Nước nhà gặp cơn bĩ,
Trách nhiệm gái trai chung.
Quyết lo đền nợ nước,
Há những vị thù chồng.
Tham tàn căm tướng chệch,
Tai mắt tủi nòi Hồng.
Em ơi đứng cùng chị,
Thù riêng mà nghĩa công.
Xin đem phận bồ liễu,
Đành liều với non sông.
Một trận đuổi Tô Định,
Quân Tàu đuôi chạy cong.
Lĩnh Nam bảy mươi quận,
Mặc sức mà vẫy vùng.
Mê Linh dựng nghiệp đế,
Độc lập nêu cờ hồng.
Bốn năm nước tự chủ,
Nhi nữ cũng anh hùng.


Bài ở trên chép theo Việt thi (1949) và Quốc văn trích diễm: Cao đẳng tiểu học độc bản (1928).

Bản in trong Nét mực tình (NXB Đông Tây, 1937):
Nước nhà gặp truân bĩ,
Trách nhiệm gái trai chung.
Em ơi đứng cùng chị,
Thù riêng mà nghĩa công.
Quản chi phận bồ liễu,
Kề vai gánh non sông.
Lĩnh Nam bảy mươi quận,
Mặc sức ta vẫy vùng.
Mê Linh dựng nghiệp đế,
Nhi nữ cũng anh hùng.
Bản in trong Tạp chí Tri tân (số 38, ngày 11/3/1942):
Nước nhà gặp cơn bĩ,
Trách nhiệm gái trai chung.
Em ơi đứng cùng chị,
Thù riêng mà nghĩa công.
Quản chi phận bồ liễu,
Kề vai gánh non sông.
Lĩnh Nam bảy mươi quận,
Mặc sức ta vẫy vùng.
My Linh dựng nghiệp đế,
Nhi nữ cũng anh hùng.
Vũ Ngọc Khánh trong Dương Bá Trạc - con người và thơ văn (Chương Thâu biên soạn, NXB Phụ nữ, 2004, tr.78) đánh giá “Thơ thất ngôn rất điêu luyện, mà thơ ngũ ngôn của Dương Bá Trạc cũng rất vững vàng. Cảm tình của con người vịnh sử, phong cách của một thi nhân đời Đường (kiểu Đỗ Phủ) được thấy rõ ở bài Vịnh Bà Trưng của ông. Lời thơ chắc, giọng thơ trịnh trọng, cảm xúc mạnh và hùng được thu cả vào bài thơ trên.”

Nguồn:
1. Trần Trọng Kim, Việt thi, NXB Tân Việt, 1949
2. Dương Quảng Hàm, Quốc văn trích diễm: Cao đẳng tiểu học độc bản, Kim Khuê ấn quán phát hành, 1928