số thiên cơ.
Các động cẩn mật đến giờ,
Mã thượng phi đệ, tín thư thông hành.
Nhộn nhàng khác thể rồng đoanh,
Tỏ tưởng mới biết trạch danh trí tài.
Chữ lương chữ nguyệt đứng bên vai,
Trạch danh trí tài thay vị thế ngôi.
Lập cân nay đã hẳn rồi,
Triều đình văn võ vậy thời định an
Căn duyên cơ nghiệp chu toàn,
Mặc lòng hai gã sửa sang nước nhà.
Thánh hoàng ngài mới băng hà,
Những tham với cách vậy mà tứ tung.
Tân triều khi ấy hãi hùng,
Vang danh thiên hạ ai cùng đều nghe.
Bốn bề thiên hạ đều ghê,
Quyền hào hai gã đủ bề lợi danh.
Coi trong việc nước đã thành,
Nhộn nhàng binh mã, xưng danh tướng thần.
Ngài đà giá vũ đằng vân,
Bá quan triều thần lo việc táng chung.
Tân triều khi ấy hội đồng,
Tư ra các tỉnh, vậy cùng trị tang.
Tư về phủ huyện, các làng,
Tú tài, bá hộ thọ tang trăm ngày.
Bộ lễ lại giở sách rày,
Văn công lễ lệ cấm nay thiệt nhiều.
Cấm trong xanh, tím, đỏ, điều,
Huỳnh, hồng, lam, sắc màu đều cấm đi.
Nội triều: bạch giáp, bạch y.
Ai mà phi lệ, vậy thì tội hung.
Tư ra các tỉnh cấm đồng,,
Thuấn thiều, Vũ nhạc, vậy cùng cấm đi.
Tế thần, quảy thánh một khi.
Quan, hôn, tang, tế, vậy thì lặng tanh.
Bao giờ tang chế sự thành,
Mặc lòng thiên hạ thiết nghênh hằng hà
Tang nghi đủ thứ bày ra,
Lâu đài các cửa, vậy mà nghiêm trang.
Cung Môn, Cần Chánh, Tiên Đàn,
Tả Vu, Đông Các, ngó sang Nhật Thành.
Văn Minh, Võ Hiển lầu xanh,
Cao Minh, Càn Thành, ngó tới Cung Môn.
Địa đồ khéo dọn, khéo dồn,
Thái Hoà ngó tới Ngọ Môn chín lầu.
Ngọ Mỗn năm cửa, chín lầu,
Trụ cờ tam cấp, Phu Văn Lâu ngoài thành.
Lâu đài các cửa xây quanh,
Ngó vô nội thành, tả hữu miếu xinh,
Phụng Tiên, Gia Thọ, Trường Ninh,
Khâm Văn, Thưởng Thắng, Hoà Bình, Kiều Gia.
Tang nghi đủ thứ bày ra,
Hãy còn một nỗi quân gia chầu hầu:
Nội cung thái giám đứng đầu,
Cẩm y, Loan giá chầu hầu tại ngai.
Kỉnh tất, Hộ vệ đứng ngoài,
Thượng trà, Võ bị liệt bài nghiêm trang.
Hoà thanh, Túc vệ, Ngô Tràng,
Chầu hầu thánh đế nghiêm trang thay là.
Tang nghi đủ thứ bày ra,
Tế Thông, Kim Đĩnh, với mà Tường Long.
Chầu hầu thuỷ bộ ròng ròng,
Long châu cự hải song song hai hàng.
Đủ mặt văn võ bá quan,
Tang nghi thiết lập, trị tang hết lòng.
Đạo trời ở cho hết lòng,
Bộ lễ, Khâm giám hội đồng trạch ngay.
Nguyệt Tiền, Thiên Đức mới hay,
Hai mươi tháng tám được ngày táng chung.
Tân triều khi ấy hội đồng,
Ai ai đều cũng táng chung sự hoàn.
Tưởng là nhà nước đã an,
Chẳng hay Tây lại trong Hàn một khi.
Tỉnh quan tả sớ tức thì,
Mã thượng phi đệ, vậy thì thông tin.
Bộ quan chẳng dám điềm nhiên,
Tựu tại dinh tiền, khi ấy tâu qua:
“Tàu Tây tám chiếc Sơn Chà,
Hẳn như mật sớ, tâu qua Cửu trùng.”
Thánh hoàng phán hỏi triều trung:
“Tây phiên sứ sự, lệ dùng vật chi?”
Bá qua tâu trước đơn trì:
Hoàng ngưu, kê noãn, vậy thì tiếp nghênh;
Tây phiên dùng thực vật sinh,
Tâu qua thánh thánh đế phân minh rõ ràng.
Thánh hoàng phán trước ngai vàng,
Đình thần kí tấu rõ ràng đục trong.
Mới hay ngôn ngữ bất đồng,
Nước thời khác nước, nhìn ròng mà thôi!
Kể từ năm Ngọ kể lui,
Mực sa xuống giấy, dễ chùi mực ra.
Tiên triều trước có giao hoà,
Cho nên Tây chiếm hãm Gia Định thành.
Chiếm rồi họ lại sự sanh,
Chiếm Gia Định thành, nhà nước suy vi.
Thánh hoàng phán trước đơn trì,
Khuyến triều hỉ lạc vậy thì hân hoan.
Miễn là mai táng sự hoàn,
Sanh an tử thuận cho an nước nhà.
Bữa rằm tàu đậu Sơn Chà,
Bước qua mười sáu, Tây ra Hải thành.
Tàu ra thời ấy bình minh,
Nó đòi vô cửa, quan Tiễu mình không cho.
Tây phiên dụng chước mưu đồ,
Trước xin thọ chế, sau phò Nam vương.
Trước thời thọ chế thánh vương,
Sau thời thương thuyết cái đường quốc gia.
Quan Tiễu khi ấy truyền ra,
Vọng lâu cờ kéo vậy mà không tin.
Nội chư đồn luỹ giữ gìn,
Tam tài cờ kéo không tin, phải phòng.
Sai người đệ bức thư phong:
“Tâu cùng thánh đế với cùng bá quan:
Tây phiên đã tới Thuận An,
Hoả tàu tám chiếc, tợ ngàn thiên binh.
Thưa quan văn võ triều đình,
Nguyện xin hiệp chiến giao chinh thi tài.
Làm chị rày vãng mai lai,
Bày ra yến ẩm tốn hoài của vua.”
Quan Tiễu phân binh hai tua,
Đạo tiền đóng tự vùng chùa hoàng cung.
Luỹ tả luỹ hữu đạo trung,
Hãy còn đạo hậu đóng trong Hải đài.
Ngài truyền súng vác, cờ đai,
Quan Tiễu khi ấy liệu bài can qua.
Cũng đều bố trận can qua,
Quan Tiễu trở lại đồn Hoà một khi.
Ngài qua đò của một khi,
Truyền quân cơm nước vậy thì nghỉ ngơi.
Tưởng là nói rứa mà chơi,
Ai hay nó ở ngoài vời bắn vô.
Thiên binh vạn mã hải hồ,
Đều nghe tiếng súng bắn vô rộn ràng.
Đò dọc cho chí đò ngang,
Đều nghe súng bắn, tìm đàng lánh thân.
Hai bên phố xá, xóm phường,
Đều nghe tiếng súng, tìm đường chạy xa.
Phen ni bỏ của bỏ nhà,
Dắt con cùng vợ chạy ra tức thì.
Dắt con cùng vợ chạy đi,
Kẻ qua Vĩnh Trị, người thì lên Dnh.
Lao xao thiên hạ vô tình,
Phen ni mới biết, thất kinh nhưng là.
Rộn ràng kẻ khóc người la,
Phen ni cũng bởi vậy mà giặc Tây.
Bắn hôm mười sáu nửa ngày,
Từ trưa đến tối, súng rày lặng tanh.
Trên thành khiển tướng, điều binh,
Bước qua mười bảy, giao chinh đì đùng.
Quân mình tả đột hữu xung,
Quan sai quân bắn, bắn không trúng gì.
Khói lên hình tợ long phi,
Đạn ra ngoài biển, trúng gì chẳng hay.
Tây bắn vô, người lọi chân, kẻ lọi tay,
Bể đầu, lủng ruột, khổ này dân ta!
Sở lên tâu gấp chương toà:
“Tâu cùng thánh đế, vậy mà bá quan:
Cho quân hậu tiếp hai ngàn,
Lựa người võ cử, am nhàn mời đi.”
Thánh hoàng hạ bút một khi,
Ngài phê quan Tướng ra đi Hải thành.
Lựa người giáo dưỡng, anh danh,
Võ cử tuỳ phái, hậu hành rất đông.
Ra tài tả đột hữu xung,
Nhất sanh nhất tử kéo công theo thầy.
Phen này quyết đánh cùng Tây,
Thuận An thất thủ, trời rày hại ta.
Nửa đêm giờ tí canh ba,
Truyền quân mở cửa Đông Ba tức thì.
Nửa đêm giờ tí kéo đi,
Ngài xuống phố Lỡ, ngài thì trở lui.
Sớ lên tâu gấp tức thời:
“Tướng quân lâm bệnh, ngài hồi bổn dinh,
Cờ lệnh nộp lại giao đình.”
Bá quan văn võ làm thinh nhưng là.
Ai mà bày tội lệ ra,
Những tham với cách giao qua Bộ hình.
Việc triều lại ở không minh,
Cường ngôn nghịch lí niết tình mà thôi.
Bữa hôm mười bảy tối trời
Gió bay mây tụ, quân thời ngủ ngon.
Canh năm trống điểm lầu son,
Truyền quân cơm nước, gạo còn đương bo.
Gió tây thổi xuống vo vo,
Phần thời sóng vỗ cái to bằng nhà.
Ước chừng làm chỗ phong ba,
Lạy trời phù hộ nước nhà một khi.
Quan quân lao khổ làm ri,
Ngày thì dãi nắng, đêm thì dầm sương.
Quan quân lao khổ trăm đường,
Lạy trời phù hộ thánh vương Nam trào!
Ai ngờ Tây nó đánh trận xà bao,
Nhắm chừng Cửa Lấp nước vào, nhảy vô.
Thiên binh vạn mã hải hồ,
Hắn lên phân toán, hắn hô bắn liền!
Bắn thì phát thẳng, phát xiên,
Nội quân đạo tiền chết hết một khi.
Hai ngàn lính Quảng Trà My,
Cũng đều chết hết, còn gì nữa đâu!
Người nhảy ra phá ngập đầu,
Người chết nằm sấp dãi dầu mà kinh.
Giờ mẹo nó đã giao chinh,
Hai bên thiên hạ thất kinh nhưng là.
Tưng bừng người khóc kẻ la,
Kêu trời van đất, khói ra bịt bùng.
Súng Tây nó bắn đì đùng,
Kho tàng cũng trúc, dừa cùng gãy tan.
Quan quân chẳng biết mấy ngàn,
Trời đà phù hộ cho đoàn lâu la.
Quan Tiễu trở lại đồn Hoà,
Kêu trời ba tiếng, trời mà thấu không?
Nam triều cái cửa hải phòng,
Tây thành chiếm hãm, khổ trong đạo trời!
Hai hàng nước mắt tuôn rơi,
Ai xui Tây tặc hại người trung lương.
Xa vời khốn tính, khốn đương,
Đem quân hậu tiến, khó đường mở vây.
Hai hàng nước mắt chảy ngay,
Truyền quân khí giới bây rày kéo đi.
Sớ lên tâu gấp một khi:
“Tâu cùng thánh đế với thì bá quan:
Tây phiên đã lấy Thuận An,
Quân thời chết hết mà quan chẳng chừa.
Bốn bề súng bắn như mưa,
Oai thương cường hãm, chẳng chừa chi ai.
Quan Hữu tử tại đồn Đài,
Quan Lâm ở ngoài, tự vẫn ngài đi,
Quan quân chết hết liên bì,
Triều đình văn võ mưu chi quân nhờ!”
Triều đình nghe nói ngẩn ngơ,
Thuận An thất thủ bây giờ khốn trông.
Thiên hạ ai cũng đau lòng,
Thương thay binh tướng mắc vòng gian nan!
Bốn bề thiên hạ than van,
Bỗng đâu quan Tiểu băng ngàn kéo lên.
Ngài vô thọ tội trong đền,
Tâu đức hoàng thượng căn duyên sự tình:
“Cúi đầu lạy trước triều đình,
Tôi xin trói mình thọ tội thánh vương!
Xa vời khốn tính, khốn đương,
Hổ thân chiến sĩ không đường lập công.
Đò ngang cầu nổi cũng không,
Oai thương đoạt kẻ anh hùng tài danh.
Tội tôi tôi chịu đã đành,
Trăm lạy triều đình nhất thứ miễn dung.
Tôi xin vâng lệnh cửu trùng,
Nội chư đồn luỹ gắng công bổ bồi.
Ngày thời xây gạch, gánh vôi,
Đêm thời gánh đất, bổ bồi cho xong.
Bua quan khí giới phải phòng,
Thuận An thất thủ, khổ trong nước nhà.”
Bưa vừa hạ sắc phê ra,
Phê quan Trần Thúc xuống hoà cho xong.
Ban cho một chiếc thuyền bồng,
Thuỷ thủ một thập vậy cùng ra đi.
Quan Trần về bộ một khi:
“Bà mày ơi, bà mày hỡi, có nghe thì chi không?
Tôi nay vâng lệnh cửu trùng,
Nhảy xuống thuyền bồng, hoà hợp cùng Tây.”
Bà lão nước mắt chảy ngay:
“Giặc kia mới đánh, ông đi rày can chi không?”
“Bà đừng nói việc thiên thông,
Tôi xuống thuyền bồng, lính thuỷ mười tên.
Cơm vua nợ nước phải đền,
Ví dù giặc đánh một bên cũng liều mình.
Làm người lánh chỗ giao chinh,
Làm quan triều đình mà nói nổi ai?
Bà mày coi trong ngó ngoài,
Trầu phong thuốc điếu vào đai sẵn sàng.
Linh được hốt lấy vài thang,
Để khi nhiệt hàn, lấy nó trị phong.
Những là liên tử, ô long,
Phải đem đi dọi để phòng hộ thân.
Nơi xa cho chí nơi gần,
Phòng khi hỉ lạc, oai ân nhưng là.”
Quan Trần khi ấy truyền ra:
“Truyền quân điểm cổ vậy mà cho xong.
Giờ thìn nhảy xuống thuyền bồng,
Bước qua giờ tị, chèo giong giữa vời.
Truyền quân cơm nước nghỉ ngơi,
Qua đầu giờ Ngọ, tới vời Thảo Long.
Hai hàng nước mắt ròng ròng,
Ngó xuống hải phòng, đồn luỹ nát tan.
Nam triều cái cửa Thuận An,
Tới khi mành gọ, tàu đoàn thông thương.
Đông tây nam bắc bốn phương,
Ngân sưu thuế lệ, tải thường về đây.
Thuận An cảnh thú vui vầy,
Trời đà phò hộ về Tây, hỡi trời!
Nguyện cùng thiên địa phá vời,
Nhất định một lời, nhảy xuống suối ba.
Tội gì y ước giao hoà,
Trung thần đã có người xa kẻ gần.
Tội gì y ước giao lân,
Tây phiên phản tặc giết thần hại binh.
Bây giờ tính lại đoạn tình,
Tôi xin liều mình chín suối Diêm vương.
Mặc lòng thiên hạ lo lường,
Tây phiên phản tặc chẳng thương chi mình.
Nó mưu lấy nước hại binh,
Nó chẳng thương mình, nó lấy Thuận An.”
Giờ thìn có sớ băng ngàn,
Tâu đức hoàng thượng, bá quan triều đình.
Sớ lên tâu gấp triều đình,
Quan Trần tự ải, liều mình biệt ly.
Thánh hoàng phán trước đơn trì:
“Nhà ngươi tự vẫn, ta thì thứ dung.
Lẽ ưng bắt tội bất trung,
Nam triều đang lúc rắn rồng đấu tranh.
Đủ mặt văn võ triều đình,
Nay mà phải xuống thân chinh giao hoà.”
Quan Quận đặt gối tâu qua,
Vâng lệnh thánh đế, giao hoà cùng Tây.
Trên Dinh xuống cửa nửa ngày,
Soạn sanh lễ vật, thiết ngay giao hoà.
Tây phiên hỏi việc giăng ca:
“Ngày xưa ai đánh, nay hoà làm chi?”
Quan Quận thưa lại làm ri:
“Thưa cùng Đại Pháp với thì bá quan,
Bởi vậy đồn luỹ nát tan,
Vì chưng quan Tiễu lấy gan chống trời.
Pháp qua buôn bán mà thôi,
Ngân sưu, thuế lệ nợ đời còn mang.
Ít ai ở đặng chung toàn,
Lấy câu thương mãi cho hoàn thuỷ chung.
Nước nào chẳng có anh hùng,
Có người lương thiện thuỷ chung giao hoà.”
Quan một cho chí quan ba,
Nghe lời quan Quận a ha cười gằn.
Dịch nàng với lại Xu đăng:
“Can chi quan Quận đón ngăn nước nhà?
Nam Việt mà có Tây qua,
Vì lời tiên đế giao hoà thông thương.
Bởi vì các gã tranh cường,
Ra tài cự chiến oai thương phen này.”
Quan Quận nghe nói buồn thay:
“Thưa cùng Đại Pháp, tôi rày lui chân,
Ngu si không rõ tiếng đờn,
Giả như gió thổi không sờn tai trâu”.
Vào lầu, đặt gối quỳ tâu,
Tâu cùng thánh đế mấy câu rõ ràng:
“Mấy lời Tây tặc phiên bang,
Rằng nghe họ nói, lưỡng nan nước nhà.”
Đủ mặt văn võ chư nha,
Lập định mưu kế đáo toà thánh môn.
Thưa đức cha giám mục phần hồn,
Cậy ngài về cửa Thuận giao ngôn tận lời.
Giáo với lương cũng con trời,
Làm chi đáo để, khổ thời quân quan!
Kim thượng nước mắt chứa chan,
Vái cùng thượng đế ngọc hoàng cao xa.
Nghĩ trong cái việc nước nhà,
Thuận An thất thủ khổ mà muôn dân.
Cà kê chân bước dò lần,
Nói với giám mục tương phân thế nào.
Nói cùng quan Quận trong trào,
Bá quan đáo tới lầu cao thánh đường.
Đục trong phân tỏ mối giường,
Lựa lời hơn thiệt, náu nương theo lời.
Thuận An cảnh thú ăn chơi,
Nay mà thất thủ là trời khiến suy.
Qua đò Kẻ Vạn một khi,
Dò lần chân bước, vậy thì tới nơi.
Đức cha chân bước, miệng cười:
“Các quan hà sự, thăm tôi việc gì?
Do hà cần kíp việc chi,
Các quan nói thiệt, vậy thì tôi nghe.”
“Ai hay một nỗi trời đề,
Đám mây cơ hội mà đè đứt chân.
Rày xưa, một chớ hai đừng,
Không nghe mà đánh, quan quân điêu tàn.
Nay mà thất thủ Thuận An,
Quan quân điêu tàn, khốn nỗi thông thương.
Bởi vì các gã tranh cường,
Không nghe lời trước tiên vương giao hoà.
Nước Nam mà có Tây qua,
Tiên vương giao trọn kết, kí qua trọn đời.
Chẳng may tiên đế về trời,
Tây xin thọ chế, sao thời không cho?
Nhân tâm mạc trắc khốn dò,
Bởi vì quan Tiễu không cho mới rầy!
Chừ ra cơ sự dường này,
Quá đa lưỡng khẩu, nói với Tây không rồi.”
Đức cha nghe nói liền cười,
Cười rồi lại nhận mấy lời bá quan.
Các con bổn đạo nghe toàn,
Tam tài xà lúp, xuống Thuận An Tây thuyền.
Việc này cha nói mới yên,
Đi xuống Tây thuyền nói với Lang Sa.
Vui mừng, cười nói ha ha,
Vẳng nghe quan Quận giao hoà răng đây.
Đức cha phân rõ cho hay,
Tà tâm bất chính thêm thay nực cười.
Áp xanh, rượu chát liền mời,
Hội đồng nghị sự, tính thời làm sao.
“Tôi qua giảng đạo Nam trào,
Lập bàn thờ Chúa mấy trào vương nay.
Chừ ra cơ sự làm vầy,
Bề nào cũng nói đạo với Tây một lòng.
Thuận An Nam Việt hải phòng,
Nay mà thất thủ, trong lòng tôi cũng xót xa.
Lòng tôi chẳng phải tây tà,
Bên nào tôi cũng nói ra công bình.
Tôi xuống đây không phải vị tình,
Trước thời Đại Pháp, sau mình Lang Sa.
Đình chùa miếu vũ người ta,
Giao chinh một buổi vậy mà tan hoang.
Bốn bề thiên hạ quân quan,
Kẹt đường khốn chạy, hàm oan phen này.
Ta nay phải xét lời ngay,
Không phải đi xuống nói đây vị tình.
Lâm thương bị đạn tới mình,
Tôi truyền bổn đạo tận tình thuốc thang.
Những người Bình Định, Quảng Nam,
Thừa Thiên, Quảng Trị rộn ràng cháo cơm.
Thắng thời vinh hiển bá quan,
Bại thời phận lính tồi tàn tấm thân.
Thương thay phận lính, phận dân,
Xông tên lướt đạn mười phần khổ thay!”
“Ngày xưa mưu kế ai bày,
Họ sai quan Quận xuống đây giao hoà.
Nghe lời thọ phép đức cha,
Ngày sau nghịch mạng vậy mà hại thay.”
Vui mừng đều cùng bắt tay,
Thưa cùng các gã thăng ngay thánh toà.
Phen này người khóc kẻ la,
Con nít, trẻ già ai cũng đều lo.
Cách vời thì phải đi đò,
Người thời đi bộ tìm cho khắp toàn.
Rưng rưng nước mắt hai hàng,
Thiếp đi tìm chàng, con lại tìm cha.
Lao xao người khóc kẻ la,
Chú bác tìm cháu, anh em mà tìm nhau.
Tình hình ruột lại quặn đau,
Nguyện xin đốt thẻ nhang cầu hồn hoa.
Sống thời trả nợ nước nhà,
Thác thời xiêu lạc thân ta chẳng toàn.
Trời cao soi xét dương gian,
Thương chi Tây tặc cả đoàn lâu la.
Hại người bỏ mẹ bỏ cha,
Bỏ con bỏ vợ, vậy mà sanh sơ.
Người chết bãi, kẻ chết bờ,
Người chết dưới nước, dật dờ lênh đênh!
Ba ngày hết kị lại sình,
Sóng dồi gió dập, lênh đênh một đời.
Hai hàng nước mắt tuôn rơi,
Kêu đất đất rộng, kêu trời trời cao,
Trách trong văn võ nội trào,
Làm sao quên nghĩ công lao dân tình.
Nó qua lấy nước, hại binh,
Nó lại bắt mình nhận việc chôn thây.
Phen này cực khổ với Tây,
Nước mắt giọt dài, ngày cũng như đêm.
Việc trong nhà nước đã êm.
Mình đã chịu mềm, Tây đánh nữa ư?
Ngày thời nó điệu như tù,
Đụng mô đánh nấy, nổi u nổi nần!
Ngùi ngùi thân lại tủi thân,
Ngày bắt đi mần, đêm bỏ thảm thương.
Bữa ăn bữa uống thất thường,
Một ngày một bát cơm lương muối vừng.
Lo ăn lo uống cho xong,
Ăn kẻo đói lòng, uống kẻo chết khô.
Bao nhiêu những giếng với hồ,
Kéo thây xuống dập, chỗ mô cũng đầy!
Phen này kẻ Việt người Tây,
Lên xuống sum vầy, buôn bán thông thương.
Quân quan lao khổ trăm đường,
Đêm ngày dãi nắng dầm sương võ vàng.
Bình luận nhanh 0
Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.