Trang trong tổng số 31 trang (306 bài viết)
Trang đầu« Trang trước‹ ... [11] [12] [13] [14] [15] [16] [17] ... ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Poet Hansy

Kỳ 128

ĐẠI PHÁ THÀNH XƯƠNG GIANG
ĐEM CON GÁI NGƯỜI MINH CHIA CHO SỸ TỐT


Nói về tình hình thành Xương Giang, trước hết phải kể qua chính sách di dân của nước Minh. Bên cạnh việc bắt người Việt đưa sang nước Minh làm nô lệ, Minh triều còn cho người nước Minh sang ở trong các thành thị trên lãnh thổ Đại Việt. Đây là một trong những chính sách nhằm mục đích đồng hoá người Việt. Người nước Minh sang đất Việt ở trước tiên phải kể đến là vợ con, gia quyến của các binh lính, quan lại người Minh. Kế đến là giới thị dân, thương gia. Hiện chưa có con số thống kê, nhưng ước tính có đến hàng vạn người Minh đã sinh sống trên lãnh thổ nước ta, chủ yếu tại các thành lớn hoặc gần biên giới nước Minh như Đông Quan, Tam Giang, Tây Đô, Khâu Ôn… Thường dân người Minh bị bắt làm tù binh đông đúc đến mức Bình Định vương Lê Lợi phải hạ lệnh các xứ chia nhau chu cấp cho họ. Bốn xứ Thiên Trường, Kiến Xương, Lý Nhân, Tân Hưng phải chia nhau nuôi ăn 6.000 thường dân người Minh bị bắt. Điều này thể hiện thiện chí rất lớn của nghĩa quân Lam Sơn, ngay khi mà chiến tranh còn đang gay cấn.

Riêng tại thành Xương Giang, quân Minh chính quy vốn chỉ có vài ngàn, do các tướng Lý Nhậm, Kim Dận, Cố Phúc, Phùng Trí, Lưu Thuận, Lưu Tử Phụ chỉ huy. Các tướng Minh đã dùng lời và đe doạ vừa cổ vũ các dân chúng trong thành (chủ yếu là người Minh), cả nam lẫn nữ, già trẻ đều cùng tham gia thủ thành. Cùng với ưu thế vượt trội về hoả lực, thêm thành cao, hào sâu, thành Xương Giang trở thành một con nhím vô cùng khó công phá. Xưa kia Lý Thường Kiệt đánh thành Ung Châu, quân tướng đều tinh nhuệ nhưng cũng phải đến hơn một tháng rưỡi mới hạ nổi, thiệt hại lên đến hơn một vạn quân. Ung Châu và Xương Giang đều có điểm chung là quân và dân đều tự đặt mình vào thế cùng mà đồng lòng tử thủ, và đều là thành trì kiên cố, vũ khí dồi dào. Riêng thành Xương Giang còn có ưu thế của thời đại, khi mà hoả lực trên thành hoàn toàn vượt trội nghĩa quân Lam Sơn. Ngoài ra còn có một điểm bất lợi là quân lính mà Bình Định vương Lê Lợi dùng để đánh thành vốn không phải quân lính tinh nhuệ mà là tân binh mới tuyển ở các lộ Khoái Châu, Lạng Giang khi quân Lam Sơn tiến ra bắc.

Vì có nhiều điều bất lợi nên mặc dù các tướng Lê Sát, Lê Thụ, Nguyễn Đình Lý (tức Lê Lý), Lê Lĩnh, Lý Triện, Lê Hốt đều là tướng tài ba với hàng vạn quân trong tay nhưng đánh với giặc hàng mấy tháng trời vẫn không hạ nổi. Quân Lam Sơn cố gắng tiếp cận tường thành trước hết phải vượt qua hoả lực của các loại súng đại bác, hoả tiễn trên thành bắn xuống. Thành cao, quân ta trèo lên thì địch trên thành giương cờ hò hét, chống cự rất mãnh liệt. Đánh nhau ngày đêm, quân ta thiệt hại nhiều vẫn không hạ được thành.

Quân Lam Sơn phải chuyển sang kế hoạch lâu dài hơn. Lê Lợi điều động nhân dân các xứ tích cực rèn vũ khí, đúc súng lớn, tải lương thực tiếp tế cho đội quân đánh thành Xương Giang. Lê Sát cùng các tướng lại ở ngoài thành dựng thêm nhiều chiến cụ công thành, lại đắp núi đất, đặt súng bắn vào thành. Quân dân nước Minh trong thành thiệt hại nặng, nhưng vẫn quyết tâm chiến đấu. Nhân một đêm tối trời, Lý Nhậm dẫn cảm tử quân ra ngoài thành đánh phá, đốt các chiến cụ mà quân ta dày công chế tạo. Quân Lam Sơn bị bất ngờ nên để mất mát các chiến cụ quan trọng và để xổng mất quân địch. Mất đi các chiến cụ, việc công phá thành lại thêm cam go. Quân Lam Sơn dùng kế đào địa đạo vào trong thành. Bọn Lý Nhậm, Cố Phúc phát hiện được, cho đào hào cắt ngang địa đạo, ném đá xuống như mưa, quân ta lại bị thiệt hại. Suốt hơn sáu tháng trời, quân Lam Sơn vừa chế tạo lại chiến cụ công thành vừa đánh giằng co với địch.

Đến tháng 9.1427, mặc dù cục diện thành Xương Giang vẫn không ngã ngũ, tình hình trên cả nước lại có những biến chuyển tích cực. Vòng vây quanh thành Đông Quan đã được củng cố chặt chẽ như kế hoạch của Bình Định vương Lê Lợi. Các hậu phương được củng cố, hệ thống cai trị dần hoàn thiện, lực lượng quân Lam Sơn được bổ sung, quân lính được huấn luyện và trang bị tốt hơn. Thêm nhiều thành trì khác của quân Minh đã bị đánh hạ hoặc xếp giáo quy hàng. Thành Xương Giang càng trở nên trơ trọi. Tình hình mới cho xếp Lê Lợi có thêm nhiều lực lượng cơ động mạnh để tung vào các điểm nóng trên chiến trường. Thái uý Trần Nguyên Hãn được lên đem quân tăng cường cho mặt trận thành Xương Giang, hội binh với Lê Sát và các tướng lên đến 8 vạn quân, nhận nhiệm vụ bằng mọi giá phải sớm hạ được thành trước khi bọn Liễu Thăng, Mộc Thạnh tiến sang.

Đáp lại lòng tin tưởng của Bình Định vương, Trần Nguyên Hãn cùng các tướng đã dùng kế hợp nhiều phương pháp công phá thành. Các núi đất được tăng cường đắp lên quanh bốn mặt thành, từ đó súng đạn, cung nỏ của quân Lam Sơn bắn vào thành tới tấp. Trần Nguyên Hãn lại cho quân một lần nữa đào địa đạo xuyên vào trong thành, đồng thời tung quân với sự yểm trợ của tượng binh tràn lên tấn công khắp bốn mặt thành. Quân Minh nhiều tháng đánh nhau, lực lượng cũng đã hao hụt nhiều. Đến khi quân ta tổng tiến công như thế, chúng đạ bị phân tán làm nhiều hướng, không còn phòng bị được kín kẽ. Quân Lam Sơn từ địa đạo chui lên, đánh toả ra, cùng với quân từ bên ngoài, toàn thành bị tắm máu. Bấy giờ là ngày 28.09.1427, thành Xương Giang bị hạ sau 6 tháng bị vây đánh. Bọn tướng Minh từ Lý Nhậm trở xuống đều tự sát. Quân Lam Sơn phóng hoả đốt thành, bắt sống hết những người còn sống sót. Trần Nguyên Hãn đem hết những chiến lợi phẩm, ngọc lụa, con gái người Minh chia cho sĩ tốt làm quà khích lệ (theo Đại Việt sử ký toàn thư).

Chiến thắng Xương Giang có ý nghĩa lớn về chiến lược. Một điểm nóng đóng vai trò làm bàn đạp cho quân Minh từ trong nước đánh xuống đã bị tiêu diệt sau nhiều tháng khó nhọc. Xương Giang giờ đây lại trở thành một cứ điểm phòng ngự lợi hại của quân Lam Sơn, chắn ngang con đường tiến quân mà giặc dự kiến. Thắng trận không lâu thì thám binh cũng báo về, viện binh nước Minh dưới trướng Liễu Thăng, Mộc Thạnh sau nhiều tháng chuẩn bị, gom quân, hành quân đã tiến đến gần biên giới, chuẩn bị tập kết vượt biên tiến vào lãnh thổ nước ta.

Bấy giờ sau khi thành Xương Giang bị hạ thì trên nước ta chỉ còn bốn thành mà quân Minh còn chiếm giữ là Đông Quan, Chí Linh, Cổ Lộng, Tây Đô. Cả bốn thành đều bị vây chặt không thể cự quậy. Tại mặt trận Đông Quan, quân Lam Sơn lại vừa phá được thành phụ của giặc ở đê Vạn Xuân, từ chỗ ấy đắp lên một chiến luỹ dọc đê, chỉ trong một đêm hoàn toàn cắt đứt đường ra thành chăn ngựa, cắt cỏ của quân Minh.Các tướng thấy quân trong thành đã khốn cùng mà viện binh giặc sắp sang, phần nhiều khuyên Bình Định vương đánh gấp để hạ thành Đông Quan, tiệt nguồn nội ứng của giặc. Lê Lợi đáp: “Đánh thành là hạ sách. Ta đánh thành bền vững hàng năm hàng tháng không hạ được, khi ấy quân ta sức mỏi chí nhụt, nếu viện binh của giặc lại đến thì trước mặt, sau lưng đều bị tấn công, đó là con đường nguy hiểm. Chi bằng nuôi sức quân, mài giũa tinh thần sắc bén, để đợi viện binh của giặc. Viện binh giặc bị phá thì thành giặc nhất định phải hàng. Như thế là nhất cử lưỡng tiện, là mưu chước vẹn toàn” ( Đại Việt Sử ký toàn thư).

Chư tướng nghe lời bàn, đều phục là cao luận. Rõ ràng các trận đánh thành Khâu Ôn, Xương Giang là minh chứng rõ nét cho sự khó khăn của việc công phá những thành trì quân Minh. Trong khi quân ta hoàn toàn có khả năng thực hiện chiến lược “Vây thành diệt viện”. Theo chiến lược chung, Lê Lợi tiếp tục thực hiện những bước chuẩn bị đón đánh viện binh giặc. Đồng thời, ngài vẫn không quên tiếp tục việc chiêu hiền đãi sĩ. Chiếu cầu hiền đã truyền xuống quân dân, lời lẽ rất khiêm nhường:

“Các thành đã phá được rồi, chỉ còn thành Đông Quan chưa hạ được. Ta vì thế mà nằm không yên chiếu, ăn không ngon miệng, sớm khuya suy nghĩ, khô héo ruột gan. Thế mà bên cạnh ta, vẫn chưa có được người giúp đỡ. Ta tuy là chủ tướng, nhưng xét lại bản thân mình một là già ốm, bất tài, hai là học thức nông cạn, ba là trách nhiệm nặng nề khó bề kham nổi, mà các đại thần như tả, hữu tướng quốc, thái phó, thái bảo vẫn chưa đặt, thái uý, đô nguyên soái vẫn còn khuyết, hành khiển và các quan, mười phần mới được một, hai phần. Cho nên, ta nhún mình thành thực khuyên bảo các hào kiệt cùng nhau dốc sức, cứu giúp muôn dân, chớ có mai danh ẩn tích, để thiên hạ phải lầm than mãi mãi. Nếu có ai khí tiết thanh cao như Tứ Hạo, lánh đời ẩn tích như Tử Phòng cũng hãy ra cứu nạn cho dân đã, đợi khi thành công, muốn thoả chí xưa thì lại trở về rừng núi, không hề cấm giữ”. (theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư)

Quốc Huy

https://1.bp.blogspot.com/-ajVnkMGPl1Y/X8osh9xSoCI/AAAAAAACPl8/H6pJwpa00XQyAAduVRgAwZVRM54UwihtQCLcBGAsYHQ/w640-h352/112.jpg

15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Kỳ 129

LÊ LỢI GIĂNG THIÊN LA ĐỊA VÕNG
CHỜ ĐÓN ĐẦU LIỄU THĂNG


Theo chiến lược Vây thành diệt viện, sau các chiến thắng Khâu Ôn, Xương Giang, nghĩa quân Lam Sơn đã hoàn thành kế hoạch chặt đứt những “cầu nối” của quân Minh trên tuyến đường từ Quảng Tây đến Đông Quan. Những lực lượng cơ động đông mạnh của quân ta được rảnh tay, Bình Định vương bèn cho đều quân lên tăng cường cho hai tuyến biên giới tây bắc và đông bắc để chuẩn bị quyết chiến với quân cứu viện của Mộc Thạnh và Liễu Thăng. Khác với những cuộc chiến trước đó của dân tộc Việt khi đối đầu với các đạo quân phương bắc, lần này Lê Lợi và tướng lĩnh Lam Sơn lựa chọn chiến trường chính là ngay ở các cửa ải địa đầu, không cho chúng tiến xuống vùng đồng bằng. Sự lựa chọn này đến như một lẽ hiển nhiên, đến từ hoàn cảnh lúc bấy giờ.

Lý do tiên quyết là ở trong nội địa, quân Minh còn giữa được bốn thành Đông Quan, Tây Đô, Cổ Lộng, Chí Linh làm chỗ trú chân. Nếu để quân tiếp viện của giặc đánh được vào sâu, chúng sẽ giải vây được cho đồng bọn, hình thành thế trận trong đánh ra, ngoài đánh vào. Khi ấy diễn biến trận chiến sẽ trở nên rất khó lường. Lý do thứ hai cũng không kém phần quan trọng là bởi quân Lam Sơn không giống những đội quân mạnh truyền thống trước đây của người Việt. Nếu như các triều trước từ Ngô – Đinh – Tiền Lê – Lý – Trần – Hồ đều có thuỷ quân hùng mạnh, có thể tận dụng hệ thống sông ngòi chằng chịt làm lợi thế chiến đấu thì ngược lại, quân Lam Sơn khởi phát từ rừng núi Thanh Hoá, giỏi chiến đấu trên bộ, nơi địa hình rừng núi phức tạp.

Đầu tháng 10/1427, hai đạo quân Minh tiếp viện đã tiến sát biên giới. Ở hướng Vân Nam, Kiềm Quốc công nước Minh là Mộc Thạnh cùng các tướng Từ Hanh, Đàm Trung với 5 vạn quân, 1 vạn ngựa đã chỉnh tề đội ngũ, sửa soạn tiến đánh ải Lê Hoa (thuộc Lào Cai, giáp Vân Nam). Phía đông bắc thì tướng giặc là Chinh lỗ tướng quân Thái tử thái phó An Viễn hầu Liễu Thăng, Tham tướng Bảo Định bá Lương Minh, Đô đốc Thôi Tụ, Binh bộ thượng thư Lý Khánh, Công bộ thượng thư Hoàng Phúc, thổ quan Hữu bố chính sứ Nguyễn Đức Huân dẫn 10 vạn quân, 2 vạn ngựa chiến nhằm đánh ải Pha Luỹ (nay thuộc Bằng Tường, Quảng Tây, Trung Quốc).

Trước thềm trận chiến quyết định, Lê Lợi đã có lời nhận định: “Giặc vốn khinh ta, cho là ngưới nước ta nhút nhát, sợ oai giặc đã lâu, nay nghe tin đại quân sang, hẳn là ta rất hoảng sợ. Huống chi lấy mạnh nạt yếu, lấy nhiều lần ít đó là lẽ thường. Giặc không thể tính được hình thế được thua của người của mình, không thể hiểu được cơ vi qua lại của thời của vận. Vả lại, quân đi cứu nguy cấp phải lấy mau chóng làm quý, giặc nhất định phải hành quân gấp vội. Binh pháp có nói: Hành quân 500 dặm mà chỉ vội hám lợi thì sẽ què thượng tướng. Nay Liễu Thăng đến, đường sá xa xôi, quân lính tất mỏi mệt. Ta đem quân nhàn khoẻ, đợi đánh quân mỏi mệt, nhất định sẽ thắng” (theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư)
Để nuôi thêm sự kiêu ngạo của giặc, Nguyễn Trãi nhân danh của vua bù nhìn Trần Cảo soạn thư cầu hoà gởi đến Liễu Thăng. Thư có đoạn viết:

“Nay tôi tủi phận là con cháu còn sót lại của vua Trần, ẩn náu ở đất Lão Qua đã hơn 10 năm nay. Người trong nước tôi khổ về chính sự khắc nghiệt của các quan lại triều đình [chỉ quan tướng nước Minh đô hộ]; nhớ lại ơn đức cũ của các vua Trần trước kia, mới cùng bàn nhau đánh đuổi bọn quan cai trị, ép tôi về nước. Khoảng tháng 11 năm ngoái, các quan quân đóng giữ ở các thành các xứ đều đã lục tục mở cửa, bỏ binh giáp, hoà giải cùng với chúng tôi. Tất cả các quan lại và quân dân trai gái gồm có hơn một vạn người, chúng tôi đều thu nuôi cả, không phạm đến mảy may.

Nay tôi lại nghe thấy, triều đình lại sai tướng quân đem đại quân đến bờ cõi nước tôi; không biết rõ đạo quân ấy là quân cứu viện chăng? Hay là quân đến đóng giữ chăng? Hay lại là quân đến làm việc lập lại họ Trần chăng? Các ông ví xét rõ sự tình thời thế, đóng đại quân lại rồi đem việc hào giải của tất cả các quan lại quân dân nói trên kia, làm tờ số tâu rõ công việc về triều đình, tôi cũng liền lập tức cho đúc người vàng, mang tờ biểu, tiến cống thổ sản địa phương.

Còn các bầy tôi trong triều may ra biết đem đường lối thẳng thắn can ngăn Vua [chỉ Tuyên Tông nước Minh] lại làm việc dấy kẻ bị diệt, nối lại dòng kẻ mất gốc mà tránh được việc phi lí dùng binh đến cùng, khoe khoang võ lực như đời Hán, Đường. Sai một vài đặc sứ dụ dỗ bằng lới nói êm ấm để tha tội cho nước An Nam. Làm như thế thì các ông có thể ngồi yên đó mà hưởng thành công. Mà nước lớn sẽ làm trọn được đạo “lạc thiên”; nước nhỏ cũng tỏ được hết lòng thành thực “uý thiên”. Như thế há chẳng tốt đẹp lắm ru!”(theo Quân Trung Từ Mệnh Tập)

Cùng với việc gởi thư vờ xin Liễu Thăng lui binh, quân ta cũng rút bỏ thành Khâu Ôn vừa chiếm được trước đó không lâu, vì thành này nằm ở vị trí quá xa các ải khác trong nội địa, bất lợi để thiết lập phòng thủ. Liễu Thăng dẫn quân tiến vào thành Khâu Ôn, càng đinh ninh là quân Lam Sơn nhát sợ, nóng lòng muốn lập công to.

Mặc dù xác định sẽ đánh giặc nơi địa đầu, nhưng Lê Lợi vẫn theo gương các đời trước cho nhân dân các xứ phía bắc làm kế thanh dã (tức Vườn không nhà trống). Lúa ngoài đồng được gặt sớm, lương thực đều được mang đi cất giấu, không để lại thứ gì mà quân giặc có thể tận dụng làm quân lương tại chỗ được. Trừ những người làm nhiệm vụ chiến đấu, thì nhân dân đều nhận lệnh sơ tán khỏi những nơi dự kiến sẽ trở thành chiến địa.Trong khi thường dân được lệnh lùi về các tuyến sau, thì những chiến binh dũng mãnh nhất tiến lên tuyến đầu. Các tướng Lê Sát, Trần Lựu, Lưu Nhân Chú, Đinh Liệt, Lê Lĩnh, Lê Thụ nhận trọng trách đem 1 vạn quân tinh nhuệ lên giữ ải Chi Lăng, là nơi dự kiến diễn ra trận đánh quan trọng đầu tiên trong chiến dịch đánh diệt 10 vạn quân của Liễu Thăng. Ở mặt trận tây bắc, các tướng Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả, Lê Trung, Lê Khuyển cũng dẫn quân mạnh lên giữa ải Lê Hoa để cầm cự với 5 vạn quân của Mộc Thạnh.

Lê Lợi không chủ quan ở mặt trận nào khi mà cả hai hướng tây bắc, đông bắc đều có quân mạnh trấn giữ. Nhưng riêng đối với cánh quân của Mộc Thạnh, Bình Định vương nhận định rằng: “Mộc Thạnh tuổi đã già, từng trải việc đời đã nhiều, lại biết tiếng vua từ trước, nhất định còn đợi xem Liễu Thăng thành bại ra sao chứ không nhẹ dạ tiến quân”(theo ĐVSKTT). Do đó, ngài ngầm đem mật thư cho Trịnh Khả, Lê Khuyển lệnh không nên đem quân ứng chiến sớm, chỉ cần đặt mai phục để đợi.

Trọng tâm của chiến dịch vẫn được xác định nằm ở mặt trận phía đông bắc với mục tiêu là tiêu diệt cánh quân của Liễu Thăng. Phía sau đội quân của Lê Sát là hàng loạt các đạo quân hùng mạnh khác chực chờ tiếp ứng cho tuyến đầu. Cách ải Chi Lăng không xa, tướng Lê Lý đặt sẵn phục binh đón đánh quân Minh. Sau quân của Lê Lý là đại quân của Trần Nguyên Hãn đóng ở thành Xương Giang dài đến thành Chí Linh bao gồm cả quân thuỷ lẫn quân bộ, vừa là điểm tựa cho các quân ngoài biên ải, vừa giữ nhiệm vụ cô lập hoàn toàn quân Minh trong thành Chí Linh, không cho chúng có cơ hội xuất thành. Bản thân Bình Định vương Lê Lợi thì bấy giờ đóng ở dinh Bồ Đề (thuộc Gia Lâm, Hà Nội ngày nay), giữ các vệ quân Thiết đột tinh anh cùng các mãnh tướng Nguyễn Xí, Phạm Vấn, Lê Khôi làm lực lượng dự bị, tuỳ cơ lợi hại mà tung quân vào chiến trận để tiếp ứng cho các hướng quân hay góp sức đánh dứt điểm quân địch.

Một thế trận liên hoàn, nhiều tầng, nhiều lớp đã được bày ra để chờ đánh viện binh của giặc. Toàn bộ quân dân Việt đã tập trung ở mức cao nhất tinh thần và lực lượng, sẵn sàng bước vào trận chiến sinh tử quyết định vận mệnh toàn dân tộc.

Quốc Huy

https://1.bp.blogspot.com/-F1ThnyAMRYA/X-I4J7mNylI/AAAAAAACP9w/g1n3_JGc3XgRgzf5ImCtmQCNna4uSC0GgCLcBGAsYHQ/w446-h640/129.png

15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Kỳ 130

LIỄU THĂNG BỊ CHÉM TẠI CHI LĂNG
PHÓ TƯỚNG LÊN THAY CŨNG BỎ MẠNG


Đầu tháng 10.1427, 10 vạn quân Minh dưới trướng Liễu Thăng ồ ạt vượt biên tiến vào địa giới nước ta. Ngày 8.10.1427, quân Minh đánh ải Pha Luỹ. Trần Lựu là vị tướng đầu tiên của nghĩa quân Lam Sơn giao chiến với Liễu Thăng, mở màn chiến dịch Diệt Viện. Quân ta theo kế hoạch đã định trước, chỉ đánh cầm chừng rồi lần lượt rút bỏ ải Pha Luỹ, thành Khâu Ôn để nuôi chí khinh nhờn của địch. Những trại nhỏ mà quân Lam Sơn dựng lên trước đó ở biên ải, cũng đều đánh chiếu lệ rồi rút đi cả. Liễu Thăng thắng dễ mấy trận, nhanh chóng có được thành Khâu Ôn làm chỗ đứng chân, quả nhiên sinh lòng coi thường quân Lam Sơn.
Vừa khi quân Minh tiến vào thành Khâu Ôn, thì thư “cầu hoà” của Nguyễn Trãi cũng được đưa đến. Liễu Thăng ngông cuồng không thèm đọc thư mà cho người chuyển thẳng lên vua Minh, rồi tiếp tục điều quân tiến lên. Đúng như tiên liệu của tướng lĩnh Lam Sơn rằng “Quân đi hàng năm trăm dặm mà chỉ vội nhằm lấy lợi thì viên thượng tướng tất phải kiệt quệ” (theo Cương Mục), quân Minh đang cần tiến gấp để kịp cứu viện cho các thành của chúng trong nội địa, nên các hành động của giặc rất gấp gáp, không có sự trù tính thận trọng. Khi quân Minh vào đất của ta, các tướng Lương Minh, Lý Khánh đều sinh bệnh. Điều đó cho thấy thật sự quân Minh đã phải trải qua những cuộc hành quân vất vả.

Trận Chi Lăng – Liễu Thăng cụt đầu

Trước sự kiêu căng lộ ra cả nét mặt, lời nói của Liễu Thăng thì chính trong hàng ngũ tướng lĩnh quân Minh cũng sinh lo ngại. Bọn Lễ bộ lang trung Sử An, Chủ sự Trần Dung bàn với Thượng thư Lý Khánh:

“Xem lời lẽ, sắc mặt của chủ tướng [chỉ Liễu Thăng], có vẻ kiêu. Kiêu là điều tối kỵ của binh gia. Vả lại bọn giặc nguỵ trá, hoặc có thể làm ra vẻ yếu để dụ chúng ta. Huống tỷ thư dụ rõ ràng là phải phòng ngừa giặc đặt phục binh. Đây là phút an nguy, Ngài nên nói gấp.”

Bấy giờ quân Minh đã tiến đến Ải Lưu (thuộc huyện Chi Lăng, Lạng Sơn ngày nay, nằm ở phía bắc ải Chi Lăng), quân Minh lại gặp đội quân của Trần Lựu đứng chặn đường như trêu ngươi. Lý Khánh dù đang bệnh nằm ở hậu quân, cũng phải cố gượng dậy đến chỗ Liễu Thăng mà can gián khẩn thiết. Thăng ậm ừ, nhưng vẫn kiêu căng bởi vì sự kích động của quân ta. Tại Ải Lưu, Trần Lựu cầm quân khinh kỵ giao tranh một lúc rồi lại rút lui. Liễu Thăng tức mình vì Trần Lựu cứ tháo lui nhưng rồi lại lảng vảng trước mặt, hắn bèn đích thân dẫn vài trăm kỵ binh thân tín quyết truy đuổi đến cùng. 10 vạn quân Minh cùng đội kỵ binh của Trần Lựu rượt đuổi một quãng đường từ Ải Lưu đến tận ải Chi Lăng.

Ải Chi Lăng là một thung lũng hẹp nằm giữa những dãy núi cao vút… Từ xưa ải Chi Lăng hầu như là con đường mà bất cứ đạo quân phương bắc nào cũng phải đi qua khi tiến đánh phương nam. Phía bắc ải là Quỷ Môn Quan, nơi mà cả người phương bắc lẫn người phương nam đều ái ngại khi đi qua. Có câu thơ của binh lính phương bắc rằng :

Quỷ Môn Quan, Quỷ Môn Quan
Thập nhân khứ, nhất nhân hoàn

Phía nam ải Chi Lăng là Ngõ Thề, nơi mà những đạo quân người Việt ở các triều đại cất lên những lời thề quyết tử rồi bước vào trận chiến với giặc xâm lăng. Phía tây ải là các núi đá vôi nằm cạnh dòng sông Thương. Phía đông là hai dãi núi Thái Hoà, Bảo Đài. Bên trong ải lại có năm ngọn núi Nà Sản, Mã Yên, Phượng Hoàng, Lỳ Lân, Hàm Quỷ chia cắt ải thành những con đường, thung lũng nhỏ. Nhiều nơi trong ải phải bắc cầu treo để đi qua những đầm lầy, thung lũng, khe suối.

Lại nói về việc Trần Lựu thực hiện nhiệm vụ đánh nhử địch đã hoàn thành rất xuất sắc. Sau một hồi truy đuổi gấp, đội hình quân Minh bị kéo giãn ra, đứt đoạn. Liễu Thăng cùng đám kỵ binh mải miết đuổi theo Trần Lựu tiến sâu vào ải Chi Lăng, bỏ xa phần lớn quân Minh ở phía sau. Đến núi Mã Yên, Liễu Thăng và hơn trăm quân kỵ vừa qua cầu treo thì lập tức quân Lam Sơn cho phá cầu. Lúc này thì tình thế coi như đã an bài đối với Liễu Thăng, khoảng 10 vạn quân Minh phía bên đây đầu cầu chỉ còn cách đứng nhìn chủ tướng của mình cùng hơn 100 kỵ binh bị hãm trong trận mà vô phương ứng cứu. Trong phút chốc, phục binh quân Lam Sơn bốn phía nổi lên vây chặt lấy Liễu Thăng, cùng với quân của Trần Lựu quay ngựa đánh dồn lại, nhanh chóng diệt gọn tiên phong của địch. Liễu Thăng bị mắc vào vũng lầy bên sườn núi, quân ta xáp lại dùng giáo đâm chết, rồi chặt lấy đầu hắn làm chiến lợi phẩm trước sự bàng hoàng, ngẩn ngơ và bất lực của quân tướng nước Minh hầu như vẫn còn nguyên vẹn bộ khung, quân số nhưng không thể làm gì ngoài việc đứng nhìn chủ soái của mình chết thảm. Bấy giờ là vào ngày 10.10.1427.

Lợi dụng lúc 10 vạn quân Minh chưa kịp định thần vì cái chết của chủ tướng, các tướng Lam Sơn là Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Đinh Liệt, Lê Khắc Thụ… cùng đem 1 vạn quân gồm cả tượng binh, kỵ binh, bộ binh từ các ngã đường núi xông ra đánh thốc vào đội hình giặc. Quân Minh tiến sang lần này cũng không phải là một đạo quân dễ dàng buông xuôi. Mặc dù bị mất chủ tướng sớm và bị phục binh bốn bề vây đánh, bọn tướng lĩnh còn lại vẫn bình tĩnh điều quân, cố gắng ổn định lại hàng ngũ. Phó Tổng binh giặc là Lương Minh lên thay Liễu Thăng làm chủ tướng, chỉ huy quân tướng đi vòng qua núi Mã Yên, đánh mở đường tiếp tục tiến lên. Lê Sát cùng các tướng không đủ binh lực đánh chẹn đường, sau khi gây thiệt hại nặng ban đầu cho quân Minh thì vòng ra tuyến sau, bám sát theo đội hình hành quân của địch chờ thời cơ đánh phối hợp với các đạo quân khác. Quân Minh vượt qua ải Chi Lăng với thương vong hơn 1 vạn tên. Chiến cụ của chúng gồm súng lớn, đồ dùng công thành, tên đạn đều bị quân ta đốt sạch.

Lương Minh từ chối nghị hoà, vong mạng nơi Cần Trạm

Bảo Định bá Lương Minh sau những giờ phút kinh hoàng ở ải Chi Lăng vẫn còn trong tay chừng 9 vạn tinh binh, hắn vẫn nuôi hy vọng tiến quân xuống đồng bằng. Lúc này, với mong muốn sớm lập lại hoà bình và tránh khỏi sự thù địch về sau của Minh triều, Lê Lợi sai Nguyễn Trãi gởi thư chiêu dụ Lương Minh ngay khi quân Minh vượt ải Chi Lăng. Thư viết:
“Tôi thường nghe, binh cốt để bảo vệ cho dân, không phải là để làm hại dân, dẹp yên để không phải giết, không phải là để giết nhiều người. Cho nên có câu rằng: “Binh là bắt đắc dĩ mới phải dùng”. Điều mà có thể thôi được hay không thể thôi được, không phải là bản tâm của thánh nhân. Nay các ông đem quân đi sâu vào cõi đất người chính là bị hãm vào thế trong miệng cọp, muốn tiến không được, muốn lui không hay. Còn ta thì nhân thế chẻ tre, sau khi chẻ được mấy đốt, cứ lọng lưỡi vào mà chẻ đi, thực không khó gì. Nhưng ta vẫn nghĩ đến nghĩa nước nhỏ thờ nước lớn, có mặt trời soi trên, không dám thiếu lòng thành kính. Cho nên nhiều lần gửi thư mà các ông vẫn không trả lời. Thế có phải là sự không may của một nước ta chăng? Thế là sự không may lớn cho cả nhân dân thiên hạ. Sao có thể thôi được mà không thôi hẳn.

Trước đây, các thành Tân Bình, Thuận Hoá, Diễn Châu, Nghệ An và Tiền, Hậu vệ, Thị Kiều, Xương Giang, Tam Giang đều đã mở cửa thành, cởi cùng ta hoà giải. Phàm hết thảy quan quân, đàn ông, đàn bà, lớn bé cộng mấy vạn người, ta đều thu nuôi tất cả, không xâm phạm một chút nào. Xin các ông lui ngay quân ra ngoài bờ cõi, ta tự dẹp mở lối về, cho các ông được thung dung đem quân về, ta sẽ đem các quan lại đàn ông, đàn bà nói trên kia trao tất cả ở ngoài bờ cõi. Như thế thì các ông có thể ngồi hưởng thành công mà Nam, Bắc từ nay vô sự, há chẳng hay ư? Nếu có thể thôi được mà không thôi, là do các ông không biết dập tắt lửa đi để cho nó tự cháy lên, không phải là tội của ta vậy. Thư nói không hết lời.”

Khác với nhiều thư từ trước kia, lần này có vẻ như Nguyễn Trãi đã nói với Lương Minh những lời rất thẳng thắn và thực lòng chứ không còn dùng những quyền mưu ẩn đằng sau câu chữ. Việc nghị hoà trên thế thắng đối với nước ta dù rằng không đem lại một chiến thắng trọn vẹn về mặt quân sự, nhưng sẽ là một chiến thắng về ngoại giao rất quan trọng. Việc giành được độc lập mà vẫn giữ được mối quan hệ tốt với nước Minh, một đế chế hùng mạnh nhất phương đông đương thời sẽ mở đường cho một nước Đại Việt mới gây dựng lại phát triển mạnh mẽ, không bị đe doạ bởi chiến tranh và chạy đua vũ trang. Đối với quân Minh, chúng dù vẫn còn lực, nhưng đã mất thế. Việc nghị hoà với quân Lam Sơn cũng là lối thoát khả dĩ nhất cho chúng. Thế nhưng Lương Minh vẫn quen thói cùng binh độc vũ, ngoan cố tiến quân.

Ngày 15.10.1427, quân Minh tiến đến Cầm Trạm (xã Hương Sơn, huyện Lạng Giang, Bắc Giang ngày nay). Tại đây, quân Lam Sơn đã dựng lên một thành luỹ nhỏ chắn ngang đường tiến quân của giặc. Hơn ba vạn quân dưới quyền chỉ huy của các tướng Nguyễn Đình Lý, Lê Văn An đã đạt mai phục dày đặc bên đường từ trước. Kịp khi Lương Minh vừa kéo quân đến, phục binh nổi lên đánh phá, lại theo chiến thuật kinh điển của quân Lam Sơn là bẻ gãy tiền phong, nhắm thẳng vào chỗ Lương Minh mà đánh gấp. Đồng thời, các tướng Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Đinh Liệt … trước đó vẫn bám theo sau quân Minh, được dịp cũng hết sức đánh thốc vào mặt sau. Quân Minh cũng ra sức chống trả mãnh liệt, chia thành vòng trận trong ngoài, chiến đấu trên một trận tuyến dài 5 km. Giặc đã tự đặt mình vào thế quyết tử, nên đánh nhau rất hăng. Tuy vậy, quân Lam Sơn vẫn chiếm thế thượng phong nhờ vào sự chuẩn bị kỹ lưỡng từ trước. Bảo Định bá Lương Minh đánh nhau ở vòng ngoài trận, bị trúng lao chết tươi. Quân Minh với các tướng lĩnh còn lại là Lý Khánh, Hoàng Phúc, Thôi Tụ vẫn can trường tiến binh vượt qua Cần Trạm, để lại xác của Lương Minh và hơn 1 vạn đồng đội chết trong trận.

Quốc Huy

https://1.bp.blogspot.com/-P5EmmJFn-wM/X-7gaQaQnnI/AAAAAAACP_Q/n6oEWRcC_eARHMJECTVlFTthpTS7EWykwCLcBGAsYHQ/w640-h389/130.jpg

15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Kỳ 131

BỊ QUÂN LAM SƠN VÂY KHỐN
THƯỢNG THƯ NHÀ MINH CÙNG ĐƯỜNG TỰ VẪN


Sau cái chết của Lương Minh trong trận Cần Trạm, bọn Lý Khánh, Thôi Tụ, Hoàng Phúc cố gắng tổ chức lại lực lượng tiếp tục nhằm hướng thành Xương Giang mà hành quân. Do tin tức bị chậm, tướng giặc vẫn cho rằng thành Xương Giang vẫn chưa bị công phá. Chúng hy vọng rằng sẽ vượt qua được sự đánh phá dọc đường của quân Lam Sơn để vào thành Xương Giang dưỡng thương, dùng thành trì làm chỗ tiến thủ.

Qua diễn biến có thể thấy quân Minh tiến sang lần này là một đội quân rất kỷ luật và tinh thần chiến đấu cực cao khi bị mất liền hai tướng soái mà vẫn có thể giữ vững hàng ngũ tiến lên phía trước. Tuy nhiên, thế của giặc đã mất. Mọi hành động của quân Minh đều nằm trong tính toán của các tướng lĩnh Lam Sơn. Quân ta dù không vượt trội về lực lượng, nhưng hoàn toàn nắm thế chủ động trong chiến dịch diệt viện này.

Trận Phố Cát – Lý Khánh cùng kế tự vẫn

Với ý nghĩ rằng thành Xương Giang vẫn còn do đồng đội chiếm giữ, viện binh nước Minh vẫn giữ được tinh thần mà cố sức chiến đấu. Về phía quân Lam Sơn, các tướng của ta đã không cố gắng khép chặt vòng vây ở Cầm Trạm, cố tình mở đường cho quân Minh tiến xuống. Địa hình từ Cần Trạm trở xuống là thung lũng hẹp và đồi thấp, rừng thưa. Quân ta tập họp lại lực lượng, lợi dụng địa hình theo đường tắt đi gấp bám sát theo sau quân Minh.
Ngày 18.10.1427, quân Lam Sơn tấn công quân Minh tại Phố Cát (Phố Tráng, Lạng Giang, Bắc Giang ngày nay). Tại nơi này, phục binh của quân ta đã xếp đặt sẵn từ trước. Khi quân Minh đến, phục binh trỗi dậy chặn ngang đường tiến. Các tướng Lê Sát, Nguyễn Đình Lý, Lưu Nhân Chú tung hết lực lượng đánh vào hậu quân của giặc. Bị vây đánh dữ dội từ cả hai mặt, quân Minh lâm vào cảnh tiến thoái lưỡng nan. Thượng thư bộ công nước Minh là Lý Khánh lúc này đang bệnh nặng, lại cùng kế, đã tự thắt cổ chết trong quân.

Trận Phố Cát kế thúc nhanh chóng với tổn thất khá nặng nề cho quân Minh. Giặc bị giết đến 1 vạn quân, xác nằm chồng chất lên nhau trên một ngọn đồi, dân gian về sau gọi là đồi Mả Ngô. Quân Lam Sơn bắt được trâu bò, lừa ngựa, quân trang nhiều không kể xiết. Thôi Tụ, Hoàng Phúc là những tướng lĩnh còn lại không còn kế sách gì, chỉ biết cố gắng chỉ huy quân lính vừa đánh vừa rút khỏi trận địa, miễn cưỡng tiến về hướng thành Xương Giang. Lê Sát cùng các tướng cũng giãn ra tái tổ chức lại, chuẩn bị đánh bồi những đòn mới.

Vây khốn Thôi Tụ tại Xương Giang

Sau bao phen khốn đốn, Thôi Tụ cuối cùng cũng dẫn quân Minh đến được trước thành Xương Giang. Nhưng niềm hy vọng cuối cùng của quân Minh đã khép lại. Ngay trước mắt quân tướng giặc, một thành trì Lam Sơn sừng sững chắn ngang đường. Thôi Tụ, Hoàng Phúc nhất thời chẳng biết tiến thoái đi đâu, bèn đem quân đóng giữa đồng trống, đắp luỹ đất thành vòng mà cố thủ.

Bình Định vương Lê Lợi vẫn muốn chừng cho giặc một con đường sống để nối lại mối bang giao về sau, nên đã sai Nguyễn Trãi gởi thêm hai bức thư chiêu dụ. Thư viết:

Tôi nghe: quân của Vương giả, cốt trên thuận òng trời, dưới hợp lòng người. Nay các ông vâng mệnh đi đánh dẹp, chỉ nên trên xét lòng trời, dưới thuận việc người. Trước đây cái tai hoạ đắm thuyền [trước đó quân Minh hành quân đến Quảng Tây thì bị đắm thuyền chết khá nhiều lính], thì trời đã răn bảo rõ lắm. Phàm quân đi qua một đường nào, việc chạy trốn hại thường thường có đến bao nhiêu người, nhân dân chừa oán lại quá lắm. Các ông bỏ việc ấy không xét đến mà xông pha nguy hiểm, khinh xuất tiến quân. Kinh Dịch có câu nói rằng: “Quân đi phải có kỷ luật, nếu không có kỷ luật thì dẫu phải cùng gặp sự không hay”. Huống chi lòng trời lòng người đã như thế mà các ông còn cố gượng cứ làm, thì tự mua lấy thất bại, há chẳng đáng ư?

Vả lại, bọn An Viễn hầu [Liễu Thăng], Bảo định bá [Lương Minh], Lý thượng thư [Lý Khánh] lại nối nhau bị chết, quân không người thống lĩnh, và không theo kỷ luật, chẳng bại vong sao được. Xin các ông nên chóng lui quân, đóng lại ở đất Long Châu, Bằng Tường[thuộc Quảng Tây, Trung Quốc], tôi lập tức đem ngay các quan lại quân nhân đã bắt được ở các thành đến ngoài cõi, trả lại hết cả. Và đem người vàng đã đúc, sai người đi theo, dâng biểu vào cống để nước nhỏ tôi được hết lễ thờ nước lớn, mà nước lớn được hết đạo vỗ yên người xa. Làm một việc mà được hai điều lợi, hai bên đều tốt cả. Thế không phải là may lớn cho nhân dân cả thiên hạ ư? Các ông nếu còn dùng dằng lâu ngày, chứa lòng nghi ngờ, làm hỏng mưu kế, tôi sợ rằng các ông sẽ chết vùi xương trong bụng cá ở Xương Giang, còn có ích gì đâu?Thư này gửi đến, kính xin trả lời cho biết.
(trích Quân Trung Từ Mệnh Tập)

Một lần nữa Lê Lợi và Nguyễn Trãi lại thể hiện thiện chí rất lớn khi mà phần thắng hầu như đã nắm gần chắc trong tay quân ta. Sự toan tính của Lê Lợi không chỉ gói gọn ở việc thành hay bại trong một cuộc chiến, mà còn nghĩ làm thế nào để giành được độc lập với các giá phải trả về sinh mạng ít nhất và đảm bảo cho một đất nước mới tái sinh có được nền hoà bình lâu dài. Lê Lợi chấp nhận là bên chủ động gây dựng lại lòng tin, gây dựng lại mối quan hệ hữu hảo đối với đế chế Minh đang say máu chiến tranh. Việc này chỉ trông cậy vào tài văn chương của Nguyễn Trãi.

Bọn Thôi Tụ đã cùng đường, nên khi nhận được thư đã hồi đáp, ngỏ ý muốn đầu hàng. Tuy nhiên, với 7 vạn quân còn lại trong tay, Thôi Tụ vẫn chưa cam tâm làm bại tướng. Giặc vẫn đắp luỹ đất, đêm bắn pháo hiệu mong quân từ thành Đông Quan, Chí Linh đến cứu. Rõ ràng thiện chí của ta vẫn chưa đủ khuất phục được giặc, mà cần phải dùng thêm võ lực. Bình Định vương Lê Lợi biết được giặc chỉ giả vờ xin hoà, nhất quyết không cho hoà mà càng tăng cường bao vây. Quân ta canh phòng chặt chẽ ở thành Đông Quan, khiến Vương Thông hết đường ứng cứu đồng bọn. Quân giữ thành Chí Linh muốn đem quân lương xuất thành chu cấp cho Thôi Tụ, nhưng Trần Nguyên Hãn chặn ngang đường tiếp vận, cũng không làm được gì ngoài việc phó mặc cho viện binh tự sinh tự diệt. Ở biên thuỳ, các ải Pha Luỹ, Chi Lăng, Mã Yên, Bàng Quan… cũng đều có quân Lam Sơn bịt kín, nội bất xuất ngoại bất nhập.

Đồng thời với các biện pháp củng cố việc bao vây địch ở mặt trận phía đông bắc, quân Lam Sơn cũng tiến hành các bước phá thế ghìm nhau với 5 vạn quân của Mộc Thạnh ở Vân Nam. Đây cũng là chỗ cuối cùng mà bọn Thôi Tụ, Hoàng Phúc hy vọng có thể giúp chúng lật ngược tình thế.

Quốc Huy

https://1.bp.blogspot.com/-ACUW8X0OsPI/X_HyTeZ3bdI/AAAAAAACQAE/zQB0JaISmdQLtZ9h6IfWKqxCetRFpd3_wCLcBGAsYHQ/w640-h500/131.jpg

15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Kỳ 132

NGUYỄN TRÃI DÙNG TÂM LÝ CHIẾN
MỘC THẠNH RUN RẨY THẢM BẠI


Trong lần tăng viện cuối năm 1427, ngoài 10 vạn quân của Liễu Thăng từ Quảng Tây tiến đánh nước ta từ hướng đông bắc còn có cánh quân của Mộc Thạnh với 5 vạn quân từ Vân Nam tiến đánh vùng tây bắc. Mộc Thạnh theo nhận định của tướng lĩnh Lam Sơn là đã già và thận trọng. So với mặt trận đông bắc đánh Liễu Thăng, thì mặt trận hướng tây bắc là thứ yếu. Tuy nhiên, điều này cũng không cho phép nghĩa quân Lam Sơn được lơ là mặt trận này. Bởi nếu biết được quân ta bố trí lực lượng mỏng yếu, Mộc Thạnh ắt sẽ thừa thế tiến vào đánh phá vây cho thành Đông Quan. Ở phía tây Đông Quan, các trận địa bao vây của quân ta sẽ bị uy hiếp trầm trọng từ cả hai phía.

Cánh quân Vân Nam mặc dù không tiến đánh gấp, nhưng đã kiềm chế một bộ phận không nhỏ lực lượng của quân Lam Sơn, cùng với các tướng lĩnh tài ba là Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả, Nguyễn Chích, Lê Trung... Theo lệnh của Bình Định vương Lê Lợi, các tướng lĩnh tại mặt trận phía tây bắc này không chủ động tung quân đánh lớn, mà đặt phục binh để đợi giặc. Nhưng Mộc Thạnh thận trọng không mắc mưu, cứ án binh bất động. Quân ta cũng không thể rút bớt lực lượng tăng cường cho nơi khác khi mà địch tập trung dày đặc bên kia chiến tuyến.

Theo chính sách vừa đánh vừa chiêu dụ, Bình Định vương Lê Lợi cũng sai Nguyễn Trãi dùng danh nghĩa của vua bù nhìn Trần Cảo viết thư cho Mộc Thạnh. Tuy rằng Thạnh mưu trí và thận trọng, nhưng cũng là kẻ cầu toàn, so với Liễu Thăng thì kém ở dũng khí. Nắm được tâm lý của tướng giặc, Nguyễn Trãi không thiên về kích động sự kiêu ngạo như những thư gởi cho Liễu Thăng mà đi sâu vào phân tích sự được mất, lợi hại. Thư có đoạn:

“… Kể ra đồ binh là thứ hung bạo, đánh nhau là việc nguy hiểm. Thánh nhân bất đắc dĩ mới dùng đến. Còn việc dùng binh đến cùng, cậy vào vũ lực là điều mà xưa nay vẫn răn dạy. Từ khi quân nhà vua dẹp yên cõi Giao Chỉ đến giờ, binh đao liền liền, tai vạ chồng chất, một ngày một quá lắm. Người Trung Quốc [chỉ nước Minh] thì bị đòi bắt tần phiền, quân và ngựa đều bị chết. Cái lấy được không bù cho cái bị mất, cái cướp được không chữa được vết tổn thương. Trừ ra, nguyên số quân đi đánh lần tước, và nhiều lần tiếp tục, quân và ngựa chết hại không biết đâu mà tính. Không kể, năm ngoái, lại điện phát quân và ngựa ở ba tỉnh Vân Nam, Tứ Xuyên, Quý Châu hiện nay mười phần không còn một phần. Cứ xem thế, bảo đồ binh là thứ hung bạo, đánh nhau là việc nguy hiểm, há chẳng đúng lắm ru ? … ”(trích Quân Trung Từ Mệnh Tập)

Sau khi phân tích thiệt hơn, Nguyễn Trãi vừa khuyên Mộc Thạnh trình thư về vua Minh và cho lui binh. Mộc Thạnh xem thư, chừng ý chí tiến quân càng giảm xuống, nhưng hắn vẫn không dám cho lui binh vì như thế sẽ phạm quân kỷ của nước Minh.

Trong khi Mộc Thạnh cùng các tướng Lam Sơn ghìm nhau không giao chiến, thì chiến sự đông bắc diễn ra ác liệt với những tổn thất nặng nề cho đạo quân 10 vạn người ngựa dưới trướng Liễu Thăng, liên tiếp hai tướng soái của quân Minh bị giết trong mấy ngày. Việc giành được lợi thế ở mặt trận chính này cũng mở ra những triển vọng dứt điểm mặt trận tây bắc. Bức thư thứ hai mà Nguyễn Trãi gửi cho Mộc Thạnh được gởi đi ngay sau khi Liễu Thăng bị giết ở trận Chi Lăng như một đòn giáng mạnh vào tâm lý của tướng giặc :
“ … Nay đem thực sự bày tỏ hết để đại nhân rõ:

Ngày tháng 9 năm này, An viễn hầu Liễu Thăng thống lĩnh đại quân đến địa phận thành Khâu Ôn. Tôi đã hai ba lần gửi thư nói kỹ về thiên thời, về nhân sự (thời trời, việc người), nói đi nói lại không ngại rờm lời, mà Liễu công cho lời nói của tôi là không đáng tin, bèn mạo hiểm tiến quân vào sâu chuyên việc chém giết, ý định giết hết không để sót người nào. Nhưng không biết đạo trời ưa sống, lòng người ghét loạn. Thành hay bại, phúc hay hoạ, chỉ trong khoảng trở bàn tay thôi. Ngày 20 tháng 9, tiến quân đến cửa Chi Lăng, quân lính giữ cửa ải của tôi không làm thế nào được, liền phải chống cự lại. Liễu công bị chết tại trận, không biết lẫn lộn vào đâu. Bảo Định bá, Thái đô đốc, Lý thượng thư cũng nối nhau chết nốt. Còn các quân lính đều bỏ trốn chạy tan. Đó tuy cũng là tội lỗi của tôi, cố nhiên không thể chối cãi được, mà cái hoạ của Liễu công tất phải tự mình chuốc lấy. Người xưa có câu nói: “Cậy vào đức thì tốt, cậy vào sức thì chết”, tức là thế đấy ...”(trích Quân Trung Từ Mệnh Tập)

Lời thư của Nguyễn Trãi vẫn rất ân cần, nhưng rõ ràng đã lấy Liễu Thăng làm tấm gương răn đe Mộc Thạnh. Nguyễn Trãi đã chỉ cho Mộc Thạnh thấy rõ cái giá của việc không nghe lời dụ, cố chấp tiến quân của Liễu Thăng. Những chiến lợi phẩm là bằng sắc, ấn tín của Liễu Thăng, cùng tù binh bắt được trong trận Chi Lăng gồm ba thiên hộ, một đô chỉ huy được Bình Định vương sai đem đến chỗ quân Mộc Thạnh, cho chúng tận mắt thấy bằng chứng về sự bại vong của bọn Liễu Thăng.

5 vạn quân Minh đóng trước cửa ải Lê Hoa đều sợ mất mật khi trông thấy những nhân chứng, vật chứng mà quân Lam Sơn mang đến trước mặt chúng, không còn lòng chiến đấu nữa. Mộc Thạnh biết quân không còn nhuệ khí, bản thân cũng đã khiếp sợ, lập tức hạ lệnh lui binh. Quân tướng nước Minh rút lui trong sự sợ hãi. Thuận đà, Phạm Văn Xảo cùng Trịnh Khả tung quân truy kích toàn tuyến. Giặc nhác thấy quân Lam Sơn, hoảng loạn giày xéo lên nhau mà chạy. Quân ta truy kích đến Lãnh Câu, Đan Xá, đánh giết một trận lớn. 1 vạn quân Minh chết tại trận, 1.000 tên bị bắt sống. Quân Lam Sơn thu 1.000 ngựa chiến cùng vũ khí, lương thực, của cải nhiều hơn cả lúc phá thành Xương Giang.

Xử lý xong cánh viện binh Mộc Thạnh, giờ là lúc quân Lam Sơn chuẩn bị dứt điểm với quân Minh ở cánh đồng Xương Giang.

Quốc Huy

https://1.bp.blogspot.com/-ljAHMciFKG0/X_QDQxiC-aI/AAAAAAACQBo/Wl51kTFttJgTrNvFYYaFY0SMzus6nBuIwCLcBGAsYHQ/w640-h463/132.jpg

15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Kỳ 133

ĐẠI PHÁ XƯƠNG GIANG
DIỆT 5 VẠN GIẶC, BẮT SỐNG 300 TƯỚNG MINH


Sở dĩ phải đánh mạnh khi quân Mộc Thạnh đã rút chạy như kể trong phần trước, là cốt phá đi những lực lượng tinh nhuệ của chúng, đề phòng hậu hoạn về sau và cũng chứng minh cho nước Minh thấy cái giá đắt như thế nào khi động đến nước Đại Việt. Qua trận truy kích không khoan nhượng này cũng cho thấy rằng, những lời chiêu dụ ân cần của Nguyễn Trãi chỉ là những đòn tâm lý chiến chứ không phải thực lòng. Quân Lam Sơn sẵn sàng đánh diệt quân Minh thẳng tay khi có cơ hội chứ không chỉ đơn giản là buộc chúng phải rút lui khỏi bờ cõi.

Sau đại thắng ở hướng tây bắc, nghĩa quân Lam Sơn càng có đủ điều kiện để dồn quân vây Đông Quan và dứt điểm bọn Thôi Tụ, Hoàng Phúc ở Xương Giang. Các lực lượng quân Lam Sơn rầm rộ hành quân dồn lại để xiết chặt vòng vây. Nguyễn Trãi vẫn tiếp tục dùng văn chương để lung lạc tinh thần của quân tướng nước Minh:

“… Ngày nay tôi đã răn bảo quân lính, dẹp mở dường về cho các ông từ Cần Trạm đến Khâu Ôn, nếu thấy đại quân qua lại không được xâm phạm mảy may. Các ông, trọng hạn ba ngày, nên thu nhặt mà đi. Quá hạn ấy mà còn chậm lại, thế là các ông thất tín, không phải lỗi ở tôi vậy. Kinh thi có câu nói: “Người khác có lòng, ta lường tính xem”. Chắc rằng các ông sở dĩ ở chậm lại, có ý trông mong vào quân ở thành Đông Quan sang tiếp ứng chăng? Hay là ở quân Vân-nam sang tiếp ứng chăng? Thì, từ Đông Quan đến đây chỉ có một ngày đường, không phải hẹn còn có thể tự đến cứu được, há lại nỡ lòng nào dửng dưng ngồi nhìn không đau lòng hộ ư? Thế thì các ông trông mong về quân thành Đông Quan đã tuyệt vọng rồi.

Còn như Kiềm quốc công ở Vân Nam trước đây cùng với các ông cũng vâng mệnh trên họp quân ở đấy. Nhưng Kiềm đại nhân tuổi cao đức cả, đã sớm biết lẽ phải, thấy việc làm rõ. vừa mới đến bờ cõi, lập tức sai người dò thăm hư thực, nghe tin trước đây thành trì các xứ Tam Giang đều đã hoà giải, bèn lui quân về Lâm An, làm bản tâu về triều. Tôi lại đem những quân nhân của các ông mà tôi đã bắt được đưa đến chỗ Kiềm đại nhân, nói rõ duyên do, bọn An viễn hầu, Bảo định bá, Lý thượng thư bị chét. Kiềm quốc đại nhân đã lui quân về Vân Nam rồi. Thế là bọn các ông trông mong về đạo quân ở Vân Nam lại tuyệt vọng nốt.
Hai mặt trông mong ấy đều đã tuyệt vọng, mà quân nhân mỗi ngày một bị chết, lương thực lại hết thì các ông còn đợi gì mà dùng dằng ở lại không đi chứ? Sao mà xét việc câu nệ, mưu việc không sớm thế? Than ôi, chén nước đã đổ khó mà vét lại được nữa, việc trước đã qua rồi, bỏ việc ngày nay không mưu tính đến, hối sao cho kịp. Thư nói chẳng hết lời.” (trích Quân Trung Từ Mệnh Tập)

Với bức tối hậu thư này, Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã mong rằng 7 vạn viện binh còn lại dưới sự chỉ huy của Thôi Tụ, Hoàng Phúc sẽ tự rút lui như quân Mộc Thạnh, rồi quân ta sẽ thuận thế đánh một trận “dằn mặt” như ở mặt trận tây bắc. Được như thế, thắng lợi sẽ dễ dàng hơn, trọn vẹn hơn mà sự đổ máu cũng ít hơn. Thế nhưng bọn Thôi Tụ không trúng kế, vẫn tổ chức tử thủ ở cánh đồng Xương Giang.

Bất đắc dĩ, Bình Định vương Lê Lợi phải quyết định mở cuộc quyết chiến tiêu diệt viện binh còn lại của quân Minh. Ngài sai các quân hội nhau bao vây quân Minh ở Xương Giang, đều thêm quân Thiết đột và voi chiến dưới sự thống lĩnh của các tướng Lê Khôi, Phạm Vấn, Nguyễn Xí, Lê Hối … lên tiếp ứng cho các quân.

Ngày 3.11.1427, nhân một đêm mưa gió, quân Lam Sơn mở cuộc tổng tấn công tại Xương Giang. Từ bốn phương tám hướng, quân ta bắn pháo vào khối quân Minh, rồi trùng điệp người ngựa, voi chiến đánh dồn lại. Các danh tướng như Trần Nguyên Hãn, Lê Sát, Lê Khôi, Nguyễn Xí, Phạm Vấn, Lê Hối, Đinh Liệt, Lưu Nhân Chú, Nguyễn Đình Lý, Lê Văn An … đều tham chiến, thi nhau giết địch. Quân Minh dù vẫn còn hàng vạn, nhưng vũ khí đạn dược mất gần hết, lương thực không có, thế quân mệt mỏi cùng cực nên chẳng mấy chốc đã vỡ trận. Tai hại hơn cho giặc, lần này chúng đã không còn đường đào thoát nữa. Khắp nơi quân dân người Việt chia nhau chặn hết cả ngã đường thuỷ bộ, núi non, rừng rậm.

Gần 5 vạn quân Minh bỏ mạng trong trận quyết chiến, số còn lại hơn 2 vạn quân, 300 tướng cũng bị bắt sống hết cả. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép thêm: “Còn những kẻ chạy trốn thì trong khoảng không đến 5 ngày đều bị bọn chăn trâu kiếm củi bắt gấn hết, không sót tên nào.”Theo sử nước Minh, toàn bộ đạo viện binh của Liễu Thăng đều bị diệt và bị bắt, chỉ có duy nhất một viên chủ sự tên Phan Hậu là chạy thoát được về nước. Số chiến lợi phẩm khổng lồ thu được từ đạo quân Minh được sách Lam Sơn Thực Lục miêu tả lại: “Giáo mác, lừa ngựa, vàng bạc, lụa là, gấm, đoạn, từng hòm, từng đống, chứa chất như núi, không thể kể xiết!”

Chiến thắng Xương Giang khép lại chiến dịch Chi Lăng – Xương Giang thành công tốt đẹp. Kể từ lúc Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đại phá quân Nguyên ở trận Bạch Đằng năm 1288, chưa từng có lần nào người nước ta được đắc thắng như thế đối với phương bắc. Không chỉ là một trận chiến định giang sơn, mà âm vang để lại của chiến dịch Chi Lăng – Xương Giang còn vọng mãi đến ngày nay Hậu thế luôn nhắc đến chiến dịch này như một trong những chiến công hiển hách nhất trong suốt cả hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước.

Quốc Huy

https://1.bp.blogspot.com/-Ixm4Wgk8BGc/X_RqwMy0sRI/AAAAAAACQBw/2fse07r9-8MG6aZLNiiz1-NfkOoXAK24QCLcBGAsYHQ/w640-h448/133.jpg

15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Kỳ 134

ĐEM TÙ BINH TỚI CHÂN THÀNH
QUÂN MINH KHIẾP VÍA CẦU HOÀ


Sau trận Xương Giang, Bình Định vương Lê Lợi sai người giải bọn Thôi Tụ, Hoàng Phúc cùng cờ trống, ấn tín, chiến cụ, sổ quân… đến trước thành Đông Quan cho bọn quân tướng Minh trong thành chứng kiến. Trông thấy đồng đội bị bắt và những bằng chứng về sự thất bại thảm hại của hai đạo viện binh, Vương Thông và quân tướng dưới quyền rất sửng sốt và sợ hãi. Sau đó quân ta lại đem tù binh và vật chứng đi dụ các thành khác, khắp nơi quân Minh sợ tái mặt. Niềm hy vọng cuối cùng cho các đội quân Minh bị bao vây trong các thành trì đã sụp đổ.

Thế nhưng bọn giặc đã trót gây thù oán nhiều, nên vẫn chần chừ không dám xếp giáp quy hàng. Quân tướng nước Minh vẫn sợ rằng một khi quân Lam Sơn được đắc thắng sẽ giết chết chúng để trả thù. Một khi buông hạ khí giới, mở cửa thành trì, quân Minh sẽ không còn tự quyết được số phận của mình mà hoàn toàn lệ thuộc vào lòng nhân từ của quân ta. Chính vì ý nghĩ đó, Vương Thông và thuộc hạ thà liều chết cố thủ, mong một trận liều chết với quân dân ta chứ không chịu đầu hàng.

Về phía nghĩa quân Lam Sơn, rất nhiều tướng sĩ cũng không muốn cho quân Minh đầu hàng. Hầu hết đều căm giận quân giặc tàn ngược, chỉ mong đánh một trận sống mái, một phen giết quân Minh để rửa hận.Thế nhưng Bình Định vương Lê Lợi vẫn mong mở một lối thoát cho quân Minh để khôi phục lại bang giao, và giúp quân ta đỡ tốn máu xương mà vẫn giành được độc lập cho đất nước. Đại tướng Nguyễn Lôi được lệnh dẫn phái đoàn đến các thành Tây Đô, Cổ Lộng dụ hàng. Hai thành này trước đây nghe theo lời bọn nguỵ quan nên ngoan cố tử thủ, dù Nguyễn Trãi đã viết rất nhiều thư vẫn không chiêu dụ được. Nhưng nay trước sự bại vong đã rành rành trước mắt, bọn tướng Minh đành phải xếp giáp quy hàng, trông mong vào sự nhân từ của nghĩa quân Lam Sơn.

Riêng ở thành Đông Quan,vì thấy bọn giặc vẫn ngoan cố, Bình Định vương hạ lệnh cho các quân phòng bị càng nghiêm ngặt. Bọn quân Minh ra thành hái củi, chăn ngựa cũng đều bị quân ta bắt hết. Quân Lam Sơn dựng lên thêm những chiến luỹ đối diện tường thành, từ đó quan sát và đặt súng đạn, cung tên bắn vào giặc. Các chiến xa, chiến cụ dùng cho việc công thành cũng được chuẩn bị kỹ lưỡng, đề phòng trường hợp bất đắc dĩ phải công phá thành Đông Quan.

Ngày càng bị đẩy vào thế khốn đốn, Vương Thông sai người đem thư xin hoà.Lê Lợi chấp nhận cùng quân Minh hoà nghị. Thế nhưng, Vương Thông vẫn chưa thực lòng hoà hiếu, mà muốn lấy việc xin hoà làm quân Lam Sơn trễ nải phòng bị.

Một ngày tháng 11/1427, Vương Thông thình lình đem hết quân trong thành đánh ra từ cửa nam, muốn đem hết sức bình sinh mà đánh một trận liều chết với quân ta. Thế nhưng mưu kế của Vương Thông đã bị quân ta lường trước được. Khi mấy vạn quân Minh trong thành đánh ra, quân Lam Sơn án ngữ phía cửa nam Đông Quan vờ thua chạy, giặc tiến ra xa một chút thì gặp quân mai phục đổ ra đánh khép lại. Quân Minh thất thế, tiến thoái lưỡng nan. Vương Thông biết không thể tiến lên được nữa, đành phải lệnh cho quân chạy ngược vào thành. Quân Lam Sơn khép vòng vây chặn ngang đường quân Minh chạy vào, vây lấy người ngựa của Vương Thông, quyết bắt sống tướng giặc. Vương Thông đánh nhau với quân ta bị ngã ngựa, suýt bị bắt sống nhưng may sao được bộ hạ cứu thoát, chạy được vào thành. Tổn thất của quân Minh càng thêm nặng nề.

Quân Lam Sơn truy kích quân Minh đến sát cửa nam thành Đông Quan, rồi đắp một chiến luỹ chặn ngang lối ra vào của giặc. Bình Định vương Lê Lợi đốc suất quân sĩ đắp luỹ dài từ Yên Hoa (Yên Phụ, Tây Hồ, Hà Nội ngày nay) đến tận cửa bắc thành Đông Quan, chỉ trong một đêm là xong. Quân Minh bị bức đến nỗi không còn lối ra vào thành.

Trước đó, Nguyễn Trãi đã mấy lần thư từ qua lại với bọn Vương Thông, khi thì nhân danh Trần Cảo, khi thì nhân danh Lê Lợi phân tích lẽ thiệt hơn, lấy điều tín nghĩa ra mà thuyết phục Vương Thông đầu hàng. Nhưng sự kiên nhẫn của các lãnh tụ quân Lam Sơn chỉ có giới hạn. Cơ hội cho Vương Thông đầu hàng không còn nhiều.

Cuối cùng, Vương Thông cũng phải chịu khuất phục vì đã bị dồn vào đường cùng. Hắn cho tập họp quân tướng lại, nói rằng: “Thành không thể giữ được, mà đánh không thể thắng, không gì bằng toàn quân trở về Bắc” (theo Việt Sử Tiêu Án). Bàn luận xong, quân Minh lại cho người đem thư sang ta xin hoà một lần nữa.

Bấy giờ nơi màn trướng quân Lam Sơn, khi thư của Vương Thông đến thì các tướng đều nhao nhao mắng bọn giặc Minh trí trá, khuyên Bình Định vương Lê Lợi nên dùng binh mà giết sạch bọn chúng đi. Duy chỉ có Hành khiển Nguyễn Trãi ngày ngày cùng Lê Lợi bàn định cơ mưu, được xem những thư từ bắt được của giặc, nắm rõ nhất về thực lực và toan tính của bọn Vương Thông nên vẫn chủ trương hoà nghị. Nguyễn Trãi cho mọi người xem bức thư của Vương Thông gởi về Minh triều bị quân ta bắt được: “Chớ vì một góc đất đai nhỏ nhoi mà bao phen làm nhọc quân đi muôn dặm. Giả sử dùng tới số quân như lần đánh ban đầu, có được sáu, bảy, tám viên đại tướng như bọn Trương Phụ thì mới có thể đánh được. Nhưng dẫu có đánh được cũng không thể nào giữ được” (theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư)

Bình Định vương Lê Lợi sau khi nghe các tướng lĩnh tranh luận một lượt rồi, ngài mới bàn rằng: “Việc dụng binh, lấy sự toàn quân [tức bảo toàn lực lượng] là hơn cả. Nay hãy để cho lũ Vương Thông về nói với vua nhà Minh, trả lại đất nước ta, không còn xâm lấn, thì ta còn cần gì hơn nữa, hà tất phải giết hết, để kết mối thù với nước lớn”. (theo Đại Việt Thông Sử)
Các tướng nghe theo. Việc hoà nghị sau đó được tiến hành. Vương Thông sai Sơn Thọ, Mã Kỳ tới dinh Bồ Đề làm con tin. Đổi lại, Lê Lợi cũng cho thế tử Lê Tư Tề, đại tư mã Lưu Nhân Chú vào thành Đông Quan làm con tin. Hai bên định ngày lập đàn thề, bàn việc rút quân.
Ngày 10.12.1427, hai phái đoàn cùng đến hội thề ở ngoài cửa nam thành Đông Quan. Phái đoàn quân Lam Sơn do Bình Định vương Lê Lợi đứng đầu, cùng với bọn Vương Thông cam kết sẽ thực hiện những bước hoàn thành việc kết thúc chiến tranh. Văn thề có đoạn chủ yếu như sau:

“Chúng tôi cùng nhau phát tự lòng thành, ước hẹn thề thốt với nhau:

Từ sau khi lập lời thế này, quan tổng binh Thành sơn hầu là Vương Thông quả tự lòng thành, đúng theo lời bàn, đem quân về nước, không thể kéo dài năm tháng, để đợi viện binh đến nơi. Lại phải theo đúng sự lí trong bản tâu, đúng lời bán trước mà làm.

Bọn Lê Lợi chúng tôi nếu còn chứa giữ lòng làm hại, tự làm việc lừa dối, không dẹp xa ngay quân lính ngựa voi, việc làm không đúng lời nói ngầm sai… Các việc nói trên tuy là không tự mình làm lấy, lại chuyển sang người khác có xâm phạm đến một chút nào tức thì Trời, Đất, thần minh, núi cao sông lớn, cho đến thần kỳ các xứ, tôi cùng con cháu thân của tôi, và người cả một nước tôi, giết chết hết cả, không để sót lại mống nào.

Về phía bọn quan tổng binh Thành sơn hầu là Vương Thông, nếu không có lòng thực, lại tự trái lời thề (đối với việc) người phục dịch và các thuyền đã định rồi, cầu đập đường sá đã sửa rồi, mà không làm theo lời bàn, lập tức đem quân về nước, còn kéo dài năm tháng để đợi viện binh, cùng là ngày về đến triều đình lại không theo sự lí trong bản tâu, không sợ thần linh núi sông ở nước An Nam lại bàn khác đi, hoặc cho quan quân đi qua đâu cướp bóc nhân dân, thì Trời, Đất cùng là Danh sơn, Đại Xuyên và thần kỳ các xứ tất đem bọn quan tổng binh Thành sơn hầu là Vương Thông, tự bản thân cho đến cả nhà, thân thích, làm cho chết hết, và cả đến quan quân cũng không một người nào về được đến nhà.
Nếu mà cả hai bên đều do lòng thành cả thì Trời Đất thần minh đều phù hộ cho đến bản thân mình mạnh khoẻ, trong nhà mình vinh thịnh, cùng hưởng lộc vị, đều được bình yên.
Trời, Đất thần kì cùng soi xét cho!” (theo Quân Trung Từ Mệnh Tập)

Những lời trong văn thề cũng là tóm tắt lại những thoả thuận giữa nghĩa quân Lam Sơn và quân Minh. Theo đó, Hai bên cũng tiến hành trao đổi tù binh và con tin. Tướng Đỗ Bí cùng các quân tướng Lam Sơn bị bắt trước đó được trở về. Thượng thư nước Minh là Hoàng Phúc cùng hàng vạn tù binh trong trận Xương Giang cũng được Lê Lợi cho phóng thích. Riêng tướng Thôi Tụ bị bắt trong trận Xương Giang vì không chịu khuất phục nên đã bị quân Lam Sơn giết chết.

Quân ta chẳng những tha chết cho quân binh, thường dân người Minh về nước mà còn cho sửa sang cầu cống, đường sá, cấp thuyền bè, lương ăn cho chúng được đi lại dễ dàng. Vòng vây các thành Tây Đô, Cổ Lộng, Chí Linh được nới ra, cho quân Minh được tập kết lại ở Đông Quan rồi rút về nước một lượt. Khi quân Minh đã xuất hành, có nhiều quân dân lại khuyên Lê Lợi thừa cơ giết hết bọn chúng đi để báo thù, rửa mối hận mất nước và an ủi những linh hồn đã chết oan khuất bởi sự tàn bạo của giặc. Lê Lợi đáp lại rằng:

“Một lòng báo oán là thường tình của con người ta. Nhưng không thích giết người là bản tâm của bậc nhân giả. Vả chăng người ta đã ra hàng mà ta lại giết đi thì không còn gì không lành hơn nữa! Dữ kỳ hả cái giận trong một sớm, mà chịu mang tiếng giết kẻ đầu hàng với muôn đời, thì sao bằng để sống hàng ức, vạn mạng người, mà dứt mối chiến tranh về sau trong hai nước? Sử xanh chép lại, nghìn thuở còn thơm! Như thế lại không tốt đẹp hay sao?” (theo Lam Sơn Thực Lục)

Đúng phương châm “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo” (trích Bình Ngô Đại Cáo), tổng cộng cả quân mới, quân cũ và thường dân người Minh hết thảy chừng 30 vạn người đã được Bình Định vương Lê Lợi tha chết cho về nước. Cảm kích tầm lòng nhân từ, khoan dung của Lê Lợi, bọn quân Minh trước khi đi còn kéo nhau đến trước dinh Bồ Đề mà lạy tạ.

Cuộc chiến đánh đuổi quân Minh của nghĩa quân Lam Sơn về căn bản đã kết thúc tốt đẹp với việc quân Minh rút về nước. Tuy nhiên, đây chỉ là thoả thuận của bọn Vương Thông với nghĩa quân Lam Sơn tại nơi thực địa. Để có được nền hoà bình lâu dài với nước Minh, ngăn chặn một làn sóng xâm lược mới, Lê Lợi cùng các chiến hữu của mình vẫn còn nhiều việc phải làm.

Đồng thời với việc nghị hoà với Vương Thông, Nguyễn Trãi vâng lệnh của Lê Lợi bắt tay vào việc hoà giải với vua Minh ở tại triều đình Bắc Kinh.

Quốc Huy

https://1.bp.blogspot.com/-ceTuw7DBpps/X_U9MS2-NwI/AAAAAAACQCI/VMwjgdUxJWE77NKASmWJNcpL_DM-sCWzACLcBGAsYHQ/w640-h352/134.jpg

15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Kỳ 135

CÓ TRONG TAY 7 VẠN QUÂN
MINH TRIỀU VẪN “THUA ĐAU” ĐẠI VIỆT


Lý do nực cười này chính là một trong những nguyên nhân khiến đội quân của Minh triều đại bại dưới tay nghĩa quân Lam Sơn.

Năm 1407, sau nhiều lần tiến công xâm lược, quân Minh đã hoàn thành công cuộc xâm chiếm Đại Việt. Triều đình nhà Minh đổi tên nước ta thành Giao Chỉ, chia làm 17 phủ, 5 châu. Từ đây, dân ta phải sống trong cảnh đô hộ trong gần 2 thập kỷ.
Giặc Minh và những tội ác “trời không dung, đất không tha”

Chỉ trong vòng 6 tháng kể từ khi đặt ách đô hộ, quân Minh đã cướp của nước ta 235.900 con voi, ngựa, trâu bò; 13.600.000 thạch thóc; 8.670 chiếc thuyền và vô số vàng bạc, châu báu đem về Trung Quốc.

Chính quyền đô hộ còn tăng thuế ruộng lên gấp 3 lần, đánh thuế mọi ngành nghề, cưỡng bức dân ta đi phu phen, lao dịch, dồn bắt nhân tài đem về nước. Thâm độc hơn, Minh triều còn ráo riết thi hành chính sách ngu dân, đồng hoá dân tộc.
Trong suốt 2 thập kỷ đô hộ nước ta, chính quyền nhà Minh đã thực hiện nhiều chính sách, biện pháp với những thủ đoạn tinh vi, trắng trợn nhằm xoá bỏ quá khứ đấu tranh, dựng nước và giữ nước bất khuất của dân tộc ta, hòng chiếm đóng vĩnh viễn Đại Việt

Chúng đốt sách, phá huỷ các công trình kiến trúc, văn hoá, tuyên truyền, nhồi nhét những tư tưởng mê tín, bắt nhân dân Đại Việt ăn mặc và sinh hoạt theo phong tục tập quán của Hán Tộc.

Chưa dừng lại ở đó, chúng còn thực hiện chính sách chia rẽ dân tộc và đàn áp tàn bạo. Nhà Minh xoá bỏ quốc hiệu Đại Việt, đặt làm quận Giao Chỉ, thiết lập chính quyền đô hộ, coi lãnh thổ nước ta như một quận huyện của Trung Hoa.

Những tội ác chất chồng của Minh triều đối với nhân dân Đại Việt đã được Nguyễn Trãi tố cáo một cách đanh thép trong “Bình Ngô đại cáo”:

“Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.
[…]
Độc ác thay, trúc Lam Sơn không ghi hết tội,
Nhơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi.”

Trong bối cảnh ấy, Lê Lợi đã đứng lên phất cờ khởi nghĩa tại Lam Sơn, chiến đấu can trường trong gần 10 năm để dành lại độc lập cho nhân dân Đại Việt.

“Tự mình hại mình”, giặc Minh “cúp đuôi” chạy về nước

Năm 1427, cuộc xâm lược Đại Việt của Minh triều đứng trên bờ vực phá sản trước sự lớn mạnh của khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo.

Đối mặt với tình thế ấy, Minh Tuyên Tông quyết định phái Chinh Lỗ tướng quân Liễu Thăng (chủ tướng) và Thượng thư Bộ binh Lí Khánh (làm Tham tán Quân vụ) dẫn binh tới Đại Việt hòng đàn áp nghĩa quân của Lê Lợi.

Lúc bấy giờ, Đại Việt sau gần 20 năm chịu sự đô hộ của Minh triều, nay đang “trở mình” nhờ hào khí của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.

Năm 1426, ngay khi vừa lên kế vị, Minh Tuyên Tông đã phái Thành Sơn hầu Vương Thông suất lĩnh 10 vạn quân tiến vào Đại Việt hòng đàn áp nghĩa quân nhưng vẫn đại bại tại Tốt Động – Chúc Động.

Lần thất bại này đã khiến Vương Thông phải lui về Đông Quan cố thủ, cầu xin sự tiếp viện từ phía triều đình.

Sau đó, Tuyên Tông liền phái Liễu Thăng (danh tướng kỳ cựu của Minh triều từ thời Chu Đệ) thống lĩnh 7 vạn quân tiến sang lãnh thổ Đại Việt.

Đội quân Nam chinh lần này của Minh triều có thanh thế hết sức phô trương. Cầm đầu 7 vạn quân chủ lực là những “tên tuổi” cầm binh hàng đầu như Chủ tướng Liễu Thăng, Phó Tổng binh Lương Minh, Tham tán Lí Khánh, Tham tướng Thôi Tụ.

Bên cạnh đó, Minh triều còn cắt cử Kiều Quốc công Vân Nam là Mộc Thạnh cầm đầu 5 vạn quân hậu bị.

Đứng trước lực lượng lớn mạnh sở hữu tinh thần yêu nước bất khuất như nghĩa quân Lam Sơn đồng nghĩa với việc quân Minh phải chuẩn bị tinh thần đối mặt với một cuộc chiến sống còn.

Vậy nhưng, còn chưa vào tới lãnh thổ Đại Việt, đội quân này đã tự giết chính mình do những lục đục nội bộ. Nguyên nhân bắt nguồn từ việc Liễu Thăng muốn nhân cơ hội nam chinh lần này để chiếm lấy đất Việt, tự lập làm vương, trở thành chư hầu của triều đình.

Lí Khánh và Lương Minh đã hết lời khuyên can nhưng không thành, liền cấu kết với Kiều Quốc công Vân Nam là Mộc Thạnh hòng đoạt lại binh quyền từ tay Liễu Thăng.
Tuy nhiên, thân tín của Lí Khánh chưa kịp tới Vân Nam để báo tin cho Mộc Thạnh thì đã bị thủ hạ của Liễu Thăng “giết người diệt khẩu”.

Lúc này, Liễu Thăng liền mật đàm cùng Thôi Tụ. Thôi Tụ hiến kế: “Phía nam từ trước tới nay vốn là nơi liên tục phát sinh ôn dịch. Chúng ta chỉ cần nghĩ cách khiến bọn chúng ‘chết vì bệnh dịch’ là có thể dễ dàng ăn nói với triều đình.”

Cũng không rõ Thôi Tụ dùng quỷ kế gì, sau khi đến Đại Việt, Lí Khánh, Lương Minh lần lượt lâm bệnh nặng, việc quân chính buộc phải để Liễu Thăng toàn quyền quyết định.

Khi mới giao chiến với quân Lam Sơn, Liễu Thăng vì thắng được một vài trận mà đem lòng kiêu ngạo. Lí Khánh nhắc nhở đây rất có thể là kế “dụ địch” của Lê Lợi, nhưng Liễu Thăng bỏ ngoài tai, tiếp tục cho quân tiến sâu vào lãnh thổ Đại Việt.
Tới đầm lầy ở Chi Lăng, giặc Minh bị quân ta đánh bất ngờ. Binh lực của địch bị tiêu diệt gần hết, số tàn quân còn lại bỏ chạy về doanh trại, bản thân Liễu Thăng cũng bị vùi thây nơi chiến trường.

Khi tàn binh chạy về đại bản doanh cũng là lúc Phó Tổng binh Lương Minh qua đời vì bệnh. Chủ tướng và phó tướng đều bỏ mạng, Tham tán Lí Khánh nghe tin liền thổ huyết, không lâu sau cũng qua đời trong sợ hãi.

Mất đi thống lĩnh và tham mưu, tàn binh của địch giờ đây do Thôi Tụ cầm đầu, bị nghĩa quân vây khốn ở Xương Giang. Kết quả là 7 vạn quân chủ lực của Minh triều bị quân ta đánh tan, quân Minh đại bại.

Lúc này, Vương Thông đã rơi vào thế “tứ cố vô thân”, phải cầu hoà cùng Lê Lợi. Cuối cùng, Tuyên Tông buộc phải hạ lệnh bãi binh, công nhận độc lập của Đại Việt.
Vậy mới thấy, ngay cả khi sở hữu lực lượng đông đảo, Minh triều vẫn thua đau trước nghĩa quân Lam Sơn vì chiến thuật, tinh thần, và hơn cả là thiếu đi sự đoàn kết.

Trần Quỳnh

https://1.bp.blogspot.com/-h-ytDYwyVfg/X_Xfagd-jTI/AAAAAAACQCQ/2ypae5CLIe8aywC3mtKkshGGicz3p2SsgCLcBGAsYHQ/w640-h384/135.jpg

15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Kỳ 136

LÊ LỢI MỞ LỐI CHO VUA MINH CƠ HỘI:
HOÀ BÌNH TRONG DANH DỰ


Hội thề Đông Quan là một sự kiện lịch sử quan trọng, đánh dấu chiến thắng vĩ đại của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn trong công cuộc đánh đuổi quân Minh xâm lược khỏi bờ cõi. Nước Đại Việt trên thực tế đã được khôi phục đầy đủ nền độc lập sau khi Vương Thông dẫn đám bại binh về nước. Tình cảnh của quân Minh được miêu tả trong Bình Ngô Đại Cáo càng làm nổi bật lên tính nhân nghĩa của Lê Lợi và quân tướng Lam Sơn:

“Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng
Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng
Thần vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh
Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc,
Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến nước mà vẫn tim đập chân run.
Họ đã tham sống sợ chết mà hoà hiếu thực lòng
Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức”

Công cuộc đánh đuổi quân Minh, giành lại độc lập cho dân tộc Việt đã thành công. Thế nhưng phong trào Lam Sơn vẫn chưa hoàn thành đầy đủ sứ mạng của mình. Nước Minh thời kỳ này vẫn đang trong giai đoạn sung sức nhất, vẫn có thể mở thêm những cuộc xâm lược mới để báo thù. Muốn có được một nền hoà bình lâu dài để chuyên tâm xây dựng lại đất nước, phía ta không còn cách nào tốt hơn là nối lại bang giao với nước Minh, tránh khỏi sự thù địch lâu dài với một đế chế hùng mạnh và đông dân, lãnh thổ rộng lớn hơn nước ta gấp mấy chục lần.

Ý thức được điều đó, ngay lúc chiến sự vẫn chưa kết thúc thì Bình Định vương Lê Lợi đã giao cho Hành khiển Nguyễn Trãi trọng trách ngoại giao với Minh triều. Bình Định vương Lê Lợi dù đánh thắng giặc nhiều trận nhưng vẫn tìm cách giảng hoà với Vương Thông, thả nhiều quân dân người Minh về nước. Việc giảng hoà với tướng giặc là một bước trong tiến trình tìm kiếm hoà bình.

Đồng thời với việc hoà nghị với bọn Vương Thông, Nguyễn Trãi đã theo lệnh Lê Lợi, lấy danh nghĩa của Trần Cảo soạn biểu gởi sang vua Minh theo cả hai ngả đường Vân Nam và Quảng Tây. Mộc Thạnh ở Vân Nam nhận được biểu, tức tốc cho người chạy trạm chuyển lên cho vua Minh Tuyên Tông. Biểu viết như sau:

“Thái tổ Cao hoàng đế [ tức Chu Nguyên Chương ] khi mới lên ngôi, tổ tiên của thần là Nhật Khuê [chỉ vua Trần Nghệ Tông] trước tiên dâng lễ triều cống, được ơn đặc biệt khen thưởng và ban cho tước vương. Từ đó, đời đời giữ gìn bờ cõi, không hề thiếu sót lễ nghi triều cống. Mới đây, nhân họ Hồ soán nghịch, Thái tông Văn hoàng đế [chỉ vua Chu Đệ nước Minh] dấy quân hỏi tội. Sau khi dẹp yên, nhà vua hạ chiếu tìm kiếm con cháu họ Trần để cho giữ việc thờ cúng. Bấy giờ tổng binh quan Trương Phụ chưa kịp tìm kiếm rộng khắp, đã vội xin đặt nước tôi làm quận huyện.

Thần, trước đây, vì nước rối loạn, phải chạy trốn sang Lão Qua, chỉ muốn cho chút hơi tàn được tạm kéo dài ra thôi. Dè đâu người nước quen thói tục man di, xa nghĩ đến ơn trạch của tổ tiên nhà thần, ép thần phải về nước. Bất đắc dĩ thần phải gượng theo. Dẫu rằng việc làm hấp tấp này là do người nước ép buộc, nhưng cũng là cái tội bởi thần không biết đắn đo suy lường.

Vừa đây, đã đến cửa quân tạ tội, nhưng không được đâu để ý lắng nghe. Người nước bấy giờ sợ bị giết chết, mới phải đem nhau đi giữ những nơi quan ải để làm cái chước tự vệ lấy mình; nào ngờ quan quân từ xa đến, thấy voi, hoảng sợ, tự cùng nhau lánh chạy, tan vỡ. Việc đã đến thế, tuy là do sự bất đắc dĩ của người nước, mà cũng là tội lỗi của thần. Nhưng, số quan quân và ngựa bị bắt đều đã thu lượm nuôi dưỡng, không dám tơ hào xâm phạm.
Nép mong hoàng thượng dựa theo lời chiếu của Thái Tông Văn hoàng đế cho tìm kiếm con cháu họ Trần, nghĩ đến lòng thành thực của ông cha nhà thần đã dâng lễ triều cống trước tiên, tha cho thần cái tội to như đống gò, miễn cho thần khỏi bị giết chết bằng rìu búa, khiến thần được nối dõi ở cõi Nam, triều cống cửa trời.

Ngoài sự riêng sai bồi thần thân tín đem dâng tạ biểu và đưa đến kinh đô nộp trả ấn tín và người ngựa, nay xin đem danh sách và số mục kính cẩn tâu lên để nhà vua soi xét” (theo Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục)

Bài biểu này cho thấy rằng dù chiến thắng lừng lẫy trong cuộc chiến, nước Đại Việt trong thời kỳ trung đại vẫn chưa bao giờ có được vị thế ngang hàng về mặt ngoại giao đối với các triều đại phương bắc, mà phải chấp nhận một mối quan hệ giữa nước nhỏ và nước lớn đặc trưng của thời kỳ này. Đi cùng với biểu cầu phong là các đồ cống phẩm, tượng người vàng, bạc cho đến ấn tín, hổ phù đã bắt được của tướng giặc và các tù binh đã bắt được trong cuộc chiến.

Về phía vua Minh, mặc dù thừa biết rằng những lời lẽ trong tờ biểu là không thật lòng, nhưng lại xét rằng một là quân tướng Lam Sơn đã biết giữ thể diện cho Minh triều, hai là nước Minh vừa chịu hao binh tổn tướng khá nhiều, nên vẫn phải xem xét kỹ lưỡng.

Lúc bấy giờ tại triều đình nước Minh lại diễn ra cuộc tranh cãi nảy lửa giữa hai phe chủ chiến và chủ hoà. Trương Phụ là người tiêu biểu cho phe chủ chiến.Viên tướng này trước sau nhất quán theo đuổi chính sách thẳng tay đàn áp, đuổi cùng giết tận những quân dân Việt dám chống lại ách đô hộ nước Minh. Trương Phụ đã tâu với vua Minh rằng: “Quân sĩ khó nhọc đến vài năm mới lấy được đất ấy, sao lại nghe lời xin xảo quyệt của Lê Lợi, xin cứ cho quân đi đánh”

Bọn đình thần nước Minh là Kiển Nghĩa, Hà Nguyên Cát cũng theo đó nói: “Không có danh nghĩa gì mà bỏ đất, chỉ để thiên hạ thấy sự suy yếu của mình”

Chỉ có Dương Sĩ Kỳ là danh sĩ nổi tiếng nước Minh thời bấy giờ bàn rằng: “Từ năm Vĩnh Lạc đến nay, quân mỏi mệt, dân cùng khốn, không gì bằng theo y lời xin của địch, có thể chuyện hoạ ra phúc được, vả lại vua Thành Tổ sơ tâm là lập con cháu họ Trần, đó là việc thịnh đức, sao lại bảo là vô danh? Đời Hán bỏ Châu Nhai, tiền sử cho là vinh, sao lại bảo là thị nhược ?”(theo Việt Sử Tiêu Án)

Lúc mà đình thần nước Minh thảo luận việc đánh hay hoà thì tin tức Liễu Thăng, Mộc Thạnh bại trận vẫn chưa về tới. Vua Minh Tuyên Tông vốn đã muốn hoà, nhưng vẫn trông đợi vào thắng lợi của quân tiếp viện. Có thể thấy rằng dù trong trường hợp nào, quân dân ta vẫn phải giành được thắng lợi trên thực địa trước khi nói đến chuyện ngoại giao với kẻ xâm lược. Đến khi tin Liễu Thăng bại trận, vong mạng về đến Yên Kinh (Bắc Kinh, Trung Quốc) ngay sau biểu cầu phong đến, thì vua tôi nước Minh mới phải chấp nhận rằng họ đã thua trong cuộc chiến này. Dù rằng tiềm lực của nước Minh vẫn còn nhiều, nhưng một khi thế quân Lam Sơn đã lên cao thì thiên binh vạn mã của nước Minh tiến sang cũng chỉ gây lầm than cho muôn dân, chứ hy vọng chiến thắng cho quân Minh vẫn là rất nhỏ. Vua Minh bèn theo đó sai người đem chiếu thư sang phong cho Trần Cảo làm “An Nam Quốc Vương”, chính thức khôi phục lại chủ quyền của  người Việt. Vua Minh yêu cầu việc triều cống của nước ta phải theo lệ thời vua Chu Nguyên Chương, nhưng kèm theo việc cống người vàng, lấy cớ là “đền mạng’ cho Liễu Thăng (!?)

Việc ngoại giao đã xong cũng là lúc vấn đề nội bộ cần giải quyết. Từ lúc nghĩa quân Lam Sơn phất cờ đánh đuổi quân Minh cho đến lúc thiên hạ đại định thì Bình Định vương Lê Lợi là người chỉ huy tối cao. Nhưng trên danh nghĩa, Trần Cảo vẫn là vua để tiện việc bang giao với phương bắc. Khi mọi sự đã yên ổn, quần thần đều không phục Trần Cảo, lòng chỉ hướng về Lê Lợi. Cảo lấy làm sợ nên bỏ trốn. Lê Lợi cho người đuổi bắt, rồi giết đi.

Sau đó, ngày 29.4.1428, Lê Lợi theo sự suy tôn của các quan văn võ, chính thức lên ngồi Hoàng đế, đặt niên hiệu là Thuận Thiên, kiến lập triều Lê, sử gọi là nhà Hậu Lê. Tên nước Đại Việt chính thức được khôi phục, thành Đông Quan được khôi phục lại tên cũ là thành Đông Đô, được chọn làm kinh đô nước Đại Việt mới. Lê Lợi, tức vua Lê Thái Tổ trong sách sử cho ban hành Bình Ngô Đại Cáo do Nguyễn Trãi thay mặt ngài soạn thảo để bố cáo cho muôn dân sứ mạng đánh đuổi giặc đã hoàn thành, đất nước đã được tái sinh. Từ đây, một nền thái bình thịnh trị được mở ra.

Quốc Huy

https://1.bp.blogspot.com/-wFe8UzSFYuQ/X_fVqLHcOdI/AAAAAAACQCo/O-9GdTPDMSQFpE8mzLzKoD9jlD9DToj_gCLcBGAsYHQ/w640-h462/136.jpg

15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO


Kỳ  137

CHIẾN LƯỢC VÀ CHIẾN THUẬT
CHỐNG QUÂN MINH CỦA LÊ LỢI [1]


Tìm hiểu Thế chiến thứ Hai cùng chiến tranh Triều Tiên, người nghiên cứu lịch sử khâm phục tướng Douglas MacArthur với chiến lược “tấn công nhảy cò” (Island hopping offences) tại các quần đảo Thái Bình Dương và cuộc đổ bộ tại hải cảng Inchon (Nhân Xuyên) Triều Tiên.

Năm 1942, sau khi nhận lệnh rời bán đảo Batan tại Philippines để đi đến Australia, tướng MacArthur hứa rằng sẽ trở lại giải phóng quần đảo này khỏi tay Nhật. Với chức vụ Tư lệnh quân đội Đồng minh vùng tây nam Thái Bình Dương, ông mở mặt trận phía bắc Australia, để rồi cuối cùng đổ bộ lên Philippines. Cuộc trường chinh có chiều dài hàng mấy ngàn cây số, kinh qua rất nhiều đảo nhỏ thuộc quần đảo New Guinea và Melanesia do quân Nhật chiếm đóng.

Nếu lần lượt tấn công để làm chủ tất cả các hải đảo này, quân đội Đồng Minh phải sử dụng rất nhiều quân, chấp nhận nhiều tổn thất và mất nhiều thời gian. Để tránh những khó khăn nêu trên, tướng MacArthur sử dụng lối hành quân “nhảy cò”. Ông chủ trương chỉ tấn công chiếm đóng các đảo quan trọng, rồi từ các đảo này dùng hải quân và không quân khống chế sự hoạt động của địch tại các đảo kế cận mà ông đã bỏ qua không cần chiếm đóng. Quyết định này rất hiệu nghiệm, vì chỉ dùng một lực lượng nhỏ cầm chân được lực lượng lớn của địch; dành thành phần sinh lực tiến nhanh lên phía bắc để giải phóng Philippines vào năm 1944.

Trong cuộc chiến tranh Triều Tiên vào năm 1950, ngôi sao của tướng MacArthur lại càng sáng chói qua cuộc điều binh đổ bộ vào Inchon. Lúc bấy giờ quân Bắc Triều Tiên đột ngột tấn công Nam Triều Tiên cho đến tận thành phố Pusan (Phú Sơn) phía nam, sắp sửa đánh bật quân đội Liên hiệp quốc ra khỏi bán đảo này. Sau khi Pusan được tăng cường và giữ vững, nếu như thường tình, từ đó dùng bàn đạp tấn công lên phía bắc, thì phải đổ rất nhiều xương máu và mất rất nhiều ngày tháng. Tướng MacArthur chọn giải pháp khác. Ông cho đổ bộ tại Inchon, gần thủ đô Seoul (Hán Thành), nơi địch quân ít ngờ nhất vì nước thuỷ triều nơi này lên xuống rất nhanh, rất hạn chế thời gian đổ bộ. Cuộc đổ bộ đạt được yếu tố bất ngờ, thành công nhiều mà ít tổn thất. Lực lượng tấn công “chẹn họng ” cắt ngang nước Triều Tiên và tái chiếm thủ đô Seoul. Quân Bắc Triều Tiên với số lượng rất lớn kẹt giữa Seoul và Pusan, hầu như không đánh mà tan.

Tại nước ta, trong quá trình giữ nước và mở mang bờ cõi, các danh tướng có tầm nhìn chiến lược cỡ Đại tướng MacArthur, không phải là không có. Chiến lược “nhảy cóc” tại Thái Bình Dương và “chẹn họng” gần thủ đô Seoul mà vị tướng này đã dùng; thì riêng tại nước ta trước đây gần 600 năm, vua Lê Lợi đã từng sử dụng chiến lược tương tự, tạm gọi là “nhảy cóc và chẹn đường tiếp viện”.

http://sohanews.sohacdn.c.../2016/7-1469522168790.jpg

I. CHIẾN LƯỢC
1.
NHẢY CÓC

Sau khi bao vây thành Nghệ An, vào cuối năm Ất Tỵ [1425] vua Lê Lợi nhận thấy quân tinh nhuệ của giặc đều đóng tại nơi này, lực lượng địch tại miền Bắc nhất định suy yếu. Ngài quyết định để một phần nghĩa quân cầm chân giặc tại Nghệ An, mang đại quân ra bắc tấn công vùng biên giới và uy hiếp thành Đông Quan [Hà Nội]. Nếu như một người tầm thường, lần lượt cho quét sạch quân địch trên đường tiến quân, thì mất không biết bao nhiêu ngày tháng; hơn nữa số quân địch bị tổn thất, sẽ có quân tiếp viện vượt biên giới sang tăng cường, thì chiến tranh còn lâu mới chấm dứt được. Bởi vậy trên đường tiến quân ra Bắc, nhà vua quyết định chỉ uy hiếp giặc co cụm lại trong thành, dùng lực lượng địa phương khống chế; rồi mang đại quân ra chẹn đường tiếp viện tại vùng gần biên giới.
Quyết định này rất hữu hiệu, phần lớn các đồn nhỏ của giặc không được tiếp tế khiến tinh thần quân lính suy sụp, lần lượt ra hàng. Riêng thành lớn như Nghệ An do Đô đốc Thái Phúc chỉ huy, cuối cùng cũng phải bỏ. Trong một văn bản của triều đình nhà Minh kết tội viên tướng này, tiết lộ rằng y rút quân từ thành Nghệ An đến sông Phú Lương [Hồng Hà], rồi bị đánh phải xin hàng, cuối cùng y hợp tác với nghĩa quân, đi chiêu hàng quân nhà Minh tại các thành.

Ngày 20 tháng 5 năm Tuyên Đức thứ 3 [2/7/1428]
… Chu An từ Chỉ huy Thiêm sự vệ Chấn Vũ được điều đi đánh giặc họ Lê, cải nhiệm tiền vệ Giao Chỉ, trấn thủ Nghệ An. Gặp lúc giặc Lê Lợi lộng hành, Đô đốc Thái Phúc triệu các tướng đến bàn:
“Nay tại đây thiếu lương thực, khó khăn, nên không thể giữ được, hãy thu thập về Đông Quan.”
Tất cả đều đồng ý. Riêng Thiên hộ Bảo Tuyên lĩnh binh hơn 100 tên chạy đến trại giặc. An đốc suất kẻ dưới quyền, cùng quân dân vệ Diễn Châu trở về thành Đông Quan. Đi đến sông Phú Lương gặp giặc; vì binh ít, yếu nên bị giặc bắt. Phúc bị giặc bức bách, lệnh đến các thành dụ các chỉ huy thành ra hàng… [1]
Ngay tại thành Thanh Hoá, các viên chỉ huy gan lỳ như La Thông, Đả Trung cũng đành thụ động, lo phòng thủ trong thành mà thôi:
Ngày 5 tháng 12 năm Tuyên Đức thứ nhất [2/1/1427]
Ngày hôm nay giặc họ Lê đánh châu Thanh Hoá không hạ được, bèn rút đi.

Trước đó, từ khi thất bại tại Ninh Kiều Thành Sơn hầu Vương Thông không còn vững lòng như trước, tự tiện cho Lê Lợi cai quản từ Thanh Hoá trở vào nam, truyền hịch cho quan quân tại nơi này rút về thành Đông Quan. Riêng châu Thanh Hoá không chịu nghe lệnh. Trước kia Lê Lợi đánh Thanh Hoá, Tri châu La Thông, Chỉ huy Đả Trung suất quân dân kiên thủ, có lúc mang quân đánh núi đất, sát thương giặc nhiều, thế giặc bớt căng thẳng. Lúc này hịch tới, người trong thành kinh sợ. Thông nói với Trung rằng, bọn chúng ta chống cự, mấy lần đánh bại giặc, ra khỏi thành thì không sống được; nay tại đây thành cao, hào sâu, lương nhiều, dân đông; so với việc chịu trói, chi bằng tận trung mà chết, mà chưa chắc đã chết đâu! Bọn [Vương] Thông bán thành cho giặc, lệnh này không thể theo được.” Rồi cùng với Trung tưởng lệ quân sĩ, giữ thành vững thêm; giặc đánh không hạ được, bèn bỏ đi. Khi Vương Thông bỏ Giao Chỉ, bọn [La] Thông cũng trở về kinh đô.

2.
CHẶN ĐƯỜNG TIẾP VIỆN

Con đường tiếp viện chính của quân Minh lúc bấy giờ về phía Vân Nam theo hướng thượng lưu sông Hồng, sông Lô; về phía Quảng Đông, Quảng Tây theo hướng Lạng Sơn, Bắc Giang. Toàn thư ghi lại những nỗ lực của nghĩa quân ngăn chặn đường tiếp viện tại các vùng này như sau:

“Mùa thu tháng 8, vua cho là quân tinh nhuệ của giặc đều ở Nghệ An cả, các xứ Đông Đô của chúng nhất định suy yếu, bèn tăng thêm binh tượng, sai bọn Khu mật đại sứ Phạm Văn Xảo, Thái uý Lê Triện, Thái giám Lê Khả, Á hầu Lê Như Huân, Lê Bí đem hơn 3.000 quân, 1 thớt voi đi tuần tại các xứ Thiên Quan[Ninh Bình], Quảng Oai, Quốc Oai [Hà Tây], Gia Hưng [Sơn La], Quy Hoá [Lào Cai], Đà Giang, Tam Đái [Vĩnh Phúc], Tuyên Quang để cắt đứt đường viện binh của quân giặc từ Vân Nam sang. Bọn Thiếu uý Lê Bí, Thái giám Lê Khuyển đem 2.000 quân và 1 thớt voi đánh các xứ Khoái Châu, Bắc Giang, Lạng Giang để chặn viện binh từ Lưỡng Quảng tới.” [2]

Riêng Minh Thực lục ghi lại những cuộc giao tranh lớn tại vùng này như sau:
Văn bản ngày 12/11/1426 về cuộc giao tranh tại vùng Quảng oai [Hà Tây], Đô chỉ huy Tố Lượng bị bắt.

14/1/1427 nghĩa quân tấn công Ải Lưu Lạng Sơn, giết Bách hộ Hoàng Bưu.
7/4/1427 nghĩa quân vây Khâu Ôn, Lạng Sơn.
28/4/1427 nghĩa quân đánh tan đại đồn Xương Giang.
29/9/1427 nghĩa quân đánh tan đạo quân tiếp viện của Liễu Thăng tại Chi Lăng.

Với chiến thắng Xương Giang, rồi tiếp đến Chi Lăng đã dập tắt mọi nỗ lực chống cự của quân Minh. Cuối cùng thì Vương Thông thế cùng lực kiệt, không kịp đợi lệnh vua nhà Minh, tự tiện hội thề với vua Lê Lợi để xin rút quân về; chiến lược “nhảy cóc, và chặn đường tiếp viện” đã gặt hái thành công mỹ mãn.

http://truyencotich.vn/wp...012/10/le-loi-640x440.jpg

II. CHIẾN THUẬT

Nếu chiến lược là kế sách lớn chỉ đạo toàn cuộc chiến, thì chiến thuật giúp đạt những mục tiêu, từng bước hỗ trợ cho chiến lược; bởi vậy thiên tài quân sự cần giỏi cả hai: chiến lược lẫn chiến thuật. Sau đây xin nêu lên những chiến thuật căn bản, được thi triển trong cuộc kháng chiến chống quân Minh:
1.
Xua cọp ra khỏi núi

Hãy dùng bản đồ tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh. Lưu ý đến ngã ba sông Lam và sông La, cách Vinh khoảng trên 10 km; có một núi thấp mà người địa phương gọi là Rú Thành; đó là thành Nghệ An xưa, thời nhà Minh đóng quân tại đó. Thành này vây bọc bởi hai sông Lam, La; thành cao, hào sâu, ở vị thế cao khống chế các vùng xung quanh; không dễ gì tấn công được. Quân Minh đóng trong thành này, có lợi thế như cọp sống trong rừng.

Ngược theo dòng sông Lam khoảng hơn một trăm cây số là huyện Tương Dương, thuộc tỉnh Nghệ An; nơi này thời thuộc Minh gọi là châu Trà Long [Lân], do viên Thổ quan trung thành với nhà Minh là Cầm Bành đóng quân. Áp dụng chiến thuật “xua cọp ra khỏi núi“, nghĩa quân bao vây và tấn công Trà Long trong thời gian dài, quân Minh như cọp trong thành Nghệ An, buộc phải đi tiếp cứu, hoặc tìm cách chiếm lại sau khi thành mất. Nhìn trên bản đồ, con đường tiếp cứu của quân Minh ắt phải đi dọc theo sông Lam; hoặc muốn tránh né thì đi ngược dòng sông Phố, theo ngã Hương Sơn, Hà Tĩnh; rồi băng qua các huyện Thanh Chương, đến huyện Tương Dương. Lịch sử ghi nhận rằng quân Minh đã đi qua những chiến trường do vua Lê Lợi chọn lựa, chúng như con cọp ra khỏi rừng, nên bị thảm bại nhiều lần trên các tuyến đường này.

Sử nước ta, Toàn thư, lần lượt chép những chiến thắng như sau:
Tháng 9 năm Giáp Thìn [1424], nghĩa quân phục kích gần thành Trà Long, chém Đô ty Trần Trung và hơn 2.000 tên giặc. Ngày hôm sau đánh quân của Sư Hựu, chém hơn 1.000 tên.
Tháng 12 cùng năm, nghĩa quân chặn giặc tại Đỗ Gia [huyện Hương Sơn].
Tháng 12 cùng năm, nghĩa quân phục kích tại Khả Lưu [huyện Anh Sơn]; quân Minh bị chém hoặc chết trôi hàng vạn tên. Hôm sau lại tiếp tục phục kích tại Bồ Ải [huyện Anh Sơn], giết hàng ngàn giặc, rồi tiếp tục xua đuổi đến tận thành Nghê An.

Để tránh thiên kiến, chúng tôi xin tham khảo thêm Minh Thực lục. Trong một chiếu dụ trách phạt bọn Trần Trí, Phương Chính, Sơn Thọ về việc thất bại tại Trà Long, vua Tuyên Đức nhà Minh đã có lời lẽ nghiêm khắc như sau:

Ngày 5 tháng 3 năm Tuyên Đức thứ nhất [12/4/1426]
Quan Tổng binh Giao Chỉ Vinh Xương bá Trần Trí, Đô đốc Phương Chính đánh dẹp bọn giặc Lê Lợi; tiến quân đến châu Trà Long, bị thua. Nguyên nhân Chính dõng, Trí khiếp nhược, vốn không hoà thuận với nhau; Nội quan Sơn Thọ lại chủ trương chiêu dụ nên đóng binh một chỗ không cứu, đến nỗi bị bại. Thượng thư Trần Hiệp tâu cho biết; Thiên tử nghiêm thiết trách Trí và Chính rằng:

“Giặc Lê Lợi vốn chỉ là tên nhãi con, nếu sớm tận tâm đánh bắt, thì dễ như nhặt một cọng lá; rồi các ngươi ngồi yên không lo tính, dưỡng giặc nên trở thành mối hoạn. Nay nghe tin mang binh tới ải Khả Lưu và châu Trà Lung [Long], cả hai nơi đều nhục vì tổn thất. Do bọn ngươi ngày thường dựa vào ý riêng tranh hơn thua, không ai chịu nhường; lúc đụng việc thì kẻ dõng tiến quân một mình nhưng vô mưu; người khiếp nhược thì sợ co lại không cứu; như vậy thì làm sao thành công được? Luận tội há có thể tha được ư! Nay tạm khoan dung, các ngươi ngày đêm hãy đồng tâm hiệp lực, luyện tập sĩ tốt tinh nhuệ, lo diệt giặc này để chuộc lỗi trước.”… [3]

Có thể bạn đọc nêu ý kiến rằng: nếu biết con đường tiến quân tới Trà Long gay go như vậy, thì đừng tiến! Xin thưa rằng đó là lệnh vua nhà Minh; bậc tướng giỏi như vua Lê Lợi đã tiên liệu sẵn ý định của đối phương, nên chọn sẵn chiến trường dành cho họ.

Ngày 16 tháng 7 nhuần năm Hồng Hy thứ nhất [29/8/1425]
Tuần án, Giám sát, Ngự sử Giao Chỉ tâu đầu đảng giặc Lê Lợi tại phủ Thanh Hoá tụ dân làm loạn vây châu Trà Lung [4] . Viên Thổ quan coi châu Tri phủ Cầm Bành chống giữ trong vòng 7 tháng, lương gần hết, quân gặp nguy khốn, xin mang binh cứu viện.

Thiên tử xem tờ tâu bùi ngùi sắc dụ Vinh xương bá Trần Trí cùng ba ty [5] tại Giao Chỉ rằng:

“Triều đình mệnh các ngươi trấn thủ Giao Chỉ là để yên ổn một phương; nay được biết bọn đầu đảng Lê Lợi cướp phá châu huyện, ngăn cắt đường sá. Các ngươi mới đây tâu rằng đã chiêu dụ Lê Lợi xin đợi mùa thu mát đến Thanh Hoá nhậm chức. Nay đã mùa thu rồi, thực sự Lợi đã đến nhậm chức chưa? Trẫm ước tính tên giặc này nguỵ trá, không có lòng qui thuận; chỉ dùng lời lẽ để hoãn binh để bọn chúng được thung dung tụ tập, tương lai tất gây hậu hoạn, các ngươi không suy nghĩ đến hay sao? Về việc Thổ quan Tri phủ Cầm Bành tại châu Trà Lung bị Lợi đánh vây 7 tháng nay rồi, lương thảo sắp hết, quân chết đến một phần ba, Bành vẫn kiên thủ cự địch, Giao Chỉ có được người như vậy cũng không dễ kiếm! Các ngươi từng chứng kiến lòng trung thành của con người này, sao không điều binh cứu viện?
Khi sắc dụ đến nơi, như thấy Lê Lợi không có bụng quy thuận hãy tìm cánh đánh bắt. Gấp phát binh tiếp viện Cầm Bành, vỗ về hậu hỹ, để bồi dưỡng lòng kiên cường trung thuận. Các ngươi đều là đại thần của triều đình, cần đồng tâm hiệp lực làm tròn uỷ nhiệm, đừng lo việc ban thưởng phong tước không được công bằng!” [6]

Những chiến thắng trên con đường huyết mạch từ thành Nghệ An đến châu Trà Long ngoài giá trị về phương diện quân sự, riêng về mặt nhân tâm cũng có tác động rất mạnh. Người dân vốn ghét quân Minh, nhưng vì sự bạo tàn của chúng, trước đó còn e dè. Nay thấy trước mắt thành quả chiến thắng, người người đều phấn khởi ủng hộ. Toàn thư chép việc dân huyện Thổ Du [huyện Thanh Chương, Nam Đàn ngày nay] mang trâu rượu đến khao quân, Thổ quan Cầm Quý mang quân đến giúp như sau:

“Mùa xuân tháng giêng, vua đem quân đến hương Đa Lôi, huyện Thổ Du, trấn Nghệ An. Già trẻ tranh nhau đem trâu rượu đến đón và khao quân. Mọi người đều nói:

“Không ngờ ngày nay lại được trông thấy uy nghi của nước cũ.”

Tri phủ châu Ngọc Ma là Cầm Quý đem hơn 8.000 quân và hơn 10 con voi đến giúp.” [7]

Có thể nói quân của Bình định vương Lê Lợi như cậu bé Phù Đổng, thực sự vươn vai lớn mạnh, ngay tại vùng đất Nghệ An.

https://1.bp.blogspot.com/-DmYfhGql3xU/X_iFA7walyI/AAAAAAACQCw/PeuVSGOPB5Yo8uBng3mzQSbz_8r-ihkWQCLcBGAsYHQ/w576-h640/105-LL.jpg

15.00
Chia sẻ trên Facebook

Trang trong tổng số 31 trang (306 bài viết)
Trang đầu« Trang trước‹ ... [11] [12] [13] [14] [15] [16] [17] ... ›Trang sau »Trang cuối