Trang trong tổng số 1 trang (7 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Tục Thiên Thai phú (Ngô Thì Chí): Bản dịch của Thạch Can

Sau ngày Rằm tháng Mười năm nay, Học Tốn từ nhà nghỉ Bảo Triện về thư viện Hà Khẩu, gà gáy cưỡi ngựa lên đường mà đi lên núi Thiên Thai.

Đằng đông tang tảng, trời còn chạng vạng.
Đâu đó xôn xao, núi non rạng sáng.
Lên đèo leo dốc, buông mắt tứ bề.
Khói mây muôn vẻ, bước đi gập ghềnh.
Ta lỏng buông tay khấu, mặc cho ngựa cứ đi.
Bỗng núi thấp cây xanh rì, quanh co bên một bờ đê.
Bãi phẳng sườn đồi, gồ ghề sỏi đá.
Hổ báo nanh nhe, rắn rồng miệng há.
Sư tử phủ phục, hộ pháp nghiêng ngả.
Bia xiêu chữ mòn, vách tường tơi tả.
Tưởng như chợ trời, ngỡ nền chùa cũ.

Ông già quê bảo ta rằng:
- Đây là nền cũ của hành cung triều trước đó.
Ta liền hỏi lại chuyên đầu đuôi,
Thì rành rành như đã ghi cuộc Vân Du thuở nọ.
Thịnh suy vần chuyển, chuyện cũ thành không.
Nghe gió thổi thấy rát mặt, mở mắt nhìn mà đau lòng.
Bỗng có một ông khách, từ bên núi đi lại,
Nhận ra là bạn cũ, gặp nhau mừng khấp khởi.
Liền cùng nhau, khoác tay bên phiến đá khóm trúc,
Sát cánh hứng gió mát gốc tùng.
Hàn huyên kể lể miền xa cách,
Trầm trồ cảnh đẹp của núi sông.
Khách đã hết hứng, mà ta vẫn ngất ngây.
Ông bạn nói:
- Ô hay! Thiên hạ có thiếu chi cảnh đẹp,
Sao anh quyến luyến mãi nơi này?

Ta rằng:
- Tạo hoá khôn cùng, đất trời chẳng nhỏ.
Người sống ở đời, quý hồ thích thú.
Ta ghét chốn thành thị ồn ào,
Mà ưa cảnh núi rừng u nhã.
Muốn sao cho thư thái trong lòng,
Đâu phải ham chốn núi thẳm rừng sâu xa lạ!
Núi không cần cao, nước không cần sâu.
Vui cùng núi với nước, mắt nhìn lòng thích biết bao.

Có cần chi mà phải:
Lên núi Nhạn Đãng mò hang hốc, vượt dòng Hổ Khê tìm ngọn nguồn.
Mò mẫm đi tìm tổ cuốc cuốc, ngấp nghe nhìn ngó vực thuồng luồng.
Rồi mới cho rằng tiêu niềm tục, để thoả thích trong lòng hay sao?
Liền cùng nhau lên lầu vọng giang, mua rượu cùng uống.
Rượu vừa ngà ngà, cổ nhân bỗng cao hứng đứng phắt dậy mà rằng:
- Văn chương là tinh tuý của khí,
Núi sông là kỳ diệu của thể.
Tạo hoá đã cho ta văn chương,
Núi sông lại cho ta cảnh trí.
Ta thu thập được gì trong ấy?
Hoặc là: Tu tỉnh mình ta, trau dồi văn ta.
Lấy chân thực, bỏ xa hoa, giữ thuần nhất, sửa sai ngoa.
Tước bỏ những điều hư tạp, giữ gìn chân tính từ xưa.
Hầu mang báo đáp cùng tạo hoá, tránh điều ghen ghét của trời già.
Nhân đấy lại rót rượu và nâng chén, vỗ tay làm nhịp mà ngâm nga:
Núi sông bao đời người, nghìn năm dường sớm tối.
Chợt ra ngoài trần ai, rộng khắp trong tám cõi.
Lên cao rộng tầm nhìn, sáng ra mù vừa tan.
Cây Thiên Đức mờ tỏ, mây Lãm Sơn dập dờn.
Gió mùa nghìn dặm về, hiu hiu thổi cỏ cây.
Trời mông lung vẳng lặng, ta nói có ai hay.
Người xưa đâu biết nay, người nay chợt thành cổ.
Thánh hiền đi không về, trí ngu cùng lối đó.
Tài nhiều đời ghét ghen, học rộng người kèn cựa.
Thông minh, hại tính xưa, tinh nhanh, mất sẵn có.
Giữ lấy trí với nhân, ngõ hầu vui và thọ.
Ngâm xong rượu cạn, núi chiều sương phủ.

Ta bảo thư đồng:
- Con hãy ghi nhớ!
Từ biệt mà rời chỗ.


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
Ảnh đại diện

Ký thượng Vân Du viện (Ngô Thì Chí): Bản dịch của Phạm Tú Châu

Cuộn mình, rồng rắn để an thân,
Bĩ thái xưa nay tự có phần.
Phu Tử bánh xe qua nước Tống,
Văn Công đất khách náo bên Tần.
Vàng qua trăm luyện nên đồ tốt,
Cây trải ba đông ắt tới xuân.
Trông bọn ta thành nòi sách vở,
Huống hồ sinh trưởng cậy nền nhân.


Ảnh đại diện

Tuý ngâm kỳ 1 (Ngô Thì Điển): Bản dịch của Trần Thị Băng Thanh

Than ôi, người đời đâu nhiều tâm,
Chỉ một tâm mà sầu muôn mối.
Như muốn tâm này chẳng buộc ràng,
Hãy khướt say từ sáng đến tối.
Anh chẳng thấy:
Uyên Minh rượu rượu tràn trang thơ,
Không luỵ Tống triều vì danh lợi.
Nguyên Gia chết oan Đàn Tướng quân,
Niên hiệu Nghĩa Hy vẫn chẳng đoái.
Lại chẳng thấy:
Thanh Liên suốt ngày say li bì,
Minh Hoàng nâng dậy, dậy không nổi.
Thiên Bảo luỵ chết Dương Quý Phi,
Thanh Liên cưỡi kình ra bể, phới!
Thần rượu nào phụ bọn ta đâu,
Nuôi hạo khí, khuyên anh uống tới.


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
Ảnh đại diện

Tuý ngâm kỳ 2 (Ngô Thì Điển): Bản dịch của Trần Thị Băng Thanh

Người nói đất trời mãi không già,
Kẻ rằng đất trời là nháy mắt.
“Áo trắng chó xanh” biến đổi nhiều,
Bãi bể nương dâu nhanh chóng thật.
Người rằng trời trăng là vô cùng,
Ta rằng trời trăng là thấm thoắt.
Mọc lặng chỉ trong mười hai canh,
Trải mười lăm ngày tròn lại khuyết.
Người bảo đời người chỉ như con vờ,
Ta bảo con vờ là thọ nhất.
Thân vờ sống gửi trong bao la,
Thân nhỏ phiêu diêu sớm tối qua.
Sớm tối đất trời bao biến đổi,
Nhật nguyệt càn khôn được mấy đỗi!
Phàm vật hữu hình đều nát tan,
Trăm năm, khe cửa, vó câu ruổi.
Tiết tháo chưa từng là trường tồn,
Tiết tháo chẳng cần cố giữ mãi.
Người đời lo gì lại nghĩ gì?
Cốt thoả cái chí mình theo đuổi.
Bình sinh ước nguyện như đã thành,
Muôn người trong cõi chẳng thèm đoái.
“Bất khả”, “vô bất khả” đều không,
Chẳng biết người và ta cũng đồng.
Muốn khóc cứ khóc, ca cứ ca,
Muốn cười cứ cười, nói cứ nói.
Hồn như như tấm lòng trẻ thơ,
Chẳng chịu để phép tắc buộc trói.
Người nghe không hiểu cười ta điên,
Ta biết lòng ta vẫn thản nhiên.
Ngày mai bảo với người nghe ấy,
Anh là phàm trần, ta là tiên.


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
Ảnh đại diện

Việt nhân ca (Khuyết danh Trung Quốc): Bản dịch của Nguyễn Hoàng Phúc

Bữa nay chẳng biết đêm nào?
Thuyền đưa trước gió cắm sào dòng sâu.
Hôm nay không biết hôm đâu?
Được đưa vương tử cùng lưu nơi thuyền.
Nghĩ lòng dầu phận muộn phiền,
Trách lòng chớ để mang nguyền người ta.
Biết chàng vương tử tài hoa,
Nỗi lòng, lòng lại nối ra chau mày.
Núi đây núi mọc cùng cây,
Cây đây cây lại ra dài cành thêu,
Nghĩ chàng lòng thiếp quạnh hiu,
Sớm đâu luống phải duyên yêu chốc mòng.


Ảnh đại diện

Thương tiến tửu (Lý Bạch): Bản dịch của Nguyễn Hoàng Phúc

Anh có thấy:
Hoàng Hà nước chảy trên trời xuống,
Suôi ra biển lớn chẳng quay về!
Lại chẳng thấy:
Lầu cao soi sáng đầu tóc bạc,
Sáng xanh tơ, chiều nhuộm màu sương.
Đắc ý mấy lần nên vui tận,
Chớ để chén vàng cạn soi trăng!
Trời sinh có tài, ắt có dụng,
Ngàn vàng tiêu hoang cũng lại về.
Mổ dê, giết trâu vui cái đã,
Rót ba trăm chén uống tả tơi,
Sầm huynh hỡi,
Anh Đang Khâu.
Mời nâng chén,
Chớ có dừng!
Nay hứng ta say ca một khúc,
Xin hãy vì ta mà lắng nghe:
“Trống đánh, chuông kêu nào thích chí,
Chỉ nguyện hồn ta say chẳng dừng!
Thánh hiền xưa nay mờ tên tuổi,
Chỉ có bợm say mãi lưu danh.
Trần Vương thời đó yến Bình Lạc,
Một vạn rượu ngon bí tỉ tê.”
Ông chủ chớ nói nhà thiếu tiền,
Mau mau mua rượu đãi anh em.
Ngựa hoa ngũ sắc,
Áo lông ngàn vàng,
Liền kêu đám nhỏ mang đổi rượu,
Chén chú chén anh diệt muôn sầu.


Ảnh đại diện

Mộc Lan từ (Khuyết danh Trung Quốc): Bản dịch của Nguyễn Hoàng Phúc

Tiếng than thở lại đà than thở,
Bóng Mộc Lan lần giở con thoi.
Còn đâu tiếng củi lần phôi,
Chỉ nghe những tiếng lệ tôi nữ đài.

Hỏi người ấy nghĩ hoài chi thế,
Có phải người mong mỏi nơi ai?
Xem trăng lầu gác bên đài,
Se mành duyên kết một màu đỏ son.

Ấy chẳng phải tâm con gái ấy,
Nàng chẳng mong, chẳng lấy mấy lòng,
Hôm kia chiếu án đã bang,
Tấu: quân Khả Hãn đã tràn sang đây!

Mười hai quyển sổ đề quân đó,
Thảy mười hai đều có tên cha.
Đầu lòng chỉ một kiếp hoa,
Chẳng anh, không chú biết là nhờ đâu?

Đành thúc ngựa nên câu xông trận,
Nghĩa cha con đành phận giã tòng.
Lên đường sắm ngựa chợ Đông,
Yên đai sắm sửa nơi lồng chợ Tây.

Bàn đạp yên qua này Nam chợ,
Lại chợ Bắc, lần giở ngọn roi.
Giật cương tuấn mã đầu hồi,
Chân đà nước đại từ rồi mẹ cha.

Bên Hoàng Hà kiếp đà ngủ bợ,
Tĩnh mịch thay, chẳng có tiếng nương.
Canh khuya hiu hắt lên đường,
Chỉ còn nghe tiếng giang trường thúc mau.

Từ cha mẹ ngày đầu hôm ấy,
Giờ đắp sương đầu lẩy núi cao.
Hắc Sơn một dãy hồng mao,
Kỵ binh, ngựa gấm ào ào tên bay.

Ấy bọn Hồ đang vây Yên núi,
Ngựa hí vang một cõi thiên thai.
Mấy ngày rong ruổi đường dài,
Muôn ngàn dặm Bắc, mây bay cách trời.

Núi sông này cao nơi vời vợi,
Thúc ngựa đi mà hỡi như bay.
Gió truyền tiếng mõ lắc lay,
Sương giăng giáp lạnh đến rày thấu xương.

Chết trăm trận, gan trường nên tướng,
Người tráng sĩ lính đường mười năm.
Khoét rừng, đào núi trăm lần,
Nay về tâu trước triều thần cung môn.

Nơi điện ngọc, lòng khôn xiết hối,
Đến Minh Đường, trăm mối ngổn ngang.
Vua ban thưởng bạc ngàn vàng,
Ghi người thập nhị bậc công đại thần.

Nay tứ ban phần Thượng thư chức,
Lại chẳng lòng hạ sức làm quan.
Chỉ cầu thúc ngựa bình an,
Phiêu du ngàn dặm về làng cũ xưa.

Nay ngày về, gió lùa mái tóc,
Bay phất phơ dáng vóc anh hùng.
Mẹ già còn hãy chờ mong,
Nay nghe con gái tòng quân đã về.

Mừng vui xiết, đón huê đầu ngõ,
Mặt như hoa đứng đó mừng lòng.
Bên này em gái đã trông,
Phấn son, chải chuốt, áo hồng tung bay.

Bên em trai đã hay tin ấy,
Sớm tể lợn dê thiết đãi bàn.
Gác Đông đã mở chốt then,
Gác Tây chạy rộn kênh giường gối thêu.

Cởi chiến bào đã thiêu lửa trận,
Lại bận vào y vận thường ngày.
Bên nhà xoã tóc tung bay,
Tô màu, điểm phấn bên khay gương đồng.

Bước ra cửa, tỏ lòng bạn lính,
Bạn lính thấy thất kinh mấy hồi.
Mười hai năm lính cùng đôi,
Ai ngờ người ấy lại hồi nữ nhi!

Mấy ngàn dặm đường đi người lính,
Chẳng ai ngờ lại chính Mộc Lan.
Thỏ nam chân bước tung ngang,
Bên này thỏ cái mơ màng mắt ai.

Nhưng song thỏ hãy cùng bay,
Nào ai biết được gái trai bên nào.


Trang trong tổng số 1 trang (7 bài trả lời)
[1]




Tìm bài trả lời thơ:

Kết quả tìm được thoả mãn đồng thời tất cả các tiêu chí bạn chọn.
Bạn có thể tìm bằng Google với giao diện đơn giản hơn.

Tiêu đề bài trả lời:

Nội dung:

Thể loại:

Người gửi:

Tiêu đề bài thơ:

Tác giả bài thơ: