Trang trong tổng số 5 trang (49 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] [4] [5] ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Điếu Trần Quý Cáp (Huỳnh Thúc Kháng): Bản dịch của Huỳnh Thúc Kháng

Gươm xách xăm xăm tách dặm miền,
Làm quan vì mẹ há vì tiền.
Quyết đem học mới thay nô kiếp,
Ai biết quyền dân nảy hoạ nguyên.
Bồng Đảo gió chưa đưa giấc mộng,
Nha Trang cổ đã khóc hồn thiêng.
Chia tay chén rượu còn đương nóng,
Đà Nẵng đưa nhau lúc xuống thuyền.


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
Ảnh đại diện

Chí thành thông thánh (Phan Châu Trinh): Bản dịch của Huỳnh Thúc Kháng

Việc thế quày đầu chẳng chút lưa,
Non sông không lệ khóc người xưa.
Muôn dân tôi tớ thằng quyền mạnh,
Tám vế văn chương giấc ngủ mơ.
Dày mặt mỉa mai cam chịu mãi,
Thoát thân dàm buộc biết bao giờ.
Các người há chẳng không tâm huyết,
Đọc suốt thơ nầy đã thấm chưa?


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
Ảnh đại diện

Cô đảo trung (Dương Đình Thưởng): Bản dịch của Huỳnh Thúc Kháng

Hòn đảo mồ côi giữa cõi cùng,
Đày ra Nam Bắc kiếp tù chung.
Nước nhà văn hiến còn in cũ,
Âu hoá phong trào chửa trót công.
Tiếng sóng góc trời rầy giấc điệp,
Luồng mây núi cũ mến chim hồng.
Thôi đừng rưới lệ Tân Đình nữa,
E nhuộm Côn Lôn nước biển hồng.


Ảnh đại diện

Điếu Tăng Bạt Hổ (Đặng Thái Thân): Bản dịch của Huỳnh Thúc Kháng

Người há sinh làm giỡn với đời sao? Cầm binh một độ, bỏ nước hai mươi năm, đã khóc với Xiêm, đã khóc với Tàu, đã khóc với Nga, đùng đùng sang khóc lớn bên Đông, ai dè gió phất trời thu, nắm cốt về chôn thành đất Huế;

Ta chả biết chết là cái gì vậy! Đọc sách năm châu, kết giao vài chục bạn, hoặc đánh bằng lưỡi, hoặc đánh bằng bút, hoặc đánh bằng não, khăng khăng chỉ độc đánh bằng sắt, thề quyết máu trôi đất nóng, cờ đào tỏ mặt giống da vàng.


Ảnh đại diện

Cố quốc sơn hà trọng (Lê Đình Cẩn): Bản dịch của Huỳnh Thúc Kháng

Non sông ơn vẫn nặng,
Sóng gió cuộc vần xoay.
Vạc lửa lòng quên sợ,
Tăm kình mộng đuổi ngay,
Khóc đời Cao chưa chán,
Hỏng việc Cát nào hay.
Máu nóng dầu trôi chảy,
Văn minh hấp cả bầy.


Ảnh đại diện

Khấp Dương tú tài mộ (Phan Châu Trinh): Bản dịch của Huỳnh Thúc Kháng

Non xanh nước biếc nấm mồ côi,
Mưa gió thương ai một góc trời.
Chưa dám hết lòng tuôn nước mắt,
Ngoảnh về nước cũ vẫn chơi vơi.


Ảnh đại diện

Đề Thái Nguyên thất nhật quang phục ký kỳ 6 (Ngô Đức Kế): Bản dịch của Huỳnh Thúc Kháng

Bị chả xong, gươm cũng dở dang.
Mười năm nín tiếng chốn cùng hoang.
Non sông un đúc người sau đấy,
Câu chuyện thường đêm cứ đốt hương.


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
Ảnh đại diện

Tích niên kim nhật đáo Côn Lôn kỳ 4 (Ngô Đức Kế): Bản dịch của Huỳnh Thúc Kháng

Ngày này năm ngoái đến Côn Lôn
Réo rắt chim quyên tiếng gọi hồn
Non nước gần đây sao đó tá
Sóng kình thu muộn cuốn trời phun


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
Ảnh đại diện

Tích niên kim nhật đáo Côn Lôn kỳ 3 (Ngô Đức Kế): Bản dịch của Huỳnh Thúc Kháng

Thuyền từ khó vớt cuộc sinh tồn
Trời thẳm cùng ai tỏ tấc non
Mùa lạnh thu già trông quạnh quẽ
Ngày này năm ngoái đến Côn Lôn


Ảnh đại diện

Tích niên kim nhật đáo Côn Lôn kỳ 2 (Ngô Đức Kế): Bản dịch của Huỳnh Thúc Kháng

Ngày này năm ngoái đến Côn Lôn
Ma chiết trăm chiều khí vẫn còn
Lựa có lòng lo cha mẹ nhớ
Áo xanh đẫm lệ tủi phần con


Trang trong tổng số 5 trang (49 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] [4] [5] ›Trang sau »Trang cuối




Tìm bài trả lời thơ:

Kết quả tìm được thoả mãn đồng thời tất cả các tiêu chí bạn chọn.
Bạn có thể tìm bằng Google với giao diện đơn giản hơn.

Tiêu đề bài trả lời:

Nội dung:

Thể loại:

Người gửi:

Tiêu đề bài thơ:

Tác giả bài thơ: