Trang trong tổng số 13 trang (126 bài viết)
Trang đầu« Trang trước‹ ... [10] [11] [12] [13]

Ảnh đại diện

Poet Hansy

Kỳ 118

DANH TƯỚNG TRẦN NGUYÊN HÃN RA OAI
TƯƠNG QUAN LỰC LƯỢNG THAY ĐỔI


Theo chủ trương tránh mạnh đánh yếu, mùa thu năm 1425 Bình Định vương lệnh cho Tư đồ Trần Nguyên Hãn và Thượng tướng Lê Nỗ, Chấp lệnh Lê Đa Bồ đem quân đi tuần hai xứ Tân Bình (thuộc Quảng Bình ngày nay), Thuận Hoá (thuộc Quảng Trị, Thừa Thiên Huế ngày nay). Nhiệm vụ của Trần Nguyên Hãn và Lê Nỗ không dễ hoàn thành vì quân Minh và nguỵ binh ở các xứ này vẫn còn rất đông, mặc dù đã mất liên lạc với các thành trì phía bắc của giặc.

Theo nhiều sử liệu cũ, Tư đồ Trần Nguyên Hãn thuộc dòng dõi Tư đồ Trần Nguyên Đán, một quý tộc nổi danh cuối thời Trần. Là người trí dũng song toàn, Trần Nguyên Hãn từ lúc theo Lê Lợi khởi nghĩa đã nhiều lần xông pha trận mạc, lập nhiều chiến công nơi trận tiền. Bình Định vương biết tài lược của ông, rất tin dùng, cho dự bàn mưu kín, rồi thăng dần lên chức Tư đồ. Việc phái Trần Nguyên Hãn vào nam không chỉ vì tài năng, mà còn vì uy tín của một hậu duệ quý tộc Trần.

Khoảng 1.000 quân Lam Sơn và 1 thớt voi hành quân từ Nghệ An vào nam, đến châu Bố Chính (thuộc Quảng Bình), gặp phải tướng Minh là Nhậm Năng đem quân dàn trận bên sông Giang đón đánh. Trần Nguyên Hãn cùng Lê Nỗ, Lê Đa Bồ thấy quân Minh đông hơn quân ta gấp mấy lần vẫn không nao núng, một mặt cho người về Nghệ An xin thêm viện binh, mặt khác bình tĩnh chia quân đối phó. Quân Lam Sơn ngầm bố trí mai phục chỗ đường hẹp tại Hà Khương, Trần Nguyên Hãn cùng quân tướng còn lại thì ra đường lớn dàn trận dụ địch.

Nhậm Năng vốn chưa đụng trận với quân Lam Sơn nên chưa không rõ về thuật dùng binh của quân ta, cứ đem hết quân qua sông mà đánh vỗ mặt. Trần Nguyên Hãn cầm quân vừa đánh vừa lui, nhử quân giặc vào bẫy. Đến chỗ mai phục, quân ta hai mặt nổi lên đánh kẹp lại. Lê Nỗ dẫn voi và các quân khoẻ mạnh xông ra, đánh cắt ngang đội tiên phong của quân Minh, phá nát thế trận của giặc. Nhậm Năng không chống nổi phải quay đầu chạy, các quân tướng giặc cũng đều tan chạy cả. Quân Lam Sơn truy bức đến tận bờ sông. Trận này quân Minh bị giết và chết đuối hơn 1.000 người. Thiệt hại phía quân ta không đáng kể.

Nhậm Năng thua trận đầu nhưng quân vẫn còn đông, tỏ ra thận trọng hơn. Lúc này, Bình Định vương Lê Lợi nhận được tin tức từ cánh quân nam tiến của Trần Nguyên Hãn, Lê Nỗ và Lê Đa Bồ báo về, liệu rằng cần phải dùng thuỷ quân để tăng cường. Ngài bèn lệnh cho các tướng Lê Ngân, Lê Bôi, Lê Văn An đem 70 chiến thuyền từ Nghệ An vượt biển vào tiếp ứng. Quân Lam Sơn hai đạo thuỷ bộ họp lại, vừa đánh giặc vừa chiêu mộ thêm lực lượng, cùng nhân dân vây bức, dụ hàng các đồn trại quân Minh ở các châu huyện.

Khí thế của quân Lam Sơn cùng với sự hỗ trợ nhiệt tình của nhân dân khiến cho quân Minh không thể địch nổi, rút vào hai thành Tân Bình, Thuận Hoá tử thủ. Trần Nguyên Hãn vẫn theo sách lược chung, chia quân vây bức thành trì mà không công phá, giữ gìn lực lượng, chiêu dụ nhân dân. Trên thực tế đất đai hai xứ Tân Bình, Thuận Hoá đã thuộc quyền kiểm soát của nghĩa quân Lam Sơn, quân Minh ở trong thành đã hoàn toàn bị cô lập, chỉ còn trông cậy vào lương thực, khí giới đã tích luỹ từ trước mà cầm cự lay lắt qua ngày.

Chẳng những chiếm được đất đai, lực lượng quân Lam Sơn lại còn được dịp phát triển vượt bậc về số lượng. Trần Nguyên Hãn với tài năng và uy tín của mình đã tuyển chọn thêm được hàng vạn quân sung vào đội ngũ, khiến tương quan lực lượng tổng thể giữa quân Lam Sơn và quân Minh có một chuyển biến lớn. Cho đến tháng 10.1425, một dải giang sơn từ Thanh Hoá đến Thuận Hoá đã thuộc quyền làm chủ của nghĩa quân Lam Sơn. Ngoài ra mở rộng vùng giải phóng, phát triển thêm thế lực thì việc này còn giúp quân Lam Sơn tránh khỏi mối lo “nội cố”, tức bị trong đánh ra, ngoài đánh vào, phải tiến hành phòng thủ các hai hướng bắc và nam. Với thế trận mới, một lực lượng cơ động chiến lược lớn của quân ta được rảnh tay mà dồn sức tạo thành những mũi tiến công lớn.

Theo như sách lược mà Nguyễn Chích đã đề ra từ trước, quân Lam Sơn sẽ tiến đánh Nghệ An rồi dùng nhân tài vật lực xứ này mà quay ra đánh Đông Quan. Nhưng trong quá trình thực hiện, kế hoạch chung của nghĩa quân đã thay đổi theo tình hình thực tế. Quân ta chẳng những đánh chiếm đất đai Nghệ An mà còn đánh cả Diễn Châu, Thanh Hoá và tiến đánh sâu vào nam, kiểm soát một vùng rộng lớn. Với nhân tài, vật lực các xứ đã chiếm được, quân Lam Sơn đủ sức vừa tiến hành bao vây chặt quân Minh ở các thành trì vừa có thể chuyển sang giai đoạn mới, đó là bắt đầu kế hoạch bắc tiến để thu phục Đông Quan, khôi phục lại toàn bộ giang sơn Đại Việt.Với những chiến công vang dội liên tiếp, các tướng đồng loạt suy tôn Bình Định vương Lê Lợi là Đại Thiên Hành Hoá (tức người thay trời làm việc giáo hoá). Từ đó về sau các mệnh lệnh, thư từ Lê Lợi đều dùng danh hiệu này để xưng.

Bấy giờ, tuy quân dân ta thắng trận giòn giã, nhưng quốc lực nước Minh vẫn đang trong lúc cường thịnh nhất. Mặc dù nước Minh bị phân tán lực lượng khi phải đối phó với người Mông Cổ, nhưng nếu vua tôi Minh triều hạ quyết tâm thì vẫn có thể điều động hàng chục vạn quân để tăng viện cho quân Minh ở Đại Việt. Lê Lợi biết rằng cuộc chiến đấu vẫn còn nhiều gian nan, nên muốn dùng biện pháp chính trị, ngoại giao để phối hợp với quân sự. Để tiện cho việc giao thiệp với nước Minh và góp phần phân hoá nội bộ Minh triều, Lê Lợi đã cho rước một người tự xưng là con cháu họ Trần tên là Trần Cao, từ châu Ngọc Ma về để tôn làm vua.

Thực chất, Trần Cao chỉ là vua bù nhìn để góp phần khiến cho phe chủ chiến ở triều đình nước Minh hết đường viện cớ xua quân tăng viện, là mất đi sự “chính danh” giả hiệu mà vua tôi nước Minh vẫn rêu rao và tự huyễn hoặc chính mình. Còn trên thực tế, Lê Lợi vẫn là người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa và dùng uy tín của mình để kêu gọi toàn dân đánh đuổi quân Minh.

Quốc Huy

https://1.bp.blogspot.com/-Q5mnVU4MiE4/XoiqgKkkF0I/AAAAAAACN8c/PwB6nWlEFcoTC4sMjNahpzR_LvJPsghAgCLcBGAsYHQ/s640/118..jpg

15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Kỳ 119

VUA MINH NÓI LỜI MỊ DÂN
LÊ LỢI TUNG 4 ĐẠO QUÂN BẮC TIẾN


Phong trào khởi nghĩa Lam Sơn từ cuối năm 1425 trở đi đã thực sự phát triển thành phong trào mang tính toàn dân, toàn quốc. Với việc nắm giữ vùng đất từ Thanh Hoá trở vào nam, vây bức quân Minh trong các thành trì, quân Lam Sơn đã khiến cho Minh triều hoàn toàn thay đổi thái độ đối với nhân dân ta. Trước đây, quân Minh diệt nước Đại Ngu, rồi đặt thành quận huyện. Nhưng người Minh thực sự chưa bao giờ coi dân Việt là “người một nhà”. Các chính sách đối với dân ta rất hà khắc và bất công, nhằm mục đích kiểm soát toàn bộ dân chúng và bóc lột ở mức độ cao nhất để làm giàu cho đế chế Minh.

Mỗi khi có phong trào phản kháng bùng lên mạnh mẽ, Minh triều bên cạnh việc đàn áp cũng tìm cách chiêu dụ quân dân ta, nhưng thường chỉ là những lời hứa hão huyền và khi việc đánh dẹp được thành công rồi thì chúng lại lộ mặt là quân giặc bạo ngược. Bây giờ khi quân Lam Sơn đang chiếm thế thượng phong trên chiến trường và Minh triều tạm thời chưa thống nhất được kế hoạch đưa quân tăng viện để phản kích, một lần nữa những lời lẽ chiêu dụ đầy vẻ nhân đức lại được ban ra từ một vị vua nước Minh. Đầu năm 1426, vua Minh Tuyên Tông xuống chiếu cho quan lại và dân chúng nước ta, chiêu an và thông báo thay đổi nhiều chính sách thuế khoá, lao dịch nặng nề trước đây hòng làm giảm đi sự chống đối của nhân dân ta. Chiếu viết rằng :

“Đạo lý thống trị cốt ở yên dân, lòng nhân xót thương, cũng nên tha tội. Giao Chỉ từ khi sáp
nhập vào bản đồ dến nay đã hai mươi năm, nhiều lần gây chuyện phản nghịch, phải huy động tới quân của nhà vua. Nhưng ghét chết, thích sống, lòng người không ai khác ai, lội nước vào lửa, bản tâm có ai muốn thế. Xét kỹ duyên do, đều bởi người có chức trách đã không biết cách vỗ về, lại còn cướp bóc không hề biết chán. Tình cảnh kẻ dưới không thấu lên trên, ơn trạch người trên không thấm xuống dưới.

Đến nỗi dân chúng khốn khổ, nảy lòng nghi ngờ, trốn vào núi rừng, họp nhau làm loạn. Xét thực tình đều là do bất đắc dĩ, nên xử tội cũng đáng được xót thương. Vậy ban ơn mưa móc, cho đều được thấm nhuần. Những quan lại và quân dân Giao Chỉ mắc tội phản nghịch và các tội khác, đã bị phát giác hay chưa bị phát giác, đã được xét xử hay chưa được xét xử, kể từ ngày chiếu thư này ban ra, không kể là tội lớn hay tội nhỏ, đều tha cho cả. Quân và dân đất Giao Chỉ, ngoài việc nộp tiền thuế và lương thực ra, các khoản trưng thu khác, cùng những việc đổi lấy vàng bạc, tiền đồng, muối, sắt, hương liệu, thuế cá... đều lập tức đình chỉ cả, cho phép được trao đổi ở trong hạt với nhau, quan phủ kkông được cấm.”(theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư)

Lần xuống chiếu này của vua Minh Tuyên Tông khác với những chiếu chỉ trước kia của Minh Thành Tổ Chu Đệ là việc gần như bãi bỏ hoàn toàn những chính sách bóc lột, nô dịch hà khắc mà nước Minh đã áp đặt lên lãnh thổ Đại Việt. Mặc dù vậy, khó mà khẳng định rằng vua Minh sẽ thực sự thi hành chính sách mới nhẹ nhàng hơn đối với nhân dân Việt một khi kiểm soát lại được tình hình. Và tất nhiên là nó cũng không được quân dân Việt tin tưởng, vì những việc làm trước đây của quân Minh với sự chỉ huy của những tướng lĩnh tàn bạo như Trương Phụ, Mộc Thạnh, Lý Bân, Trần Trí, Phương Chính … để khiến nhân dân quá chán ghét. Hơn nữa, ngoài vấn đề lợi ích còn có vấn đề dân tộc, quốc gia. Người Việt đơn giản là muốn làm dân của một đất nước Đại Việt độc lập, tự chủ. Lòng nhớ nước cũ và sự căm thù quân giặc khiến cho hầu hết nhân dân hướng về quân Lam Sơn. Những lời lẽ của vua Minh đều vô dụng.

Mùa thu năm 1426, trải qua gần một năm củng cố các vùng giải phóng, tạo thế bao vây vững chắc quân Minh từ Thanh Hoá trở vào thì Bình Định vương Lê Lợi và tướng lĩnh Lam Sơn vẫn không chủ trương công phá các thành trì bị bao vây. Bởi thời kỳ này việc công thành là việc rất khó khăn, không chỉ đòi hỏi bên tấn công phải có quân đông hơn gấp mầy lần, được huấn luyện kỹ càng mà còn phải có đủ chiến cụ như xe thang, dã pháo, máy bắn đá … Trong khi đó thì thành trì giặc đều có trang bị súng lớn đặt trên thành để phòng thủ, và quân giặc vào thế phải tử thủ sẽ chiến đấu liều chết. Nếu tấn công vào các thành, quân ta phải chấp nhận thương vong lớn. Thay vì chọn cách thức đòi hỏi tiêu hao nhiều nhân mạng, bộ chỉ huy nghĩa quân đã nghĩ ra kế sách vẹn toàn hơn để từng bước vững chắc đi đến thắng lợi.

Lê Lợi nhận định rằng tinh binh của giặc đều tập trung cả ở thành Nghệ An, các xứ thuộc lộ Đông Đô (tức chỉ đồng bằng sông Hồng) đều trống rỗng. Vì vậy, ngài quyết định điều động bốn đạo quân bắc tiến.

Đạo thứ nhất gồm khoảng 3.000 quân và một thớt voi dưới sự chỉ huy của các tướng Phạm Văn Xảo, Lý Triện, Trịnh Khả, Đỗ Bí … tiến đánh các trấn Thiên Quan, Quảng Oai, Gia Hưng, Tam Đái, Tuyên Quang, Quy Hoá, Đà Giang tức vùng tây bắc, với mục tiêu là uy hiếp thành Đông Quan từ mặt tây và án ngữ con đường từ Vân Nam tiến vào nước ta hòng chặn viện binh, quân lương của giặc từ trong nước Minh sang theo hướng này.

Đạo thứ hai có 2.000 quân và 1 thớt voi, dưới quyền chỉ huy của Lưu Nhân Chú, Bùi Bị, Lê Văn, Lê Ninh tiến đánh các xứ Thiên Trường, Tân Hưng và Kiến Xương (tức vùng Thái Bình, Nam Định ngày nay) để phòng khi quân tinh nhuệ của giặc ở thành Nghệ An thua trận rút ra bắc thì chặn đánh tiêu diệt, không cho chúng có cơ hội tổ chức lại lực lượng. Sau Lê Lợi phái thêm 3.000 quân xứ Thanh Hoá và 1 thớt voi ra tăng cường cho đạo quân này, nhận thêm nhiệm vụ đi vòng sang đông bắc tiến chiếm các xứ Khoái Châu, Thượng Hồng, Hạ Hồng, Bắc Giang, Lạng Giang tức là cả một vùng rộng lớn từ ven biển phía đông đồng bằng sông Hồng đến tận vùng biên giới phía bắc, nhằm mục đích bao vây quân Minh từ mặt đông và đón chặn viện binh, quân lương của giặc từ Quảng Tây sang.

Đạo thứ ba có 2.000 quân đều là tinh binh được tuyển chọn, giao cho các tướng Đinh Lễ, Nguyễn Xí tiếp theo sau hai đạo quân trên tiến đánh thẳng vào Đông Quan, không cốt công phá thành trì ngay mà để phô trương thanh thế, phủ dụ nhân dân, thăm dò tình hình rồi mới liệu thế tiến thủ.

Ba đạo quân Lam Sơn bắc tiến có nhiệm vụ khác nhau, cách thức thực hiện nhiệm vụ cũng có sự khác biệt những đều có đường lối chung là dựa vào nhân dân mà chiến đấu, thực hiện lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh. Nghĩa quân Lam Sơn đã thực hiện một phương thức chiến tranh rất mới mẽ và đặc biệt xét tại thời kỳ này. Trong phương thức này, một đội quân không chỉ đóng vai trò chiến đấu, mà còn thêm vai trò tuyên truyền, phát động toàn dân cùng chiến đấu.Tất nhiên mỗi đạo quân chỉ có khoảng vài ngàn người sẽ không thể giao chiến kiểu quy ước với quân Minh ở thành Đông Quan dù thất thế vẫn còn đến hàng vạn tên.

Quân ta thực hiện sách lược luồng sâu vào vùng chiếm đóng của giặc để phát động toàn dân cùng đứng lên đánh địch, kết nối với các lực lượng yêu nước, các anh hùng hào kiệt ở các xứ trước giờ vẫn còn đang phải chịu sự kìm toả của giặc hay phải ẩn thân nơi rừng núi, và kết nối với chính những nhóm vũ trang do chính phong trào Lam Sơn đã cài người đến ở trong những địa phương để thành lập bí mật từ trước. Trước khi ra quân, các tướng đều nhận quân lệnh không được tự tiện xâm phạm của dân. Quân đi đến đâu đều nghiêm chỉnh đội ngũ, gần gũi với nhân dân. Những nơi quân Lam Sơn đi qua chợ vẫn họp như thường ngày. Dân chúng đều mừng vui đem rượu thịt ra đón mừng và hưởng ứng hiệu lệnh của nghĩa quân Lam Sơn. Khí thế của quân và dân hoà lại làm một, càng trở nên to lớn và dữ dội khác thường.

Quốc Huy

https://1.bp.blogspot.com/-gRK_co2TCN8/Xo7R16FPbWI/AAAAAAACN9U/ivdfV-FLDFIrdXg1nwZshgb3EYrYGSDUQCLcBGAsYHQ/s640/119.jpg

15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Kỳ 120

NHÀ MINH TUNG 5 VẠN VIỆN BINH
LÊ LỢI CÓ 20 VẠN QUÂN CHỜ ĐẠI CHIẾN


Trong năm 1426, Bình Định vương Lê Lợi đã tiến thêm một bước trên con đường giải phóng đất nước bằng việc chia quân bắc tiến, phát động nhân dân cùng góp sức tiến công giặc ở khắp nơi. Để đối phó lại, Minh triều bên cạnh việc tiến hành mị dân cũng có những động thái quân sự cứng rắn. Chứng kiến sự bất lực của quan quân nước Minh trước sức tấn công của nghĩa quân Lam Sơn, vua Minh Tuyên Tông quyết định thay tướng và điều sang thêm những đạo quân tiếp viện lớn.

Về tổ chức, tháng 5.1426, Thành Sơn hầu Vương Thông được phong làm “Chinh Di tướng quân”, sang thay Trần Trí đảm nhiệm chức Tổng binh, nắm quyền chỉ huy toàn bộ quân Minh trên lãnh thổ nước ta. Đô đốc Mã Anh được cử làm tham tướng. Những tướng lĩnh cũ là Trần Trí, Phương Chính, Thái Phúc… phần nhiều đều bị vua Minh giáng chiếu hạch tội và trách mắng thậm tệ, sung làm Sự quan – chức quan dành cho những kẻ đang có tội nhưng tạm tha, cho tại chức để lập công chuộc tội.

Về thành phần lực lượng, 5 vạn quân Minh được điều động theo Tổng binh Vương Thông để sang cứu viện cho bọn Trần Trí. Để phối hợp với Vương Thông, vua Minh Tuyên Tông còn lệnh cho 1 vạn quân Minh dưới quyền tướng Vương An Lão từ Vân Nam tiến sang. Trước kia bọn tướng Minh chia nguỵ binh các xứ đi làm đồn điền để tích trữ lương thực. Nay thế bức bách, Trần Trí cho gom tất cả quân đi làm đồn điền lại, kể cũng hàng vạn, tất cả đều tập trung về thành Đông Quan. Trần Trí còn ráo riết bắt lính nguỵ tại một số vùng quân Minh còn đang chiếm đóng, sắp xếp lẫn với bọn lính người Minh để quản thúc và bắt phải chiến đấu cho chúng.

Trước đây, Trần Trí và bọn Lý An, Phương Chính bị vây bức tại thành Nghệ An. Trần Trí phải khốn đốn lắm mới tháo chạy được về bắc, để Lý An, Phương Chính lại tử thủ thành Nghệ An. Bình Định vương Lê Lợi không đánh thành mà dồn quân bao vây. Đến nay Đông Quan nguy cấp, Trí cùng quẫn sai người giỏi võ nghệ đem mật thư lẻn vào được thành Nghệ An, lệnh cho Lý An, Phương Chính “bỏ thành Nghệ An về để cứu đất căn bản”. Mọi cố gắng có giặc Minh từ tướng đến vua là có được số quân đông để bổ sung cho số bị hao hụt trong các trận đánh trước đó nhằm đối phó với sự lớn mạnh vượt bậc của nghĩa quân Lam Sơn.

Thế nhưng một lần nữa quân Minh đã không có được lợi thế mà chúng muốn. Hiệu lệnh của Bình Định vương truyền đến các xứ, trai tráng nước Việt nô nức tình nguyện sung vào đội quân chính nghĩa để diệt giặc. Chẳng những thế, dân chúng còn tự trang bị khí giới, lương thực mà cung cấp cho nghĩa quân Lam Sơn. Ngoài ra, tại các địa phương ở vùng Kinh lộ mặc dù quân Lam Sơn chưa chiếm được nhưng đã cài người tập họp lực lượng bí mật chờ sẵn trước. Đến khi quân ta đi tuần ra bắc, những đạo quân mật phục này nhanh chóng họp vào hàng ngũ. Bởi thế mà từ chỗ mỗi cánh quân chỉ có vài ngàn quân, quân Lam Sơn bắc tiến nhanh chóng tập họp được lực lượng mỗi cánh quân đông hàng vạn người.

Tổng lực lượng quân Lam Sơn từ bắc chí nam đến mùa thu năm 1426 đã đông trên dưới 20 vạn quân, và vẫn trên đà phát triển về cả quân số lẫn khí giới, kinh nghiệm chiến đấu. Vì là đội quân hiệp nghĩa cứu dân, nghĩa quân Lam Sơn hầu như không cần tốn hao tiền bạc mộ quân, không cần đem chức tước ra cầu hiền mà người người tự đến gia nhập với tinh thần không vụ lợi. Quân Minh thực sự đã phải đối đầu với sức mạnh tổng hợp của cả một dân tộc đang trỗi dậy khẳng định lại sự tự cường của mình.

Cuối tháng 9.1426, Lý Triện dẫn quân tiến gần Đông Quan. Trần Trí sợ quân ta có dịp hiệu triệu toàn dân như những gì đã diễn ra tại Nghệ An, bất đắc dĩ phải thúc quân xuất thành hòng đánh phủ đầu quân ta. Lý Triện cùng các tướng Trịnh Khả, Đỗ Bí đặt quân mai phục tại cầu Ninh Kiều, thuộc Ứng Thiên (Ứng Hoà, Hà Nội ngày nay) đón đánh. Quân ta mưu trí chờ lúc quân Minh đang qua cầu thì đổ ra đánh. Cầu hẹp, quân giặc không tiến được, lớp rơi xuống sông chết, lớp bị giết. Trần Trí bại trận phải chạy ngược về thành Đông Quan cố thủ. Trận này quân Minh có 2.000 tên thiệt mạng. Kế hoạch đánh phủ đầu của Trần Trí thất bại thảm bại, quân ta thuận đà tiến ra, khí thế càng dâng cao.

Một ngày đầu tháng 10.1426, khi các đạo quân Lam Sơn đang đi tuần quanh Đông Đô thì tại thành Nghệ An, tướng Minh là Phương Chính cùng Lý An thình lình mở cổng thành tung hàng vạn quân đánh mạnh phá vòng vây để mở đường thoát ra biển. Trong thành Nghệ An chỉ để lại Thái Phúc cùng một ít quân trấn giữ. Quân Lam Sơn vốn đã xếp đặt sẵn phục binh các nẻo, chỉ đợi giặc kéo ra là đón đánh. Bình Định vương Lê Lợi liền tức khắc dồn quân bao vây đánh diệt quân giặc. Tuy nhiên quân Minh đánh liều chết, lại có thuyền lớn nên phá được vòng vây.

Bình Định vương Lê Lợi một mặt để các tướng Lê Ngân, Lê Văn An, Lê Thận, Phạm Bôi, Lê Văn Linh, Bùi Quốc Hưng ở lại tiếp tục cầm quân vây chặt Thái Phúc tại thành Nghệ An, còn ngài thì đích thân đốc suất quân thuỷ bộ rầm rộ truy kích theo Phương Chính và Lý An, buộc giặc phải trả giá đắt trên mỗi bước đường tháo chạy. Đến Thanh Hoá, thuyền quân Minh sau phen nguy khốn rốt cuộc thoát được ra biển, nhắm theo hướng bắc mà chèo nhanh, định tiến vào sông Đáy ngược dòng về thành Đông Quan. Bấy giờ quân ta có ít thuyền lớn, không thể đuổi theo được bọn Phương Chính. Nhưng ở các xứ ven biển từ Thanh Hoá trở ra, quân Lam Sơn đã làm chủ phần lớn. Bởi thế, hạm đội quân Minh dưới quyền Phương Chính, Lý An không có đường lên bờ, phải đi lòng vòng ngoài biển.

Bình Định vương Lê Lợi sau khi để xổng hàng vạn quân Minh ở thành Nghệ An, cho rằng mặt trận chính đã chuyển ra bắc, bèn dời dinh đóng tại Lỗi Giang xứ Thanh Hoá, chia quân đi tuần quanh thành Tây Đô. Tướng Minh là La Thông ở trong thành Tây Đô cùng quẫn vẫn nhất quyết đóng chặt cửa thành không ra hàng. Lê Lợi uỷ lạo tướng sĩ, thăm hỏi thân thuộc ở Thanh Hoá. Kỳ lão và nhân dân trong vùng đều tình nguyện sung quân diệt giặc. Bình Định vương kén người khoẻ mạnh, tuỳ tài lược cao thấp mà xếp vào đội ngũ. Ai nấy đều vui vẻ, nóng lòng chờ dịp lập công.

Cuối tháng 10.1426, hai đạo viện binh giặc đã rầm rộ kéo sang. Phía đông bắc, Vương Thông cũng Mã Anh dẫn 5 vạn quân từ Quảng Tây tiến theo đường Lạng Sơn xuống Đông Quan. Ở hướng tây bắc, Vương An Lão dẫn 1 vạn quân Vân Nam theo đường từ Đà Giang (Lai Châu ngày nay) tiến xuống đồng bằng.Tương quan lực lượng của hai bên bấy giờ có sự khác biệt lớn tại các mặt trận. Nếu như từ Thanh Hoá trở vào nam, quân Lam Sơn vẫn nắm ưu thế tuyệt đối cả về lực lượng lẫn thế trận thì ở mặt trận từ đồng bằng sông Hồng trở ra các vùng trung du và biên giới phía bắc, quân Minh đã có lực lượng đông mạnh hơn quân ta nhờ vào nỗ lực gom quân của Trần Trí và sự tăng viện từ nước Minh sang.

Quốc Huy

https://1.bp.blogspot.com/-CYuJmj17fNs/XpV9AnhGP8I/AAAAAAACN_I/QDwC_etDtUI8k_1YkE8p8qVT2c_t8da6gCLcBGAsYHQ/s640/120.jpg

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Kỳ 121

DÙNG KẾ PHÁ “GIÁO DÀI NƠI NGÕ HẸP”
2 LẦN PHÁ QUÂN MINH
[/b]


Phong trào Lam Sơn tính đến nửa cuối năm 1426 đã phát triển rất mạnh mẽ, mang một tầm cỡ khác hoàn toàn so với thời gian còn hoạt động ở xứ Thanh Hoá, đủ khả năng huy động được sức mạnh toàn dân tộc ở mức độ cao nhất. Tuy nhiên, để đi đến chiến thắng cuối cùng vẫn còn một chặng đường đầy cam go, thử thách. Đế chế Minh thời vua Minh Tuyên Tông đang bước vào giai đoạn cực thịnh, không dễ dàng chấp nhận thất bại. Việc tung quân tiếp viện và thay tướng tại Đại Việt chứng tỏ quyết tâm đàn áp của vua tôi nước Minh. Tình hình chiến sự vẫn còn diễn biến rất phức tạp.

Mặc dù Bình Định vương Lê Lợi đã bố trí bao vây phần lớn lực lượng quân chủ lực nước Minh trước khi Vương Thông tiến sang dưới tại thành Nghệ An, nhưng với tinh thần liều chết phá vây, bọn Lý An, Phương Chính đã thoát được vòng vây để tháo chạy ra biển. Nghĩa quân Lam Sơn lúc này đã có quyền kiểm soát các vùng ven biển, cố gắng ngăn chặn không cho Lý An, Phương Chính lên bờ. Thế nhưng quân Lam Sơn không đủ quân số để có thể đóng chặn mọi ngả sông, lại càng không đủ thuyền bè để cơ động đuổi đánh hạm đội giặc. Lý An và Phương Chính cho thuyền chở quân đáng một vòng lớn trên biển để tránh quân Lam Sơn đóng dày ở vùng Trường Yên, Thiên Trường rồi rẽ vào vùng hạ lưu sông Hồng, lựa những chỗ mỏng yếu của quân ta, vừa đánh mở đường vừa tiến gấp ngày đêm, ruốt cuộc cũng về được Đông Quan hội quân với Trần Trí. Đương lúc ấy cũng là lúc Vương Thông rầm rộ tiến quân sang.

Mặc dù các cánh quân bắc tiến của nghĩa quân Lam Sơn đều đã chiêu mộ thêm nhiều quân lính, mỗi cánh quân đều có quân số đông đảo gấp mấy lần lúc mới tiến ra nhưng vẫn ít hơn tổng số quân Minh cả cũ lẫn mới cộng lại. Bấy giờ trong các cánh quân Lam Sơn thì cánh quân của các tướng Lý Triện, Đỗ Bí, Trịnh Khả, Phạm Văn Xảo là rơi vào thế nguy cấp hơn cả vì cánh quân này hoạt động ở phía tây thành Đông Quan, có nguy cơ bị cả hai hướng quân Minh từ Vân Nam và từ Đông Quan cùng đánh kẹp lại. Để tránh nguy cơ đó, chư tướng bàn nhau chia quân đón đánh trước. Hai tướng Trịnh Khả, Phạm Văn Xảo dẫn quân đến lộ Tam Giang đón đánh 1 vạn quân Vân Nam dưới trướng của tướng Vương An Lão.
Vẫn theo chiến thuật quen thuộc, Trịnh Khả và Phạm Văn Xảo cho quân phục sẵn ở cầu Xa Lộc (thuộc Tứ Xã, Lâm Thao, Phú Thọ ngày nay), chờ khi quân Minh đang qua cầu thì quân Lam Sơn đổ ra đánh mạnh. Tốp tiên phong quân Minh vừa qua cầu thì bị quân ta dồn lại bao vây, không thể dàn trận. Đám quân Minh theo sau bị dồn ứa lại trên cầu không tiến được, che lấn nhau rơi xuống sông. Kịch chiến một hồi, quân ta cả phá được giặc. Quân Minh bị giết và chết đuối hơn 1.000 quân, số còn lại tan chạy về thành Tam Giang để trú thân.

Trong lúc Trịnh Khả và Phạm Văn Xảo đánh bại quân của Vương An Lão thì hai tướng Lý Triện, Đỗ Bí vẫn còn lưu quân ở mặt tây thành Đông Quan. Trần Trí nhân cơ hội quân ta bị phân tán, sai Đô ty Vi Lượng mở cổng thành dẫn quân ra ra đánh. Lý Triện và Đỗ Bí cũng cho quân mai phục ngay đầu cầu Nhân Mục (thuộc Nhân Chính, Thanh Xuân, Hà Nội ngày nay) đón đánh quân Minh. Vi Lượng cậy quân đông hùng hổ tiến qua cầu.

Nhưng cầu hẹp khiến giặc phải xếp hàng dọc nối đuôi qua. Quân Lam Sơn ở bên đầu cầu bên này đều là những quân tinh nhuệ dày dặn trận mạc, bình tĩnh chờ giặc vừa qua cầu được vài tên thì quây lại đánh. Quân Minh dù có đông cũng không phát huy được ưu thế về quân số, rốt cuộc tan chạy. Vi Lượng không thoát kịp, bị quân ta bắt sống. Các tướng là Đào Sâm, Tiền Phụ, Triệu Trinh cùng khoảng 500 quân Minh bị giết tại trận. Quân ta đại thắng.

Cả hai trận Xa Lộc và Nhân Mục đều áp dụng cách đánh giống nhau là đón chặn giặc nơi đầu cầu. Sở dĩ tướng lĩnh Lam Sơn chuộng cách đánh này là vì quân Lam Sơn thường phải lấy ít địch nhiều, giỏi đánh nhau nơi đường hẹp. Trên đồng bằng rộng lớn, chỉ có ở chỗ cầu vượt sông là có đường hẹp, nơi mà quân ta có thể phát huy tối đa ưu thế về tinh thần chiến đấu và kỹ năng chiến đấu điêu luyện nhờ dày dặn trận mạc, đồng thời khiến cho ưu thế về quân số của đối phương trở nên khó phát huy.

Hai chiến thắng liên tiếp tiêu biểu cho chiến thuật lấy ít địch nhiều đã khiến nhuệ khí quân ta dâng cao. Nhưng chỉ mấy ngày sau, Vương Thông cùng 5 vạn viện binh, 5.000 ngựa chiến đã nhập thành Đông Quan. Quân Minh cả mới lẫn cũ cộng lại đông đến mười mấy vạn quân, trong số đó có nhiều quân chính quy tinh nhuệ của nước Minh. Vừa đến Đông Quan, Vương Thông đã lập tức thực hiện kế hoạch hành quân lớn. Đầu tháng 11.1426, Vương Thông sau khi để lại một số quân trấn thủ tại thành Đông Quan, thân đem 10 vạn quân chia làm 3 đạo rầm rộ mở chiến dịch tổng phản công.

Cánh thứ nhất do Phương Chính, Lý An chỉ huy tiến đóng dài từ cầu Yên Quyết (thuộc Yên Hoà, Cầu Giấy, Hà Nội ngày nay) đến cầu Sa Đôi (thuộc Đại Mỗ, Nam Từ Liêm, Hà Nội ngày nay), dọc theo sông Nhuệ (tức sông Đáy đoạn chảy qua Hà Nội ngày nay).
Cánh thứ hai do Sơn Thọ, Mã Kỳ chỉ huy đóng quân từ đầu cầu Nhân Mục đến cầu Thanh Oai (thuộc Bình Minh, Thanh Oai, Hà Nội ngày nay), dọc sông Đỗ Động.

Cánh thứ ba do Vương Thông trực tiếp thống lĩnh cùng với các tướng Trần Hiệp, Lý Lượngvượt qua cầu Tây Dương (tức Cầu Giấy, Từ Liêm, Hà Nội ngày nay) tiến đóng ở bến Cổ Sở (Yên Sở, Hoài Đức, Hà Nội ngày nay), bắt cầu phao cho quân vượt sông Nhuệ.

Mục tiêu cụ thể đầu tiên của Vương Thông chính là tiêu diệt đạo nghĩa quân Lam Sơn hoạt động ở vùng tây Đông Quan do các tướng Lý Triện, Đỗ Bí chỉ huy, lúc bấy giờ đang đóng quân tại Ninh Kiều (Chương Mỹ, Hà Nội ngày nay). Khí thế ban đầu của quân tướng dưới trướng Vương Thông mới sang rất đáng gờm. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép: “Quân giặc dàn doanh trại liền nhau đến vài mươi dặm, cờ xí rợp đồng, giáo mác rực trời, tự cho là đánh một trận là bắt hết được quân ta”.

Quốc Huy

https://1.bp.blogspot.com/-G7RElACo-nI/XpnmFED7C-I/AAAAAAACOBA/TDj_Rn2npmUbj2O3SNzi6NTjYBjUrgcowCLcBGAsYHQ/s640/121.jpg

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Kỳ 122

TRẬN TỐT ĐỘNG – CHÚC ĐỘNG
XÁC QUÂN MINH TẮC NGHẸN CẢ DÒNG SÔNG


Cuối năm 1426, chiến sự phía tây thành Đông Quan bắt đầu diễn ra những cuộc đụng độ lớn. Vương Thông đã dẫn 10 vạn quân chia làm ba đạo tiến đánh cánh quân của Lý Triện, Đỗ Bí đang đóng doanh tại Ninh Kiều (Chương Mỹ, Hà Nội ngày nay). Sở dĩ Vương Thông không dồn quân vào một mũi tiến công duy nhất mà chia quân ra ba hướng là vì hắn muốn thực hiện bao vây, diệt gọn toàn bộ lực lượng quân Lam Sơn ở tây Đông Quan, từ đó tạo đà tiến công lớn cho quân Minh tiếp tục đánh toả ra. Tướng giặc đánh giá rằng quân của Trịnh Khả, Phạm Văn Xảo còn bận tay ở thành Tam Giang, Lý Triện và Đỗ Bí sẽ khó chống nổi đòn tổng lực của quân Minh.

Vương Thông đã đánh giá không chính xác về khả năng đánh tốc chiến của quân Lam Sơn. Tướng lĩnh của ta không chấp nhận ở yên một để cho địch vây khốn. Ngay lúc mà quân Minh đang triển khai thiết lập vòng vây thì Lý Triện, Đỗ Bí đã tung quân đánh trước. Ngày 5.11.1426, quân ta nhắm đánh vào cánh quân của Sơn Thọ, Mã Kỳ là cánh quân mỏng yếu nhất trong ba cánh bao vây của quân Minh. Lý Triện và Đỗ Bí đặt mai phục ở cánh đồng Cổ Lãm (thuộc Thanh Oai, Hà Nội ngày nay) rồi cho du binh đánh vào trại của Sơn Thọ, Mã Kỳ để nhử địch.

Thấy bóng quân Lam Sơn, Kỳ và Thọ thúc quân sáp lại đánh. Quân ta vờ tháo chạy dụ địch đuổi theo qua cầu Tam La (thuộc Hà Đông, Thanh Oai, Hà Nội ngày nay), là chỗ bùn lầy khó đi. Thình lình phục binh nổi lên cùng voi chiến xông ra đánh tạt ngang vào đội hình quân Minh, thả sức chém giết. Hơn 1.000 quân Minh trong chốc lát đã bỏ thây tại trận. Sơn Thọ và Mã Kỳ hết sức kinh sợ, dẫn quân chạy ngược về thành Đông Quan. Quân ta truy kích trên đoạn đường dài mấy mươi dặm, đến tận cầu Nhân Mục mới ngưng. Giặc phơi thây dọc đường rút chạy, thêm 500 tên bị bắt sống.

Vòng vây mà Vương Thông dự định tạo ra nhanh chóng bị chọc thủng một mảng lớn. Không dừng lại ở đó, Lý Triện và Đỗ Bí thừa thắng đem quân tiến đánh bọc hậu cánh quân của Phương Chính, Lý An hòng tạo ra sự tan rã dây chuyền trong hàng ngũ giặc. Thế nhưng Phương Chính và Lý An khi hay tin Sơn Thọ và Mã Kỳ bại trận đã kịp thu quân về thành. Quân Lam Sơn cũng thu quân vào lúc chậm tối. Lúc này Vương Thông với lực lượng hùng mạnh vẫn đóng tại Cổ Sở. Hay tin hai cánh quân đã bị quân Lam Sơn bức rút, Thông cho người vào thành lệnh cho toàn bộ số quân tướng đã rút về phải quay ngược trở ra, tập trung tại bến Cổ Sở ngay trong đêm 5.11.1426.

Từ kế hoạch bao vây, quân Minh chuyển sang kế hoạch dồn quân thành một khối để đánh vỗ mặt vào căn cứ Ninh Kiều. Hôm sau, ngày 6.11.1426, Lý Triện cùng Đỗ Bí lại đem tượng binh, bộ binh đến đầu cầu Cổ Sở khiêu chiến. Vương Thông đã có phòng bị trước, sai quân đào bẫy gài chông sắt, đan tra làm lá chắn. Khi tượng binh Lam Sơn tiến đánh, quân Minh vờ vứt lá chắn bỏ chạy. Tượng binh quân ta thừa thế xông tới, giẫm phải chông sắt, thế quân khự lại. Quân Minh dùng súng và hoả tiễn bắn ra, quân ta chết nhiều, phải rút lui.

Vương Thông thắng được một trận, bèn thúc toàn quân đánh tràn. Lý Triện, Đỗ Bí liệu thế binh ít không chống nổi, cho đốt bỏ doanh trại ở Ninh Kiều, lui quân về giữ Cao Bộ (xã Trung Hoà, Chương Mỹ, Hà Nội ngày nay), đồng thời cho người cấp báo với cánh quân của Đinh Lễ, Nguyễn Xí, Trương Chiến, Lê Hối đang đóng ở Tham Đàm (Thanh Trì, Hà Nội ngày nay), đề nghị đem quân ứng cứu. Quân của Đinh Lễ, Nguyễn Xí nắm giữ là đạo quân tinh nhuệ nhất trong các đạo quân bắc tiến, trong đó có cả đội Thiết đột đặc biệt tinh nhuệ cũng được Bình Định vương Lê Lợi gởi gắm cho Lễ và Xí, hai chiến tướng rất được Lê Lợi tín nhiệm. Nhận được tin cấp báo, Đinh Lễ, Nguyễn Xí cùng các tướng tức tốc cho quân lên đường tiếp viện, hội quân ở Cao Bộ. Cuộc hành quân diễn ra bí mật trong đêm, giặc chưa dò biết được.

Trong khi đó, Vương Thông dẫn quân đánh vào doanh trại quân ta ở Ninh Kiều thì chỉ thấy một nơi trống vắng, trại thì đều đã cháy ra tro. Quân Minh tạm đóng tại Ninh Kiều, dò tin tức quân ta. Biết được Lý Triện và Đỗ Bí đã đóng giữ Cao Bộ, Vương Thông bàn với các tướng Minh chia quân làm hai ngả đường tiến đánh. Đạo chính binh do Vương Thông chỉ huy đi theo đường cái từ Ninh Kiều qua Tốt Động, Chúc Động (thuộc Chúc Sơn, Chương Mỹ, Hà Nội ngày nay) đánh thẳng vào mặt phía động Cao Bộ. Đạo kỳ binh theo đường nhỏ từ Chúc Động đi vòng lên mặt bắc Cao Bộ, đem theo súng lớn, định đặt súng bắn vào phía sau quân Lam Sơn khi quân ta phải đối trận với cánh quân chính của Vương Thông.

Tướng lĩnh quân Lam Sơn biết rằng trên đường tiến quân giặc Minh tất phải đi qua Tốt Động, Chúc Động nên đem quân tinh nhuệ mai phục sẵn để đợi. Nghĩa quân lại bắt được gián điệp của quân Minh, tra khảo ra được kế hoạch của giặc định đặt súng bắn vào phía sau quân ta, hễ nghe tiếng pháo thì các hướng quân Minh sẽ cùng tiến đánh mạnh. Lý Triện, Đinh Lễ bèn bàn với các tướng tương kế tựu kế, lệnh cho các quân mai phục khi nghe tiếng súng thì vẫn nằm im để chờ giặc tiến vào. Một đêm mưa gió tháng 11.1426, hai đạo quân Minh từ hai ngả tiến đánh Cao Bộ. Đạo kỳ binh giặc tiến qua Chúc Động, chính binh của Vương Thông thì gần đến Tốt Động.

Khoảng canh năm, quân ta chủ động cho phát pháo. Vương Thông tưởng đạo kỳ binh đã tiến vào thuận lợi, thúc quân tiến gấp để phối hợp. Chờ giặc lọt vào trận địa mai phục ở Tốt Động, phục binh Lam Sơn bốn bề nổi lên đánh quyết tử. Trời mưa khiến đường xá lầy lội, người ngựa quân Minh bị mắc lầy, trước sau không ứng cứu được nhau. Quân Lam Sơn thừa thế chém giết thả cửa, tượng voi từ Cao Bộ xông tới băm nát đội hình hành quân của giặc. Ở phía Chúc Động, đạo kỳ binh cũng trúng mai phục và thiệt hại nặng nề. Vương Thông hết đường chống đỡ, cùng quân tướng mạnh ai nấy chạy, giẫm đạp cả lên đồng đội. Đến Ninh Kiều, giặc tranh nhau qua cầu, rơi xuống sông chết đuối nhiều vô kể. Binh bộ thượng thư nước Minh là Trần Hiệp, nội quan Lý Lượng, đô chỉ huy Lý Đằng đều chết trong đám loạn quân. Vương Thông cũng bị thương, may sao thoát được. Các tướng Minh khác là Mã Kỳ, Mã Anh, Sơn Thọ… ai nấy đều cắm đầu chạy thục mạng về thành Đông Quan, đóng cửa thành cố thủ.

Kết thúc trận chiến, số quân Minh bị quân Lam Sơn giết chết và chết vì giẫm đạp lên nhau lên đến hơn 5 vạn tên, chưa kể số giặc bị chết đuối mà theo các sử sách nước ta ghi lại một cách hình tượng hoá là “Giặc chết đuối rất nhiều, nước sông ở Ninh Kiều do vậy mà tắc nghẽn”(theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư). Ngoài ra, chừng 1 vạn quân Minh bị bắt sống. Khí giới, xe cộ, lương thảo, lừa ngựa, vàng bạc, quân nhu mà quân Minh để lại dọc đường nhiều không kể xiết, đều rơi vào tay quân Lam Sơn. Thế lực quân ta sau trận đại thắng đã áp đảo quân Minh. Trên thực tế, Vương Thông cùng đạo viện binh của hắn đã bị đánh tan tác. Trận chiến tại Ninh Kiều (hay còn gọi là trận Tốt Động – Chúc Động) là một trong những trận đại thắng nổi tiếng trong toàn bộ lịch sử Việt Nam, tiêu biểu cho tinh thần “lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều”. Trong Bình Ngô Đại Cáo, Nguyễn Trãi đã mô tả về trận này với âm hưởng hùng tráng:

Ninh Kiều chi huyết thành xuyên, lưu tinh vạn lý
Tốt Động chi thi tích dã, di xú thiên niên.
Trần Hiệp tặc chi phúc tâm, ký kiêu kỳ thủ
Lý Lượng tặc chi gian đố, hựu bạo quyết thi
Vương Thông lý loạn nhi phần giả ích phần
Mã Anh cứu đấu nhi nộ giả ích nộ
Bỉ trí cùng nhi lực tận, thúc thủ đãi vong

Tạm dịch:
Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh hôi vạn dặm
Tốt Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm
Phúc tâm quân giặc: Trần Hiệp đã phải bêu đầu
Mọt gian kẻ thù: Lý Lượng cũng đành bỏ mạng.
Vương Thông gỡ thế nguy, mà đám lửa cháy lại càng cháy
Mã Anh cứu trận đánh mà quân ta hăng lại càng hăng
Bó tay để đợi bại vong, giặc đã trí cùng lực kiệt

Quốc Huy

https://1.bp.blogspot.com/-9w_IRUSlS48/Xq2xtWHAj_I/AAAAAAACOEk/W30dz3R0h3Q604oa2XfAOaK36uixsFFGQCLcBGAsYHQ/s640/122.jpg

15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Kỳ 123

TRONG CƠN CÙNG QUẪN
GIẶC MINH PHÁ HUỶ 2 BẢO VẬT CỦA ĐẠI VIỆT


Chiến thắng Ninh Kiều (trận Tốt Động – Chúc Động) đã đánh tan đạo viện binh của Vương Thông, mở ra một cơ hội lớn cho nghĩa quân Lam Sơn tiếp tục đà tiến công trên toàn bộ lãnh thổ Đại Việt. Đinh Lễ cùng Lý Triện thừa thắng kéo quân đến trước chân thành Đông Quan vây bức, binh uy vang lừng như sấm dậy.

Từ trước trận chiến này, Bình Định vương Lê Lợi vẫn đóng ở Thanh Hoá là quãng giữa các mặt trận để tiện điều quân trên các hướng tiến công và bao vây, đồng thời củng cố những vùng hậu phương. Khi hay tin quân ta đại thắng, Vương bèn đem đại quân chia hai đường thuỷ bộ tiến gấp ra bắc, đóng đại doanh ở Thanh Đàm. Chư tướng đều đến đón mừng.

Khi quân dân ta nức lòng vì trận đại thắng thì Vương Thông đã tranh thủ sai người đem thư cấp báo về triều đình nước Minh, xin thêm quân tiếp viện. Vua tôi nước Minh dù rất bối rối trước tin bại trận, nhưng phần đông vẫn chưa từ bỏ dã tâm xâm lược. Các quan tâu lên vua Minh Tuyên Tông rằng: “Từ khi Hoàng Phúc bị triệu về, trung quan Mã Kỳ sang thay khích thành biến loạn ở Giao Chỉ. Xin lại cho Hoàng Phúc sang nhậm chức cũ, thì loạn ở Giao Chỉ tự nhiên yên được.” (!?) (theo Việt Sử Tiêu Án – Ngô Thì Sĩ)

Sở dĩ có lời tâu này là vì Hoàng Phúc khi làm quan ở nước ta chỉ chuyên tâm lo việc dân sự, không gây nhiều thù oán, tương đối được lòng dân. Các quan lại nước Minh hy vọng rằng Hoàng Phúc quay lại nước ta sẽ giúp hoá giải phần nào lòng căm thù của nhân dân. Thế nhưng thực sự đó chỉ là những ý nghĩ viển vông do thiếu thông tin thực tế. Hoàng Phúc dẫu ôn hoà nhưng kẻ sĩ trong nước ta đều biết hắn là người chuyên lo việc xoá bỏ tín ngưỡng, văn hoá truyền thống của người Việt để thay thế bằng văn hoá phương bắc. Sự ôn hoà của Hoàng Phúc cũng không thể bù được sự tham tàn của quan tướng nước Minh. Chiêu bài vừa đánh vừa xoa của giặc vốn chỉ có tác dụng lúc ban đầu khi mà nhân dân ta chưa nhận rõ bản chất. Minh Tuyên Tông nghe theo lời tâu của các quan viên,  bàn kế hoạch điều động thêm quân tiếp viện mới. Vua Minh định bụng rằng trước tiên cho quân đông mạnh đánh bại quân Lam Sơn, rồi sẽ cho Hoàng Phúc lo việc thu phục lòng dân.

Lại nói tình thế chiến trường lúc bấy giờ, cuối tháng 11.1426 Bình Định vương dời đại doanh đến đóng ở Tây Phù Liệt (thuộc Thanh Trì, Hà Nội ngày nay), đốc suất quân thuỷ bộ vây thành Đông Quan càng chặt. Lúc này Vương Thông vẫn còn một số trại đóng ngoài tường thành làm nhiệm vụ tiền tiêu, với hệ thống hoả pháo đặt trên thành luỹ, nối liền từ nội thành ra căn cứ thuỷ quân ở Đông Bộ Đầu (thuộc phường Nguyễn Trung Trực, Ba Đình, Hà Nội ngày nay) khá mạnh. Hệ thống phòng thủ thuỷ bộ liên hoàn này là niềm hy vọng cho quân Minh cầm cự lâu dài với quân Lam Sơn. Về phía ta, bộ binh, tượng binh đều mạnh nhưng vẫn có điểm yếu là súng ống, thuyền bè ít và kém hơn quân Minh. Là một đội quân đi lên từ gian khổ, nghĩa quân Lam Sơn chưa thể xây dựng một hạm đội hùng mạnh trong thời gian ngắn được.

Để đánh phá thuỷ quân của giặc, đầu não Lam Sơn đã bày ra một kế hoạch phối hợp liên hoàn giữa thuỷ và bộ. Đầu tiên, cánh thuỷ quân với hơn 100 chiến thuyền dưới sự chỉ huy của các tướng Trần Nguyên Hãn, Bùi Bị được lệnh ngược dòng sông Lũng Giang (tức sông Đáy ngày nay) ra cửa Hát Môn (thuộc Phúc Thọ, Hà Nội ngày nay), là chỗ giao nhau giữa sông Lũng Giang và sông Lô (tức sông Hồng ngày nay). Tại đây, Trần Nguyên Hãn và Bùi Bị sẽ thống lĩnh thuỷ quân Lam Sơn xuôi dòng xuống đánh căn cứ Đông Bộ Đầu từ hướng đông bắc.

Cánh quân thứ hai do Đinh Lễ chỉ huy với khoảng 1 vạn bộ binh lặng lẽ tiến đóng ở cầu Tây Dương (Cầu Giấy, Hà Nội ngày nay), chuẩn bị phối hợp tấn công thành Đông Quan từ phía tây. Bình Định vương Lê Lợi thì cầm quân chủ lực và tượng binh tiến đánh cửa nam thành Đại La cũ (cổng thành cũ nằm bên ngoài thành chính Đông Quan). Nửa đêm 23.11.1426, quân Lam Sơn đồng loạt tấn công từ khắp các hướng, phóng hoả đốt các nhà dân bỏ trống quanh các đồn trại quân Minh để bao vây giặc bằng lửa. Phương Chính phụ trách cầm quân Minh ở các đồn ngoài không thể nào chống nổi thế mạnh áp đảo của nghĩa quân, thương vong rất nhiều. Binh tướng Minh hoảng loạn trước sức tấn công của quân ta, tranh nhau chạy vào thành trong, xác chết nằm chồng lên nhau.

Khi quân ở các đồn đã rút hết vào thành, căn cứ Đông Bộ Đầu của thuỷ quân Minh hoàn toàn bị cô lập. Thuỷ quân của Trần Nguyên Hãn và Bùi Bị thuận dòng đánh xuống, phối hợp với bộ binh quân ta đánh kẹp lại, diệt gọn thuỷ quân Minh. Kết thúc trận đánh, quân Lam Sơn thu được hơn 100 chiến thuyền, khí giới, nghi trượng nhiều vô kể. Những nhân dân Đông Quan trước đây bị buộc theo giặc nay được giải phóng hoàn toàn, đều vui vẻ theo về với Bình Định vương Lê Lợi.

Vương Thông bị vây bức trong nội thành vẫn chỉ huy quân tướng cố sức chống giữ mãnh liệt. Nhưng quân Minh đã bị cô lập, lại chịu sự tấn công dồn dập của quân Lam Sơn nên dần hết khí giới, đạn dược. Trong tình thế nguy khốn, Vương Thông đã hạ lệnh cho nấu chảy chuông Quy Điền và vạc Phổ Minh - hai trong bốn thứ bảo vật được tôn vinh là An Nam Tứ Đại Khí để đúc chiến xa và súng đạn. Lại thêm một sự mất mát về văn hoá mà dân tộc ta phải chịu do cuộc chiến tranh đem lại. Quân Minh ở thành Đông Quan ngày đêm tăng cường đào hào đắp luỹ, gia cố tường thành. Vì lương thực trong thành còn dồi dào và tường thành vững chắc, nên giặc còn hy vọng cố thủ đến chờ viện binh sang cứu.

Quốc Huy

https://1.bp.blogspot.com/-_4cmXM5g5tg/Xq8KIMn9H6I/AAAAAAACOEs/BTrC7RWiCVAKJKWWCBO0Zol6JD-Xgh97wCLcBGAsYHQ/s640/123.jpg

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook

Trang trong tổng số 13 trang (126 bài viết)
Trang đầu« Trang trước‹ ... [10] [11] [12] [13]