Đăng bởi Vanachi vào 12/02/2005 18:55, đã sửa 4 lần, lần cuối bởi Vanachi vào 18/08/2007 11:42

Trong làn nắng ửng: khói mơ tan,
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng.
Sột soạt gió trêu tà áo biếc,
Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang.

Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời
Bao cô thôn nữ hát trên đồi;
- Ngày mai trong đám xuân xanh ấy,
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi...

Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi,
Hổn hển như lời của nước mây,
Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc,
Nghe ra ý vị và thơ ngây...

Khách xa gặp lúc mùa xuân chín,
Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng:
- “Chị ấy, năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?”


Bài thơ này từng được sử dụng trong SGK Văn học 8 giai đoạn 1990-2002.

Nguồn:
1. Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học, 1988
2. Tinh tuyển văn học Việt Nam (tập 7: Văn học giai đoạn 1900-1945), Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, NXB Khoa học xã hội, 2004
3. Phạm Thanh, Thi nhân Việt Nam hiện đại - quyển thượng, NXB Xuân Thu tái bản, 1990

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 2 trang (18 bài trả lời)
[1] [2] ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Mùa xuân chín

Khác với những bài thơ tả cảnh, kể về việc thông thường, Mùa xuân chín đến với người đọc chúng ta không giống với một cái gì đã hoàn thiện. Nhà thơ dường như tạo điều kiện cho người đọc thơ có mặt từ lúc hình tượng mới chỉ là mô hình, một phôi thai của ý đồ sáng tạo. Nét vẽ thứ nhất, cái đặt bút đầu tiên trên cái nền “khói mơ tan” và phơn phớt màu “nắng ửng” nghĩa là rất mơ hồ ấy là “Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng”. Đó là thứ gam màu đệm vẫn rất gần cái sắc màu hư ảo ở trên để trở thành một tổng thể nhạt nhoà chưa định hình rõ nét. Màu vàng ở đây là của rơm rạ, ruộng đồng, mà biết đâu không phải là mấy vùng trăng còn sót lại do bầu trời ngẩn ngơ cố tình lưu giữ? Cái thực và cái ảo cứ xen kẽ, xâm nhập, đan cài vào nhau mông lung, mơ màng để tự nó sẽ thức dậy theo con sóng thời gian chập chờn ở phía sau xô đẩy.

Sự đặc tả khối hình có ý nghĩa chiến lược ấy là khi nhà hoạ sĩ tài hoa và mơ mộng quyết định chấm vào đó một nét rờn xanh. Cái đốm xanh nõn nà mềm mượt vừa hiện ra đã cựa quậy; “Sột soạt gió trêu tà áo biếc”. Đó là tín hiệu mùa xuân, cái chồi búp ngọt ngào lấp ló hiện ra trên cái tàn đông giá lạnh. Ỡm ờ và thú vị biết bao là cơn gió đầu mùa như đám trẻ con tinh nghịch. Chiếc áo mùa xuân đẹp thế đang muốn ẩn lánh đi vì nó quá rực rỡ, quá nổi bật, còn cô gái xuân lại dịu dàng e thẹn xiết bao! Song, càng e lệ giấu mình thì cơn gió thóc mách kia lại càng vô tâm biết mấy. Nó lang thang ở tít tận đâu đâu nay chững lại, dồn lại, túm tụm lại trước “tà áo biếc” để trêu chọc, phơi bày. Phải chăng cái “nắng ửng” trên kia đã dự báo cái phút ngỡ ngàng này, sẽ là cái màu thẹn, cái màu làm duyên trên đôi má tròn căng sức lực của nàng xuân đến tuổi dậy thì? Như vậy là cái cửa ngõ mùa xuân vốn đã khép kín trong mấy tháng lạnh lẽo, héo hon vì chờ đợi đã mở ra “Trên giàn thiên lý - bóng xuân sang”. Trên bức tranh lụa, cái bút lông của nhà hoạ sĩ đã có đà. Nó đã có hồn. Nó đã bắt đầu cất cánh. Người xem tranh khi đã nhập cuộc rồi, đến đây không khỏi bồn chồn: cái gì sẽ xuất hiện tiếp theo?

Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời
Bao cô thôn nữ hát trên đồi
Màu xanh, bằng cái nét chấm phá ở trên tưởng chừng đã đủ. Nhưng mà không. Chưa ai bạo tay như Hàn Mặc Tử. Dường nếu phải phá vỡ tất cả, nếu cần - cả sự cân đối thăng bằng, độ đậm nhạt vì sự thôi thúc nội tâm, ông vẫn sẵn sàng. Vì vậy mà một mảng xanh khác lại đột ngọt hiện ra bướng bỉnh. Và lần này không phải là một đốm, một nét mà lại là một mặt bằng mênh mông của cỏ. Ngồn ngộn một màu xanh thèm khất mà con người chỉ dám ước mơ đã tươi rói hiện ra, hào phóng, vô tư, vẫy gọi, chào mời. Xưa, Nguyễn Du đã từng viết: “Cỏ non xanh rợn chân trời”. Thảm cỏ ấy của Tiên Điền nay được đẩy lên một tầng nữa, mới mẻ hơn và đặc biệt còn in đậm bàn tay chưa khô mực của người hoạ sĩ đang tròn trịa tuổi xuân đời. Rõ ràng là con “sóng cỏ” đã bay lượn hơn, sống động hơn. Nó đang vỗ bờ từng nhịp bồi hồi từ một nửa trái tim mênh mông đa tình, đa cảm.

Thế là tiếng hát của đất trời, thiên nhiên, cây cỏ cất lên cùng một lúc với tiếng hát con người “Bao cô thôn nữ hát trên đồi”. Cái sức xuân đã như một dàn đồng ca nhiều bè quấn quyện. Nhìn vào đâu cũng thấy sắc xuân, hướng về phía nào cũng thấm đẫm hương xuân. Nó đậm đặc như có thể múc lên được từng mảng như múc ánh trăng đêm vậy. Cái thăm thẳm của bức tranh xuân và chân dung thôn nữ trên đây còn có cả độ cao và độ sâu không cùng của nó:
Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi…
Diễn tả sức bay của Tiếng sáo Thiên Thai, trước Hàn Mặc Tử, Thế Lữ đã có những câu thơ xuất thần:
Khi cao vút tận mây mờ
Khi gần vắt vẻo bên bờ cây xanh
Về bút pháp, Hàn Mặc Tử không có gì mới. Song, đóng góp của nhà thơ trẻ này là đem vào những chữ, những câu máu thịt của cuộc đời. Không khí huyền thoại trong thơ Thế Lữ đến đây đã nhường chỗ cho ánh mắt, nụ cười cô gái. Một cái gì đó trần tục hơn, do đó cũng da diết, tan nát cõi lòng hơn. Bởi mùa xuân hiện ra chỉ trong chớp mắt. Phải chớp mắt đời người. Nó rung động đến tận đáy sâu trái tim người đọc. Bởi, cả cái “hổn hển” kia, cả cái “thầm thì” kia phải chăng là hai cung bậc hết mình của những trái tim đang hát và chỉ hát có một lần? Cái “chín” của mùa xuân chính là ở chỗ này. Như một thứ quả ngọt trên cây, chín từ vỏ, chín từ từ, đến lúc này có thể bóc ra mà ăn được.

Dấu ấn của thơ Hàn Mặc Tử là một trái tim nồng nhiệt, cuồng si, khát khao yêu đương, khao khát sống, là một bút pháp tài hoa, táo bạo, bằng một vài vét vờn vẽ đơn sơ mà tái hiện cả một bầu trời. Sẽ là một thiếu sót nếu ta không nói thêm sự liên tưởng, sự mở rộng nhiều chiều của thời gian đồng hiện. Đang miêu tả bức tranh tươi như một nét cười, một nụ hôn đắm say thuần khiết, thì đột ngột cái man mác rình rập ở đâu đó hiện ra trong ý nghĩ đau đớn của nhà thơ:
Ngày mai trong đám xuân xanh ấy,
Có kẻ theo chồng, bỏ cuộc chơi
Cái mầm ly biệt hiện ra như một tiền định. Có khác gì cơn ác mộng của Thuý Kiều sau lúc gặp Đạm Tiên cùng một lần hạnh phúc đắm say, dịu ngọt. Ta mới hiểu cái quy luật của lòng ham sống (chứ không phải là chủ nghĩa hưởng lạc!)
Xuân đang tới nghĩa là xuân đang qua
(Xuân Diệu)
Cái nỗi niềm đứt ruột này nói hộ một tình yêu, một thứ tình yêu đắm đuối không cùng với cuộc đời mà con người trước dòng chảy của thời gian đã không sao giữ lại nổi. Cái xốn xang, xao xuyến hướng về phía trước cũng một lúc với ngoái lại sau: “Chị ấy năm nay còn gánh thóc…” Rõ ràng con đường xuân đã và đang đi sẽ hướng tới cái cuối cùng, đến chỗ hư vô. Nó không khỏi để lại trong khoảng trống vắng của cõi lòng nhà thơ nhiều bùi ngùi, ngẩn ngơ, luyến tiếc. Thì ra cái đẹp của cuộc đời dù hào phóng, dư thừa đến đâu cũng hạn hẹp. Cho nên phải biết quý nó từng phút, từng giây. Bởi nếu trái tim ta không dành trọn cho nó, nó sẽ vô tình đi qua như một cơn gió nhẹ. Cái tâm huyết của nhà thơ vừa chín với tuổi xuân đã sớm về với khe nước Ngọc Tuyền (1) có phải là ở chỗ đó hay chăng?


(1) “Thưa tôi không dám mê say, Một mai tôi chết bên khe Ngọc Tuyền” (Một miệng trăng - Hàn Mặc Tử).

Nguồn: Báo Văn nghệ số 42, 43 ngày 28-10-1989
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
53.20
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Đọc lại “Mùa xuân chín” của Hàn Mặc Tử

Có rất nhiều bài thơ nói về mùa xuân nhưng không hiểu sao tôi cứ bị ám ảnh với Mùa xuân chín của thi sĩ Hàn Mặc Tử. Ngay cái tiêu đề Mùa xuân chín đã khác lạ rồi. Trong Bức tranh quê của Anh Thơ ta gặp Chiều xuân, Đêm xuân. Ở Xuân Diệu ta gặp Xuân không mùa và Chế Lan Viên ta gặp Xuân… Tất cả những tiêu đề đó đều rất quen thuộc nên ít gây ấn tượng. Tiêu đề Mùa xuân chín buộc ta phải nghĩ ngợi để tìm một cách hiểu. “Mùa xuân” sao lại “chín”? phải chăng mùa xuân là trái trên cây, là quả ở trên cành. Trên cành có quả xanh, quả chín. Mùa xuân cũng thế: có mùa xuân đang xanh và có mùa xuân đã vào độ chín. Hàn Mặc Tử là người đầu tiên có cách nói về mùa xuân độc đáo, mới lạ như vậy. Nhưng đó mới chỉ là suy đoán. Đọc hết bài thơ ta mới hiểu ngầm ý của tác giả.

Muốn hiểu chủ đề của Mùa xuân chín tốt nhất là ta thử làm phép so sánh, đối chiếu hai khổ thơ quan trọng sau đây:

Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời
Bao cô thôn nữ hát trên đồi
Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi

Khách xa gặp lúc mùa xuân chín
Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng
Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang
Trước mắt chúng ta hiện lên hai bức tranh, hai khung cảnh gần như hoàn toàn đối lập nhau, hai khung cảnh hình như hoàn toàn đối lập nhau. Một bên “Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời”. Còn bên kia “Dọc bờ sông trắng nắng chang chang”. Cái “xanh tươi” của cỏ, đối với cái “chang chang” của nắng. Một bên “Bao cô thôn nữ hát trên đồi. Còn bên kia “Chị ấy năm nay còn gánh thóc”. “Cô” và “chị”, “Bao cô” và “Chị ấy”, “Hát trên đồi” và “gánh thóc” bên sông… Một còn xuân xanh, một đã qua thời tuổi trẻ. Một bên đông đảo vui vẻ, một bên lặng lẽ cô đơn. Một bên hát hoà một cách say sưa. Bao cô thôn nữ đang hát những bài hát về tình yêu. Khi thì tinh nghịch như tiếng sáo thiên thai “vắt vẻo”, khi thì “hổn hển” như tiếng thở gấp của lồng ngực đang phập phồng. Khi thì “Thầm thì” như lời tình tự. Các cô thôn nữ hát một cách hồn nhiên, vô tư. Ở đây có sự hoà hợp giữa ngày xuân và tuổi xuân. Mùa xuân ở trên là mùa xuân đang xanh còn dưới kia là mùa xuân đã chín. Chị ấy đang gánh trên vai gánh nặng của cuộc đời. Chị cần mẫn, chăm chỉ, siêng năng như “con cò lặn lội bờ sông” như bà Tú trong thơ Tú Xương “lặn lội thân cò khi quãng vắng” Hàn Mặc Tử có ý nhấn mạnh chữ “còn”. Trong khi bao cô thôn nữ chơi đùa hát hò vui vẻ thì chị ấy “còn” gánh thóc, chị gánh năm này qua năm khác giữa cái nắng “chang chang” như vậy. “Chị” có vẻ đẹp riêng của Mùa xuân chín. Thi sĩ hết sức cảm phục nhưng đồng thời cũng hết sức cảm thông với chị. Từ hình ảnh chị ấy đang gánh thóc “Dọc bờ sông trắng nắng chang chang” mà Hàn Mặc Tử ngậm ngùi cho bao cô thôn nữ ở trên kia:
Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi.
Đó là quy luật ít ai cưỡng được. Thi sĩ biết vậy mà cứ tiếc thầm cho họ. Và biết đâu cũng như Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử cũng tiếc cho cả tuổi xuân của mình. Xuân Diệu thì bộc trực hơn: “Xuân đang tới nghĩa là xuân đang qua, Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già”. Hàn Mặc Tử cũng với ý ấy nhưng thể hiện kín đáo hơn. Nói cho cùng các thi sĩ đang nói hộ tâm trạng chung của mọi người. Vì ai mà chẳng muốn tuổi xuân của mình được dài thêm nếu “tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại” vì nói như Xuân Diệu: “Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật. Không cho dài tuổi trẻ của nhân gian”… Trong khi tả cảnh mùa xuân vui tươi với các thi sĩ thường hay có những phút chạnh lòng như vậy. Ngày xưa Nguyễn Du vẽ cảnh mùa xuân thật sinh động với “Cỏ non xanh rợn chân trời” với “Dập dìu tài tử giai nhân”… Nhưng cũng chính Nguyễn Du đặt câu hỏi trước ngôi mộ của nàng Đạm Tiên (qua lời nàng Kiều):
Rằng sao trong tiết thanh xuân
Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?
Cũng như vậy. Hồ Xuân Hương tả cảnh chơi đu trong ngày xuân với “Bốn mảnh quần hồng bay phất phới” với “Đôi hàng chân ngọc duỗi song song” và nữ sĩ hạ hai câu thật bất ngờ:
Chơi xuân ai biết xuân đang tá
Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không!
Đó chính là sự gặp nhau của những tâm hồn lớn. Những thi sĩ vốn mang nặng “nỗi đau nhân tình”. Cái điều họ “Sực nhớ”, sực nghĩ, cái điều họ băn khoan… tuy nó khác nhau nhưng đều quy tụ trong tình yêu thương đối với con người - đặc biệt là số phận của người phụ nữ.


Mai Văn Hoan

Nguồn: Giáo dục và thời đại chủ nhật, số 1355, ngày 16-2-1997
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
43.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Mùa xuân chín - bài thơ tài hoa của Hàn Mặc Tử

Hàn Mặc Tử là nhà thơ tài hoa. Ông để lại cho đời không nhiều thi phẩm nhưng tác phẩm nào của ông cũng đáng trân trọng, nâng niu như Mùa xuân chín.

Ngay tên bài thơ đã cho thấy tác giả là người dụng công với câu, chữ. Câu chữ của ông luôn được chắt lọc tìm tòi.

Sột soạt gió trêu tà áo biếc
Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang.
Câu thơ thật gợi mở. Trên những mái nhà tranh vách đất của làng quê ngày xưa lấm tấm những nụ hoa thiên lý ùn nở vàng, xen giữa màu xanh tươi của lá. Lá và hoa thiên lý là niềm đặc sắc của hương vị quê hương:
Thương chồng nấu cháo le le,
Nấu canh hoa lý nấu chè hạt sen
(Ca dao)
Của quý như vậy, xanh tươi mơn mởn như vậy nên mới được gió trêu, gió đùa, gió mơn man. Làm bất chợt mùa xuân ào tới.
Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời,
Bao cô thôn nữ hát trên đồi:
- Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi…
Mùa xuân từ trong nhà đã lan ra xa đồi núi, từ cây cảnh sang tới người. Con người của mùa xuân thật trẻ trung, hồn nhiên, đầy sức sống. Bao cô thôn nữ hát trên đồi. Hát rằng:
Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi…
Ở lại làng chơi với các cô thật vui, song ai đó được đi lấy chồng cũng vui không kém, thậm chí đây còn là sự phát triển của mùa xuân.
Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi,
Hổn hển như lời của nước mây…
Những từ vắt vẻo, hổn hển được tác giả dùng thật tài tình. Vắt vẻo ở câu trên chỉ sự thơ ngây, hổn hển ở câu dưới nói lên sự hồi hộp, đợi chờ trong lồng ngực của những cô gái đang căng tròn sức sống. Làm cho ai đó đang ngồi dưới trúc (trong bối cảnh này mà chịu ngồi yên dưới trúc thì chắc không còn ở tuổi thanh xuân nữa) cũng phải rộn ràng:
Khách xa gặp lúc mùa xuân chín?
Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng.
- Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?
Thấy mùa xuân ở quê người lại nhớ tới cảnh làng mình, một cảnh làng mùa hạ có nắng chói chang và bao nhiêu người thân đang oằn lưng lao động giữa nắng. Đây là nét rất nhân bản của con người luôn nặng tình với quê hương xứ sở. Nhớ làng trước hết là nhớ những gì cần phải suy nghĩ, sẻ chia.
- Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?
Chị ấy là ai vậy? Rất có thể đây là người bạn gái ngày xưa của khách - đang là lao động chính ở quê nhà. Dọc bờ sông trắng nắng chang chang nên được xem là câu thơ thần tình nhất của Hàn Mặc Tử. Ta hay nói sông xanh, sông đỏ, đây nhà thơ nói sông trắng. Nắng đến trắng cả sông thì phải biết nắng gay gắt như thế nào. Các cặp vần trắng – nắng, chang – chang kết hợp với năm phụ âm “ng” đứng cuối mỗi từ làm cho câu thơ được kéo dài và ngân nga mãi.

Đúng là Mùa xuân chín, một mùa xuân đầy đặn, nên thơ.


Vương Thừa Việt

Nguồn: Hạnh phúc gia đình, số 2031, ngày 13-1-1999
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
35.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bình luận bài thơ “Mùa xuân chín” của Hàn Mặc Tử

Mùa xuân – qua nét phóng bút tài hoa của Hàn Mặc Tử, bỗng trở nên duyên dáng và có sức cuốn hút lạ thường. Xuân như thiếu nữ mơn mởn đào tơ, tràn căng sức sống, song xuân không hiện lên rõ nét mà cứ huyền ảo, như thực như hư. Không thể chỉ đọc từng câu từng chữ mà cảm được bài thơ. Cần cảm thụ quyện hoà từng luồng cảm giác.

Mở đầu bài thơ là một khung cảnh được từ từ hé mở. Không gian tươi mát, rõ ràng. Thi sĩ rắc màu lên từng cảnh sắc. Lấm tấm vàng của mái tranh, biếc xanh giàn thiên lý. Chợt nghe như sự sống bừng dậy, bỡn cợt, gợi tình. Câu thơ chuyển mạch rất nhanh với cách ngắt nhịp tài tình “bóng xuân sang”. Cảnh mới thực bỗng thoắt trở nên mơ hồ. Bóng xuân lướt nhanh ẩn hiện làm ta ngỡ ngàng. Mùa xuân, qua con mắt thi nhân, phập phồng sức sống. Màu xanh tươi lan toả ngút mắt. Vút lên cao là tiếng hát tuổi xuân xanh. Màu sắc, âm thanh trộn đều tạo một không gian động, hồn nhiên thơ mộng. Tưởng chừng ta gặp hồn thơ Nguyễn Du qua vẻ đẹp: “Cỏ non xanh tận chân trời”, song ta nhận ra Hàn Mặc Tử bởi những cảm giác quẫy mạnh trong từng câu thơ, ta cảm được cái rùng mình của mùa xuân qua làn “sóng cỏ”. Thi sĩ lặng mình trước mùa xuân, chợt bâng khuâng nhủ lòng mình:

Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi
Câu thơ lắng nỗi buồn nhẹ nhàng, man mác cái buồn cố hữu của những nhà thơ thời đó. Cái tiếc rẻ cho duyên con gái một đi không trở lại. Không giục giã, hối hả gấp gáp như Xuân Diệu “Mau với chứ, vội vàng lên với chứ – Em, em ơi tình non sắp già rồi!” nhưng với hai câu thơ này Hàn Mặc Tử đã mang tới cho người đọc những đợt sóng ngầm tình cảm gấp gáp, hối hả mà duyên dáng lạ thường.

Những âm thanh trong bài thơ chuyển động, cọ xát nóng bỏng: “vắt vẻo”, “hổn hển”, “thầm thĩ”. Các cung bậc mùa xuân lên bổng, xuống trầm tinh nghịch, khát khao, dịu nhẹ. Những gam cảm giác Hàn Mặc Tử đưa vào thơ rất mới lạ mà lại gần gũi, quen thuộc. Thấp thoáng đâu đây khuôn “mặt chữ điền” như thơ Đường; mà lại có vẻ hồn nhiên, rụt rè của cô gái tơ mới lần đầu hò hẹn. Âm thanh, cảm giác được đẩy lên cao vút, nao nức, bâng khuâng.

Tận cùng của cảm giác là một nỗi nhớ nao lòng. Xuân chín căng, mời mọc làm người đi xa chạnh niềm tha hương. Hình ảnh trong nỗi nhớ sáng rực, thân thiết:
Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng, nắng chang chang?
Nỗi nhớ như mùa xuân, cũng chín đỏ. Như tình người, tình quê ấm áp, đậm đà. Câu hỏi tưởng bâng quơ, sực nhớ kia chính là nỗi niềm mến thương từ lâu ủ kín, chợt mùa xuân làm thức dậy trìu mến, thiết tha.

Bài thơ của Hàn Mặc Tử đầy nhựa sống như tâm hồn của nhà thơ luôn khát khao giao cảm với đời. Với mùa xuân, Hàn Mặc Tử yêu say đắm, điên cuồng: “Tôi đã sống mãnh liệt và đầy đủ. Sống bằng tim, bằng phổi, bằng máu, bằng lệ, bằng hồn. Tôi đã phát triển hết cả cảm giác của Tình Yêu. Tôi đã vui, buồn, giận, hờn đến gần đứt sự sống” – lời của thi nhân đã được đem vào trong bao áng thơ diễm tuyệt, kết tinh hương sắc làm nên một “mùa xuân chín”.

24.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Ba đỉnh cao Thơ Mới: Xuân Diệu - Nguyễn Bính - Hàn Mặc Tử, Kỳ 9: Thẩm bình thơ Hàn Mặc Tử (trích)

Cũng như Đây thôn Vĩ Dạ, thi phẩm Mùa xuân chín quả là tiếng thơ thuộc loại trong trẻo nhất của Hàn Mặc Tử. Trong trẻo song cũng đầy bí ẩn. Có phải vì thế mà thơ Hàn thuộc dạng kén tri kỉ tri âm. Cứ tựa như một giai nhân kiêu kì vừa đầy quyến rũ vừa sẵn sàng làm nản lòng những kẻ mon men đến gần. Biết bao người vây quanh, ngưỡng mộ, cầu thân, cuối cùng thường chỉ nhận được sự chối từ lịch lãm.

Đến nay cách hiểu thi phẩm chủ yếu vẫn chỉ qui về chủ đề ca ngợi thiên nhiên tươi đẹp, cảm thông với lao động nhọc nhằn. Đưa vào giảng dạy cho học trò thường chỉ khai thác bức tranh mùa xuân đầy xuân sắc, cảm xúc thiên nhiên hết sức tinh vi... Mới chỉ khơi khơi vành ngoài như vậy, hèn chi chỉ nhận được sự hững hờ. Cái duyên, cái hồn riêng của Hàn Mặc Tử trong thi phẩm chẳng mấy khi chịu hiện hình ló rạng.

Có lẽ do không bắt đầu bằng tháo gỡ mạch liên kết “nhảy cóc” của thi phẩm, nên đối tượng thật, cũng như những tình ý sâu kín nhất của Mùa xuân chín vẫn luôn trốn chạy khỏi chúng ta.

1. Chuỗi “sực nhớ” miên man hay là dòng tâm tư bất định

Ai cũng biết những khía cạnh lí thuyết chung này: thơ lãng mạn lấy việc đào sâu vào cái Tôi làm cứu cánh, cái Tôi của thơ lãng mạn là cái Tôi nội cảm, kết cấu của các thi phẩm lãng mạn thường tựa vào mạch diễn biến của cảm xúc...

Nhưng ít ai chịu thấy cho thật kĩ rằng xúc cảm can thiệp vào mạch vận động ở mỗi tác phẩm và ở từng tác giả không hề giống nhau. Đơn cử ba đại diện vào loại lớn nhất của Thơ mới là Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử và Nguyễn Bính. Nếu xúc cảm trong các bài thơ của chàng thi sĩ chân quê dựa nhiều vào “cốt” - khiến thơ ít nhiều mang tính tự sự kể lể, thì ở chàng thi sĩ của ái tình cảm xúc dâng trào trên bề mặt lại dựa hẳn vào một cái “tứ” khá chặt nào đó dưới bề sâu. Trong khi ấy, mạch thơ của chàng thi sĩ thơ điên lại trôi chảy theo một dòng tâm tư hoàn toàn bất định khước từ sự dẫn dắt của lôgic lí trí. Vì thế, tìm kiếm tâm sự của Nguyễn Bính ta có thể lần theo mạch “chuyện”, để hiểu tâm tư Xuân Diệu ta có thể bám sát mạch “ngôn từ lôgic” rải rác trong các mảng thơ để liên kết thi tứ. Còn các thi phẩm Hàn Mặc Tử rất khác: đã “phi tự sự” lại còn “phi lôgic”! Tất cả đều có vẻ thiếu mạch lạc, cóc nhảy, đầu Ngô mình Sở. Về thực chất đó là kiểu liên kết siêu lôgíc rất đặc trưng của Thơ điên. Toàn bài là một dòng tâm tư đầy những bất chợt cứ trôi chảy với hai biểu hiện trái chiều: mạch hình ảnh phía trên thì theo liên tưởng tán lạc, mạch tâm tư bên dưới thì theo cảm xúc nhất quán - nhưng là kiểu nhất quán đầy uẩn khúc chứ không hề giản đơn. Ngay trong bài Mùa xuân chín này có một câu thơ dường như muốn tiết lộ với chúng ta về khía cạnh ấy của thơ Hàn. Đó là: Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng. Tôi muốn lưu ý chữ “sực nhớ”. Tức là những khoảnh khắc bất chợt, bất thần, vụt hiện, ngẫu nhiên. Có thể nói, dòng tâm tư bất định trong thơ Hàn Mặc Tử chính là một chuỗi những “sực nhớ” như thế. Các hình ảnh trôi trên bề mặt của dòng tâm tư là những ấn tượng, những kỉ niệm vụt hiện, mình Sở đầu Ngô, nhưng tất cả những ảnh hình bất chợt đầy ngẫu nhiên ấy lại đan bện vào cùng một nỗi niềm đang miên man chuyển hoá, vần vụ. Như thế, “phi lôgic” bề mặt, song lại “lôgic” ở bề sâu chính là bản tướng của cái hình thái được gọi bằng “siêu lôgic” trong thơ Hàn.

Có lẽ vì những phiền toái ấy, người đọc bước vào thơ Tử luôn bị mất dấu vết, mất phương hướng, chơi vơi, mệt. Người bối rối thì đâm tự hoài nghi, kẻ nông nổi lại dễ tự dối mình, và thường khi là tự mãn với vài ba lượm lặt đứt nối, rụng rơi nào đó.

Bước vào Mùa xuân chín cũng thế.

Mạch thơ là dòng tâm tư bất định với những chuyển kênh bất chợt. Về thời gian, đang say đắm trong thời khắc hiện tại - với cảnh xuân phô bày trước mắt và bao cô thôn nữ đang khao khát xuân tình đầy ý vị, thoắt cái đã sang một tương lai vô vị - Ngày mai trong đám xuân xanh ấy / Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi. Đương còn lắng nghe những lời thầm thĩ gần thế, đã sực nhớ đến một ảnh hình trong quá khứ xa thế - Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng / Chị ấy năm nay còn gánh thóc / Dọc bờ sông trắng nắng chang chang. Về cảnh sắc, bức tranh xuân đang từ ngoại cảnh (mái nhà tranh, giàn thiên lí, sóng cỏ xanh tươi, đám thôn nữ...) thoắt biến thành tâm cảnh (người con gái gánh thóc dọc bờ sông trắng), vừa mới “xuân sang” với nắng ửng, thoắt đà “xuân chín”, rồi bất ngờ vuột hẳn ra ngoài cõi xuân với nắng chang chang. Cứ “nhảy cóc” như thế là bởi cứ “sực nhớ” mà ra. Kí ức thi sĩ cứ liên tục “vặn kênh”, “chuyển kênh”. Về mạch cảm xúc, nó không được triển khai theo kiểu cứ tăng tiến mãi một chiều. Mà vận động theo lối đứt gẫy rồi chuyển điệu đột ngột tựa như bất chợt chuyển kênh. Bài thơ có bốn khổ, thì ba khổ đầu nghiêng về diễn tả vẻ rạo rực xuân tình trong cảnh vật và trong lòng người. Thế rồi trạng thái rạo rực đang dồn đẩy tới, thoắt chuyển thành trạng thái bâng khuâng. Mạch cảm xúc vì thế có tới hai cao trào: rạo rực thì đến mức “hổn hển” - Hổn hển như lời của nước mây, còn “bâng khuâng” thì đến thành xa vắng - Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng. Mới vừa “rạo rực” thoắt đã “bâng khuâng”, vừa ngây ngất yêu đời đã da diết thương đời. Đó chính là mạch chuyển lưu các đối cực của xúc cảm. Tất cả là chuỗi những “sực nhớ”. Những “sực nhớ” được xâu thành chuỗi bởi một mạch cảm xúc luôn chuyển lưu, vần vụ đã tạo thành dòng tâm tư bất định. Đó chính là lối liên kết độc đáo của Mùa xuân chín nói riêng và Thơ điên Hàn Mặc Tử nói chung.


2. Cảnh chín hay tình chín?

Nhìn từ bên ngoài, Mùa xuân chín trước hết là một bức tranh xuân. Thơ Mới viết về mùa xuân đâu phải ít, nhưng được như Mùa xuân chín đây thì đâu có nhiều. Bức tranh xuân ấy xứng đáng là một đóng góp của Hàn Mặc Tử đối với mạch thơ xuân. Song, thi phẩm đâu chỉ là chuyện cảnh xuân được hoạ bằng những vẻ xuân sắc phơi lộ bên ngoài. Đó chỉ là cái hữu hình, hữu thể thuộc về hình tướng bề ngoài. Chưa phải là điều đáng nói nhất. Đáng nói ở đây phải là cái vô hình vô thể náu ở trong lòng vạn vật kia. Tức là tình xuân vậy. Nó vừa là xuân tình trong lòng tạo vật, vừa là xuân tình trong lòng con người. Đành rằng nó cũng được phát lộ ra bên ngoài bằng xuân sắc. Nhưng ở khía cạnh này xuân sắc chỉ là ngôn ngữ, là chất liệu của xuân tình. Hãy xét kĩ một câu thơ: Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời có thể thấy rõ khuynh hướng cảm hứng của Hàn Mặc Tử. Nhiều người cứ mặc nhiên coi rằng nội dung của nó là giống với câu “Cỏ non xanh tận chân trời” của Nguyễn Du. Không phải. Quả là không thể chối bỏ ảnh hưởng của câu “Kiều” này đối với Hàn thi sĩ. Nhưng cần thấy rằng cái mà Tố Như định thể hiện là sắc cỏ non xanh (nghĩa là ngoại hình của cỏ) trải ra chân trời (bề rộng), còn cái mà Hàn Mặc Tử nhằm tới lại là sóng cỏ (nghĩa là sự rung động của cỏ) [1] đang gợn mãi lên đến tận vòm trời (chiều cao). Đây không nói chuyện hơn kém, mà chỉ nhận diện sự khác nhau. Trong tương quan ấy, nếu sắc nghiêng về cái hữu hình, thì sóng nghiêng về cái vô hình; sắc là hiện thân của xuân cảnh, còn sóng là hoá thân của xuân tình. Rõ ràng, Hàn Mặc Tử muốn thông qua sóng cỏ thuộc về hình tướng của tạo vật để nắm bắt cái xuân chín thuộc về chân tâm của tạo vật.

Vì thế “xuân chín”, về thực chất, là “tình chín”.

Và Tình chính là phần hồn cốt của Xuân.

Trong thi phẩm này, tình xuân không chỉ chín trong cảnh vật, mà còn chín trong cả con người. Hai vẻ xuân chín này diễn ra vừa đồng thời ở người và cảnh, vừa giao ứng giữa cảnh với người. Nói cách khác là cả hai chín cùng nhau, chín sang nhau và chín trong nhau. Sự song hành và hoà điệu như thế mới tạo nên Mùa xuân chín. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là ở đó.

Trong làn nắng ửng: khói mơ tan
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng
Sột soạt gió trêu tà áo biếc
Trên giàn thiên lí. Bóng xuân sang
Khổ thơ là một bức tranh toàn vẹn diễn tả cái diện mạo tươi thắm của cảnh lúc xuân sang: làn nắng ửng, khói xanh mơ, tà áo biếc, lấm tấm vàng... Đó là sắc xuân, đó cũng là tình xuân. Tình dậy lên bên trong phát lộ thành sắc bên ngoài. Và không chỉ ở sắc, tình còn hiện lên trong khí xuân. Để rõ thêm điều này, có lẽ nên tham khảo bài Sáng trăng, thi phẩm có cách cảm nhận rất gần gũi với Mùa xuân chín. Thậm chí, ở đó thi sĩ đã dùng cả những hình ảnh, ngôn từ như trong Mùa xuân chín để thể hiện cái tình dậy lên trong hồn người và phát lộ ra bên ngoài như thế nào: “Vui thay cảnh sáng trăng / ái tình bắt đầu căng / Hoa thơm thì nín lặng / Hương thơm thì bay lan / Em tôi thì hổn hển / áo xiêm lấm tấm vàng / Em tôi đã hiểu chưa?/ Đó là khúc tình ca / Nẩy theo hơi thở nhẹ / ở trên làn dây tơ / Của lòng em rộn rã...”. Như thế, khi ái tình bắt đầu căng, lòng xuân náo nức thì nó tràn ra thành sắc xuân, sức xuân, khí xuân... hiển lộ thành sắc màu, thành cử chỉ, thành hơi thở, thành hương thơm, thành tiếng hát... của người thiếu nữ. Cũng như thế, ở Mùa xuân chín, ửng là xuân tình của nắng, xanh mơ là xuân tình của khói, lấm tấm vàng là xuân tình của những mái nhà gianh, sột soạt trêu là xuân tình của gió, và sắc biếc của tà áo bị trêu tròng là xuân tình nơi giàn thiên lí... Cứ như thế, như thế vẻ xuân tình của thiên nhiên theo làn sóng cỏ xanh tươi gợn lên đến tận trời. Cả bầu không gian mênh mông ấy, tràn đầy vẻ xuân, khí xuân. Xuân tình từ thiên nhiên lây lan giao ứng với xuân tình trong lòng người, cả hai nhập vào nhau trong cùng một tiếng hát. Là tiếng hát của những cô thôn nữ mà cũng là tiếng hát của nước mây. Thiên nhiên và con người đồng ca, đồng vọng hay tiếng hát trong lòng thiên nhiên đang cất lên qua lời ca của con người thì cũng thế:
Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời
Bao cô thôn nữ hát trên đồi
...
Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi
Hổn hển như lời của nước mây
Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc
Nghe ra ý vị và thơ ngây
Thiên nhiên mùa xuân cũng được cảm nhận và được mô tả như một thiếu nữ. Dường như sau cái bức tranh dệt bằng các chi tiết thiên nhiên ấy ta thấy thấp thoáng bóng một thiếu nữ tràn ngập xuân tình, khi thì qua sắc nắng ửng (như sắc má ửng hồng), khi thì qua tà áo biếc, khi thì qua lời nước mây hổn hển rồi lại thầm thĩ... ấy là Nàng Xuân vậy.

Chẳng phải thi sĩ muốn nhằm tới cái vô hình vô thể của xuân, và dùng cái hữu hình làm chất liệu để gợi ra cái vô hình hay sao?


3. Lòng xuân gửi vào Mùa xuân chín

Vừa ngất ngây xuân chín...

Mùa xuân và mùa thu được thi ca ưu ái đến mức thiên vị. Xung quanh hai mùa này có biết bao áng thơ ca nổi tiếng. Vậy nên, riêng việc viết về mùa xuân hay vẽ nên một bức tranh xuân thú vị vẫn chưa phải là điều thật độc đáo. Cái độc đáo của bài thơ xuân này nằm ở chữ “chín”. Ai đã đọc Hàn Mặc Tử hẳn thấy rằng mùa xuân có một uy thế lấn lướt trong thơ của thi sĩ này. Say mê vẻ xuân, Hàn đã có hẳn một tập “Xuân như ý” với những bài xuân tràn đầy thánh ý: Xuân gấm, Xuân hôn phối, Xuân trẻ, Xuân non, Xuân lịch sự... Ngay cái trạng thái “xuân chín” này cũng chứa đựng một quan niệm rất riêng của thi sĩ. Không nắm được quan niệm ấy, ta chỉ đến với bài thơ như một bức tranh thiên nhiên đơn thuần. Như đã nói ở trên, lõi của Xuân là Tình. Xuân chín ấy là Tình chín. Chín là thời điểm mãn khai, là trạng thái căng tràn, là khoảnh khắc nhậy cảm: sắc xuân mãn, thì xuân đoạn. Đó là đỉnh điểm mà cũng là giao điểm: tại đó nó chuyển thì, chuyển sắc.

Điều rất thú vị của Mùa xuân chín là trong bài thơ có cả một hệ thống nhân vật. Người thì: “bao cô thôn nữ”, “ai ngồi dưới trúc”, “khách xa” [2] và “chị ấy”. Còn thiên nhiên cũng có thể xem như một nhân vật: nhân vật Nàng Xuân. Tình xuân chín trong lòng thiên nhiên ấy bắt đầu bằng làn nắng ửng. Từ chớm chín, nhanh chóng thành chín rục, chín muồi, chín mẩy... Xuân tình nảy nở và tràn căng cùng lúc trong cả những con người kia lẫn thiên nhiên này. Không phải ngẫu nhiên mà bức tranh xuân ở đây lại được hoạ bằng tất cả những gì tình tứ thế:
Trong làn nắng ửng: khói mơ tan
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng
Sột soạt gió trêu tà áo biếc
Trên giàn thiên lí. Bóng xuân sang
Cả đến mái nhà tranh cũng phát lộ xuân tình. Có lẽ còn lâu nữa về sau, mái nhà tranh vẫn cứ là một hình ảnh thân thương, dễ động lòng người Việt. Nó lặn sâu trong kí ức cộng đồng như một ảnh tượng của quê hương nghìn đời. Ta gặp trong thơ cổ điển của Nguyễn Khuyến “Năm gian nhà cỏ thấp le te” đơn sơ thanh bạch, ta gặp trong thơ cách mạng của Tố Hữu “Mơ mơ mấy xóm tranh chìm trong mây” cùng những “Mái nhà tranh thấp ngủ im hơi” đắm chìm buồn tủi hồi chưa cách mạng, ta cũng gặp trong thơ Trần Đăng Khoa những mái gianh tảo tần dầu dãi mà rất đỗi thiêng liêng “Mái gianh ơi hỡi mái gianh / Ngấm bao mưa nắng mà thành quê hương”... Nhưng vẻ tình tứ của những mái gianh thì có lẽ chỉ thơ lãng mạn mới khơi dậy được. Đúng thế, cái sắc “lấm tấm vàng” kia đâu chỉ là màu nắng in từ ngoài vào. Đó cũng chính là dấu hiệu đầy gợi cảm của xuân tình khi “ái tình bắt đầu căng” phát lộ từ trong ra, khoe sắc ra bên ngoài. Hàn Mặc Tử thường cảm nhận như thế: “Em tôi thì hổn hển / áo xiêm lấm tấm vàng” (Sáng trăng), “Ngả nghiêng đồi cao bọc trăng ngủ / Đầy mình lốm đốm những hào quang” (Duyên muộn)... Cả cái làn gió đang “sột soạt” trêu tròng tà áo biếc nơi giàn thiên lí kia nữa cũng thật phong tình. Cứ như là muốn... lật dở ra xem vậy! Xem chừng, làn gió táo bạo này cũng chính là làn gió “liều lĩnh” đã “lọt cửa cọ mài chăn” [3] bay từ Thơ Đường Luật của Tử về giàn thiên lí này thôi. Lời thơ Tử vẫn thường ánh lên màu sắc dục là như thế.

Dường như đối với Hàn Mặc Tử, tình xuân nảy nở cứ càng lúc càng nồng nàn mãnh liệt hơn: thành sắc màu, thành ánh sáng rồi thành gió trêu, thành sóng cỏ... mà cuối cùng là thành tiếng hát tình tứ. Tiếng hát là kết tinh cao nhất của tình xuân. Từ trong lòng tạo vật phát ra ngoài, rồi gợn lên, lan đi, vắt vẻo ở lưng chừng núi, và cuối cùng thì cao bay lên tận đỉnh trời thành lời của nước mây. Khi tiếng hát đã rộn rực say đắm đến thành “hổn hển” rồi thì đó là hơi xuân bốc lên cao nhất, lòng xuân tới độ nồng nàn nhất, chín nhất. Nó là đỉnh điểm của khí xuân tình xuân, điểm chín của vẻ xuân thì xuân. Nó “thầm thĩ” rót vào tai người “khách xa” những lời tình quyến rũ mà trong trẻo, nên khách đã: “nghe ra ý vị và thơ ngây”. Từ lòng người đến đất trời mây nước, tất cả đã vào điểm chín của tình xuân. Cả vũ trụ dường đang chan chứa vẻ xuân.

Lời thơ quả là ngất ngư bởi hồn thi sĩ cũng đang tràn ngập xuân tình.

... đã nuối tiếc xuân thì

Đỉnh điểm cũng là giao điểm. Giờ xuân chín cũng là giờ xuân mãn. Xuân thì không còn nữa. Tình đã mãn rồi xuân cũng phôi pha phai lạt. Xuân chín cũng là chấm dứt xuân. Nó chấm dứt vào cái ngày cuối cùng của quãng đời thiếu nữ. Nửa sau của bài thơ đã chuyển mạch thành tiếc xuân thì.

Ivan Bunhin có một truyện đầy dư vị triết học về đời người. Chuyện rằng xửa xưa tuổi thọ con người ngắn lắm, chỉ được 18 năm thôi. Trong khi đó tuổi các loài khác cao hơn nhiều. Loài lừa có đến năm mươi năm, loài chó những 40 năm, còn ít như loài khỉ cũng tới 30 năm. Con người cho đó là chẳng công bằng, bèn lên kiện Thượng đế. Thượng đế nhân từ mà nghiêm khắc ưng thuận cho con người thêm tuổi. Nhưng người nói: tuổi muôn loài có hạn, nên con người muốn tăng thọ, thì phải lấy tuổi của các loài khác thêm vào. Tham lam và dại dột, loài người đã ưng ý liền. Từ đó tuổi thọ con người dài tới 60 - 70 tuổi. Song, cũng chỉ có 18 năm đầu được làm người, 30 năm kế tiếp là tuổi con lừa (nai lưng làm việc), 10 năm tiếp theo làm con chó (khư khư giữ lấy những của nả làm ra), và cuối đời sống tuổi con khỉ (xấu xí nhăn nheo)...

Nghĩa là, tuổi người hết vào cái lúc xuân chín vậy.

Do ý thức được điều nghiệt ngã ấy mà không phải đến Thơ Mới, thi nhân mới tiếc xuân thì. Thơ xưa đã đầy những lời cảnh báo về sự ngắn ngủi của tuổi xuân - Chơi xuân kẻo hết xuân đi / Cái già sồng sộc nó thì theo sau. Nhưng có lẽ chỉ đến Thơ Mới- tiếng thơ của ý thức cá nhân cá thể - thì nó mới thành tiếng nói đầy ý thức về cái ngắn ngủi đến tàn nhẫn của tuổi trẻ và xuân thì ở mỗi cá nhân và mọi cá nhân. Xuân Diệu vội vàng giục giã: “Xuân đang đến nghĩa là xuân đang qua / Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già / Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất”. Xuân của đời người đã ngắn, xuân của đời con gái còn ngắn hơn. Chả thế mà người ta vẫn nói một đời đàn ông bằng hai đời đàn bà. Nguyễn Bính thở dài ngán ngẩm: “Tuổi xuân má đỏ môi hồng / Bước chân về đến nhà chồng là thôi”. Hàn Mặc Tử cũng đã bao lần hẫng hụt về điều ấy. Việc lấy chồng là một mất mát không gì sánh được. Nó khiến cho tất thảy đều vô nghĩa. Nàng thì mất ước mơ, mình thì mất hồn thơ: “Ngày mai tôi bỏ làm thi sĩ / Em lấy chồng rồi hết ước mơ / Tôi sẽ đi tìm mỏm đá trắng / Ngồi lên để thả cái hồn thơ”... Còn ở đây, giữa lúc Mùa xuân chín, tiếng ca còn đương làm rạo rực cả nước mây, mà Hàn Mặc Tử đã thấy trước cái tương lai buồn, thấy trước ngày mai vô vị, mà thốt lên lời tiên báo:
- Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi.
Nhìn xuân chín hiện thời, đã thấy nhỡn tiền cái kết cục mai hậu! Thật là một dự báo se lòng về hậu xuân chín. Khác chi xuân mãn, xuân tàn, xuân lạc tậ!

Nhìn thấy “tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại”, cái Tôi Xuân Diệu sẽ vội ném mình vào cuộc chạy đua với thời gian, để sống đã đầy đến từng khoảnh khắc, tận hưởng và tận hiến. Còn Hàn Mặc Tử thì khác. Cái Tôi của Tử không có được sự bồng bột vô tư ấy. Mà nó đầy uẩn khúc. Dòng tâm tư bất định lưu chuyển bên trong Cái Tôi kia chính là: nhìn xuân sắc thì rạo rực xuân tình, nhưng vừa chợt khát khao đã dằn lòng tiết dục, vừa định hoà nhập thoắt đã cô đơn. Cho nên gặp xuân chín mà tiếc xuân thì, nghe xuân ca mà buồn xuân mãn. Có phải với “cuộc chơi” kia, Tử chỉ là kẻ đứng ngoài, là vị “khách xa” nên sinh buồn? Không hẳn vậy. Tử buồn chung cho kiếp người. Nỗi sầu vừa dâng lên trong Cái Tôi kia chính là sầu nhân thế. Tử không hề hiện ra như một Cái Tôi náo nức nhập cuộc chơi, lúc nào cũng vồ vập tận hưởng. Có lẽ cũng như chàng nhạc sĩ Trịnh Công Sơn về sau, Tử cũng chỉ là một nghệ sĩ đi ngang qua cuộc đời này để hát lên cái linh cảm của mình về những giấc mơ đời hư ảo thôi. Chả thế mà giữa đỉnh điểm cuộc chơi hiện tại, chợt nghĩ đến ngày mai mà buồn - Ngày mai trong đám xuân xanh ấy..., sực nhớ đến dĩ vãng mà thương, chả biết người ấy giờ này có còn được thế nữa không - Chị ấy năm nay còn gánh thóc / Dọc bờ sông trắng nắng chang chang? Người đọc câu thơ này đã có lúc cho rằng đó là hình ảnh nhọc nhằn của lao động, và xúc cảm của thi sĩ là xót thương cho đời người vất vả. Người viết đã từng đối lập cảnh trong “nắng ửng” của bao cô thôn nữ, với cảnh trong “nắng chang chang”; đằng thì hát (chơi), đằng thì gánh thóc (lao động), đằng thì hiện tại nhỡn tiền, đằng thì khuất chìm trong quá vãng, để rồi đinh ninh rằng: hôm nay họ là những thôn nữ hát trên đồi, ngày mai họ sẽ thành người chị gánh thóc, cái “nắng chang chang” chắc chắn sẽ làm tiêu tan cái “nắng ửng” này đi. Vui sướng chỉ thoáng qua, nhọc nhằn mới vĩnh viễn. Có lẽ không phải thế. Đây không hẳn là hình ảnh vất vả (khổ) mà là hình ảnh thơ mộng (đẹp). Trong thơ Hàn Mặc Tử hình ảnh người tình xa chợt hiện về trong sắc trắng tinh khôi, nhiều khi loá sáng nhìn không ra, bao giờ cũng là hiện thân của vẻ xuân tình mà trinh khiết. Đó là kỉ niệm về độ xuân thì của “chị ấy” vốn đọng trong kí ức thi nhân. Vì thế hình ảnh này là một thoáng “sực nhớ” của niềm khát khao, hơn là của nỗi thương xót. Nếu có chút ngậm ngùi nào đó thì phải là nỗi lo âu cho hiện tại (“năm nay”) có còn không cái độ xuân thì ấy, chứ không phải xót xa vì gánh thóc nhọc nhằn - nắng chang chang đâu chỉ có nghĩa là gay gắt! Nên nhớ, Hàn Mặc Tử là một thi sĩ lãng mạn. Đối tượng của hồn thơ lãng mạn là vẻ xuân tình của độ xuân thì, chứ chưa phải là lao động!

Thế đấy, nỗi niềm của Tử là cái trạng thái tâm hồn đầy uẩn khúc của vị khách thơ đi ngang qua vườn trần gian, đúng vào cái thời điểm xuân chín để mà thấy ra cái cảnh thần tiên đương khi xuân chín và cái tương lai vô vị buồn sầu ngay khi hậu xuân chín trong kiếp người của mọi cá thể. Đó chẳng phải là vấn đề lớn của cõi nhân sinh này hay sao? Tiếc xuân thì đó mới là nỗi niềm sâu xa nhất của thi phẩm và đó cũng là nỗi đau thương của chàng thi sĩ thiết tha vớí cuộc đời mà luôn phải sống trong mặc cảm lìa đời vậy.


Văn Chỉ, 1997-2002

[1] Hàn Mặc Tử còn nói đến sóng áo, sóng trăng, sóng cành, sóng lá... đều là sự hiển lộ ra bên ngoài của tình ý bên trong: “Ta đi bắt nắng ngừng, nắng reo, nắng chảy / Trên sóng cành, sóng lá cô gì má đỏ hây hây /Ta rình nghe niềm ý bâng khuâng trong gió lảng / Với là hơi thở nồng nàn của ả thơ ngây”...
[2] “Ai” và “khách xa” có lẽ đều chỉ là sự phân thân của tác giả.
[3] Trong bài Thức khuya, có câu: Bóng nguyệt leo song sờ sẫm gối / Gió thu lọt cửa cọ mài chăn (Lệ Thanh thi tập)

Nguồn: Ba đỉnh cao Thơ Mới: Xuân Diệu - Nguyễn Bính - Hàn Mặc Tử, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2003
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
15.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Hình như bài thơ có sai một chút anh ạ!

Anh ơi, Ngày trước em học thì hai câu này này, nó khác cơ:

"Thổn thển như lời của nước mây
Thầm thì với ai ngồi dưới trúc"

Theo như em nhớ thì nó là:
"Hổn hển như lời của nước mây
Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc"

Dạ. Chỉ có thế thôi ạ! Mà em đọc thấy không chỉ có bài này là sai như thế. Còn một số bài khác nữa. Nhưng mà cái đó không chắc. Còn cái này, em nghĩ là em chắc ạ!

Em ngẩn ngơ ngắm khoảng trời chiều
Khoảng trời yên ả, nét phiêu diêu
Em lơ đãng vẽ anh lên đó
Vẽ cạnh tên anh, một chữ yêu
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Sai sót

Anh nhớ đúng là "thổn thển" đấy, còn "thầm thĩ" thì anh cũng nhớ là như vậy. Ngày xưa học anh cứ nghĩ là sách in nhầm (họ cũng ko chú thích), về sau mới biết "thầm thĩ" là phát âm tiếng địa phương của 1 số vùng nào đó. Anh sửa lại cái này.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Hic

Ôi! Rõ ràng là em có đọc lại sách rồi. Đọc cả cuốn "thơ Hàn Mặc Tử" nữa. Em cũng search trên Google hai câu: "Hổn hển như lời của nước mây" và "Thổn thển như lời của nước mây", Cái trước ra 20 kết quả, còn cái sau, ra mỗi một kết quả của "DIỄN ĐÀN DÂN 37". (dân 37 là dân gì không biết!)

Em lại bắt đầu thắc mắc là sao thi viện của ta không có trong phần kết quả ấy nhỉ? Nếu có thì chắc là sẽ có hai kết quả :)

Theo em thì nhất định là "Hổn hển" đấy ạ!

Em ngẩn ngơ ngắm khoảng trời chiều
Khoảng trời yên ả, nét phiêu diêu
Em lơ đãng vẽ anh lên đó
Vẽ cạnh tên anh, một chữ yêu
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Hổn hển

Vậy thì chịu rồi, anh sửa lại vậy :D
Sao tất cả các bằng chứng đều chống lại mình nhỉ :))

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
15.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

ko co

Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lồng, như cá mắc câu
Cá mắc câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết lổ nào ra
             Các bạn phân tích dùm mình bài thơ này với . mình đang rất cần ...cảm ơn các bạn nhiêu nha...:D

tran nhat lam
23.50
Chia sẻ trên FacebookTrả lời

Trang trong tổng số 2 trang (18 bài trả lời)
[1] [2] ›Trang sau »Trang cuối