Trang trong tổng số 32 trang (311 bài viết)
Trang đầu« Trang trước‹ ... [13] [14] [15] [16] [17] [18] [19] ... ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Poet Hansy

Kỳ 147

CHUYỆN MỘT ĐẾ QUỐC BIẾN MẤT
TRƯỚC KHI NGƯỜI VIỆT ĐẶT CHÂN TỚI


Nam bộ là vùng lãnh thổ quan trọng với những trọng điểm kinh tế lớn của nước Việt Nam hiện đại. Trên vùng đất này, thuở xưa đã trải qua nhiều cuộc bể dâu dời đổi. Đó là một câu chuyện dài, mà điểm khởi đầu là vương quốc Phù Nam.

Đây là quốc gia của những cư dân văn hoá Óc Eo thuộc chủng Malayo-Polinesien. Quốc gia này xuất hiện vào khoảng đầu công nguyên, tương ứng với điểm khởi đầu của nền văn hoá Óc Eo mà khảo cổ học đã khám phá được. Phù Nam ban đầu là những thành ấp tự trị cùng chia sẻ chung một nền văn hoá. Người Phù Nam có tục cởi trần hoặc khoả thân, để tóc xoã hoặc búi cao, xăm hoặc vẽ mình. Cư dân nơi đây có lối sống phóng túng. Người Phù Nam có tín ngưỡng đa thần và tiếp thu nhiều yếu tố Phật giáo. Vào thế kỷ thứ 1 sau công nguyên, một trong những thành ấp lớn nhất trong xứ là Koh Thlok được lãnh đạo bởi một nữ hoàng mà theo sử sách Trung Hoa chép lại có tên là Liễu Diệp, có sức khoẻ như đàn ông.

Bấy giờ có một vị quý tộc từ Ấn Độ tên là Hỗn Điền thuộc dòng dõi Kaudinya đem một hạm đội viễn chinh khoảng 1.000 quân đến đánh chiếm Koh Thlok. Liễu Diệp đem quân chống cự bị bất lợi, phải chịu đầu hàng người Ấn. Hỗn Điền chấp nhận sự đầu hàng này và cưới Liễu Diệp làm vợ. Sau đó, Hỗn Điền tiếp tục dùng binh và ngoại giao bắt các thành ấp khác phải quy phục, lập nên một vương quốc thống nhất.

Sự kiện thành lập vương quốc Phù Nam là dấu mốc tập hợp những cư dân Óc Eo thành một cộng đồng thống nhất. Kinh đô của Phù Nam là thành Đặc Mục (Vyadrapura). Theo đoán định từ tổng hợp các nguồn tư liệu, thành Đặc Mục thuở xưa nằm ở miền Tây Nam Bộ hoặc cực đông Campuchia, gần vịnh Thái Lan ngày nay.

Dưới triều đại Kaudinya, nước Phù Nam tiếp thu nhiều văn hoá Ấn. Có nền tảng văn hoá tốt, giỏi trị thuỷ và chiếm giữ một vị thế thuận lợi trong tuyến đường hàng hải cổ đại, Phù Nam nhanh chóng trở thành một quốc gia hùng mạnh và giàu có.

Theo các sách sử Trung Hoa, triều Kaudinya tồn tại khoảng 150 năm. Đến khoảng giữa thế kỷ thứ 2, dưới thời trị vì của vua Hỗn Bàn Bàn, chính sự chịu sự thao túng bởi vị tướng tên là Phạm Mạn. Sau khi vua Hỗn Bàn Bàn qua đời, người trong nước tôn Phạm Mạn làm vua, mở ra triều đại mới. Chữ Phạm theo âm Hán Việt thực chất là phiên âm từ chữ Varman trong ngôn ngữ các nước Ấn hoá, có nghĩa là vua. Vì vậy, cái tên Phạm Mạn trong sử cũ không phải là phiên âm từ tên thật, mà là phiên âm từ danh xưng của vị vua này sau khi đã lên ngôi.

Là một vị vua nhiều tham vọng, Phạm Mạn cho đóng thuyền lớn, cất quân đi thôn tính các quốc gia xung quanh. Quân Phù Nam biến 10 nước láng giềng thành thuộc địa. Lúc này, Phù Nam đã trở thành một đế quốc biển cả. Do đặc tính hướng biển, những nơi mà Phù Nam nhòm ngó và xâm chiếm là những vùng đất ven biển thuận lợi cho nông nghiệp trồng lúa nước và giao thương. Lãnh thổ Phù Nam mở rộng bao chiếm trọn vùng Nam Bộ Việt Nam, vùng đông nam Campuchia và bán đảo Malaysia ngày nay. Vương triều họ Phạm truyền đến đời vua Phạm Tầm tiếp thu ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa, bắt đầu sửa sang thể chế, xây dựng cung điện nhiều tầng lầu. Nhà vua hạ lệnh cho dân chúng bỏ tục ở trần hoặc khoả thân, bắt phải quấn vải khổ rộng (xà rông ).

Đến giữa thế kỷ thứ 4, Phù Nam được cai trị bởi vương triều Thiên Trúc Chiên Đàn (Chandan). Giai đoạn này Phù Nam phát triển ổn định và lãnh thổ tiếp tục được mở rộng thêm nhiều vùng thuộc lãnh thổ Campuchia ngày nay, vươn sang cả đồng bằng sông Mênam thuộc Thái Lan ngày nay. Trong lãnh thổ đế quốc Phù Nam, có nhiều sắc dân cùng chung sống. Tất nhiên là quyền lợi của họ không bình đẳng mà những dân chính quốc luôn được hưởng nhiều đặc quyền hơn nhưng dân thuộc quốc.

Vào thế kỷ thứ 5 một quý tộc thuộc dòng dõi Kaudinya tên là Kiều Trân Như được dân chúng suy tôn làm vua, lập ra vương triều Kaudinya II. Triều đại này càng tiếp thu nhiều văn hoá Ấn, lấy hai tôn giáo chính là Phật giáo và Bà La Môn làm nền tảng tư tưởng cho cả nước. Trong suốt nhiều năm, Phù Nam phát triển hưng thịnh, trở thành một trong những đế quốc hàng hải hùng mạnh nhất thế giới cổ đại, là cầu nối giữa các nền văn minh lớn thời bấy giờ là La Mã, Ba Tư ở phương Tây, và Ấn Độ, Trung Hoa ở phương Đông. Tuyến đường hàng hải từ Phù Nam là một trong những ngã đường du nhập Phật học vào Trung Hoa. Sử Trung Hoa các triều đại Đông Ngô, Tấn, Lương, Tuỳ, Đường… ghi chép rất nhiều lần phái đoàn Phù Nam sang “tiến cống”. Về bản chất, những chuyến đi “tiến cống” này là một dạng thương mại cấp nhà nước. Phái bộ của nước ngoài đến tặng “cống phẩm” của nước sở tại. Đổi lại, nhà vua cũng phải gửi lại những “tặng phẩm” để đáp lễ.

Trải qua nhiều thế kỷ hưng thịnh, Phù Nam gặp phải tai ương vào giữa thế kỷ thứ 6. Bấy giờ ở vùng mà ngày nay là miền Bắc nước Campuchia và Nam Lào, một thuộc quốc của Phù Nam là nước Chân Lạp của người Khmer bắt đầu quật khởi. Dòng vua mang họ Kshatrya đã tiến hành cuộc chiến giành độc lập cho dân tộc Khmer và ngày càng mở rộng phạm vi ảnh hưởng ra xung quanh. Trong lúc đó thì Phù Nam đang bị xáo trộn bởi cuộc tranh giành quyền lực giữa các hoàng tử, khiến thế nước suy sụp nhanh chóng. Nhân cơ hội, Chân Lạp lấn chiếm thêm nhiều vùng đất vốn trước đó thuộc quyền cai trị trực tiếp hoặc nằm trong hệ thống thuộc địa của vương quốc Phù Nam. Vào năm 550, vua Chân Lạp là Trì Đà Tư Na (Citrasena) dẫn quân thình lình tấn công kinh thành Đặc Mục của Phù Nam. Vua Phù Nam bấy giờ là Lưu Đà Bạt Ma (Rudravarman) chống không nổi, phải bỏ kinh thành chạy sang thành Na Phất Na (Navanagara). Thành Đặc Mục (Vyadrapura) là trung tâm của nước Phù Nam với nhiều di sản, của cải trọng yếu của đất nước bị quân Chân Lạp đốt phá tan hoang trong phút chốc. Từ đó, vương quốc Phù Nam suy sụp không còn gượng dậy nổi. Các phụ thuộc của Phù Nam dần ly khai và bản thân chính quốc bị người Chân Lạp lấn chiếm dần. Cho đến khoảng thế kỷ 7, nước Phù Nam hoàn toàn bị xoá sổ và bị sáp nhập vào nước Chân Lạp.

Chưa dừng lại ở đó, số phận của cư dân Phù Nam cổ không chỉ là trở thành một phần của đất nước mới mà còn bị bi thảm hơn. Những người Khmer tuy chiến thắng được Phù Nam bằng quân sự nhưng không đủ năng lực để duy trì khả năng khai thác lãnh thổ như trước. Người Khmer không giỏi trị thuỷ, không có tập quán canh tác ở những vùng đồng bằng phù sa ven biển. Các vua chúa Chân Lạp sau khi tàn phá các thành phố của người Phù Nam thì dần bỏ mặc những vùng đất mới chiếm được. Mất đi sự quan tâm từ thượng tầng, người Phù Nam dần trở nên bất lực trong việc trị thuỷ và xây dựng những trung tâm thương mại, hàng hải như xưa. Đó là những việc đòi hỏi phải có sự đoàn kết toàn xã hội.

Trên lãnh thổ Phù Nam xưa thuộc vùng Nam Bộ ngày nay, vào khoảng thế kỷ thứ 8 trở đi được sử sách Trung Hoa gọi là vùng Thuỷ Chân Lạp, để phân biệt với vùng Lục Chân Lạp là đất căn bản của nước Chân Lạp. Trong khi vùng Lục Chân Lạp được khai thác mạnh mẽ thì Thuỷ Chân Lạp dần biến thành những vùng đầm lầy hoang phế. Thêm vào đó, người Java cất quân xâm lấn biến đất Thuỷ Chân Lạp trở thành bãi chiến trường của quân Khmer và quân Java suốt nhiều năm trời. Cuộc chiến làm cho nhiều người chết, nhiều nơi bị tàn phá càng trở nên hoang vắng. Nhiều trăm năm sau nữa, người Khmer lao vào các cuộc chiến triền miên với thế lực người Thái nổi lên ở phía tây và người Chăm ở phía đông. Việc thực thi chủ quyền trên đất Thuỷ Chân Lạp rất hạn chế. Đến khoảng thế kỷ 17 khi những người Việt đặt chân lên vùng đất này, ký ức về một nền văn minh rực rỡ thuở xưa đã quá nhạt nhoà. Chỉ còn lại thiên nhiên hoang dã với những cánh đồng hoang bất tận, đầm lầy và rừng rậm nguyên sơ thưa thớt bóng người.

Quốc Huy
15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Kỳ 148

NGƯỜI CHĂM HƯỞNG ỨNG
CUỘC KHỞI NGHĨA CỦA HAI BA TRƯNG
CHỐNG NHÀ HÁN


Vào năm 111 TCN, nhà Hán sau khi dùng vũ lực xâm lược Nam Việt thì tiếp tục xua quân tiến sâu xuống phương nam, chiếm thêm những vùng đất của những cư dân thuộc nền văn minh Sa Huỳnh, vốn bấy giờ vẫn chưa lập quốc.

Cho đến khoảng đầu công nguyên, người Sa Huỳnh đã bước vào thời đại đồ sắt, với các thành tựu văn minh không hề thua kém người Đông Sơn. Tuy nhiên, điều khác biệt là trong khi những chủ thể của văn minh Đông Sơn đã cùng nhau chung sống trong một quốc gia thống nhất hàng trăm năm thì cư dân Sa Huỳnh chưa có một nhà nước chung. Họ sống trong các thành ấp riêng biệt trải dọc dải đất ven biển miền trung Việt Nam ngày nay.
Những vùng đất phương nam cùng với đất đai bộ Việt Thường của nước Âu Lạc bị triều đình nước Hán gộp chung lại, đặt thành quận Nhật Nam có địa giới tương ứng với các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi ngày nay. Quận này gồm có 5 huyện là Tây Quyển, Chu Ngô, Tỷ Cảnh, Lô Dung, Tượng Lâm.

Chuỗi sự kiện này là những nguyên nhân gián tiếp và trực tiếp thúc đẩy những cư dân Sa Huỳnh cổ đại tiến tới thành lập nhà nước. Ban đầu, vốn là những thành ấp nhỏ không thống nhất về lực lượng, họ dễ dàng bị quân xâm lược phương bắc đánh bại và phải chịu nằm trong vòng kìm toả của đế chế Hán. Khi không còn tự do, tổ tiên người Chăm đã cùng với tổ tiên người Kinh Việt và những dân tộc khác vùng lên kháng cự mạnh mẽ để thoát khỏi ách đô hộ phương bắc. Tuy nhiên do điều kiện địa lý khác biệt, hiệu quả của những cuộc đấu tranh đó cũng khác nhau nhiều.

Bấy giờ vào năm 40 sau công nguyên, Trưng nữ vương Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị đã lãnh đạo quân dân Lạc Việt dấy binh khởi nghĩa. Chẳng những khôi phục lại chủ quyền cho người Âu Lạc, cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng còn được sự hưởng ứng của các tộc người láng giềng. Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép: “Các quận Nam Hải, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng”. Quận Nhật Nam đương thời tức là đất mà tổ tiên người Chăm cư trú. Sau khi Trưng nữ vương chiến thắng quân Hán thì giang sơn mà bà lập nên ngoài phần lớn vùng Lĩnh Nam (Quý Châu, Quảng Đông, Quảng Tây ngày nay), đất đai Âu Lạc cũ còn bao gồm cả đất của người Chăm sinh sống. Đất nước mà Hai Bà Trưng lập nên, sử gọi là nước Lĩnh Nam, có kinh đô là Mê Linh (thuộc Hà Nội ngày nay). Đó là lần đầu tiên, người Việt và người Chăm cùng đứng chung một chiến tuyến, cùng chung một chính thể, một đất nước.

Tiếc rằng, cơ nghiệp của Hai Bà Trưng không được bền lâu do đế chế Hán thời kỳ này đang rất hùng mạnh, dưới sự cai trị của Hán Quang Vũ Đế là một bạo chúa cực kỳ quyết tâm bành trướng. Cuộc chiến không cân sức giữa quân dân Lĩnh Nam và đế chế Hán kết thúc sau 3 năm. Trên khắp một vùng rộng lớn, tướng Hán là Mã Viện tiến hành việc đàn áp và trả thù vô cùng tàn bạo. Sau khi cuộc kháng chiến của Hai Bà Trưng thất bại, các sắc dân Lĩnh Nam lại trở lại thân phận “dân hạng hai” dưới sự cai trị của Hán triều. Trong vòng kìm toả khổng lồ ấy, rải rác vẫn nổ ra những cuộc phản kháng nhằm giành lấy tự do, nhân phẩm và lợi ích chính đáng của các sắc dân. Một trong những cuộc phản kháng ấy là phong trào giành độc lập của quân dân huyện Tượng Lâm (bao gồm Quảng Nam, Quảng Ngãi ngày nay), thuộc quận Nhật Nam.

Ở quận Nhật Nam nói chung và huyện Tượng Lâm nói riêng thời kỳ này là địa bàn sinh sống của nhiều nhóm sắc tộc. Trong đó có người Âu Lạc cũ và người Chăm hai nhóm sắc tộc chính. Do là vùng đất ở xa trung tâm đế chế, vùng phía nam quận Nhật Nam thường xuyên là nơi xảy ra xung đột mà quân đội nước Hán không thể nào điều động đủ nhân lực để bình định hoàn toàn. Năm 100 sau công nguyên, 3000 quân dân Tượng Lâm nổi dậy đốt phá dinh thự các quan cai trị người Hán. Đến năm 137, nhân dân Tượng Lâm đứng lên khởi nghĩa, đánh chiếm huyện lị, giết chết quan đô hộ. Theo sử Việt, lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa này là Khu Liên. Thực tế, tên gọi Khu Liên này không phải chỉ một nhân vật cụ thể, mà là danh xưng của một dòng thủ lĩnh người Chăm đương thời.

Ngay sau khi biết tin, viên Thứ sử Giao Châu là Phàn Diễn đã điều động quân binh hai quận Giao Châu, Cửu Chân đông 1 vạn người tiến xuống đánh dẹp. Trong đội quân này có nhiều người bản địa bị bắt đi lính cho nhà Hán. Khi được điều động, đại bộ phận binh sĩ đã chống lệnh không tiến quân. Phàn Diễn cố gắng đốc thúc, binh sĩ không phục bèn làm binh biến bao vây phủ lị. Phàn Diễn bị dồn vào thế nguy, phải điều động những lực lượng quân người Hán đến để giải vây và đàn áp. Cuộc chiến của các binh lính địa phương tuy thất bại những đã góp phần chia lửa cho nghĩa quân Khu Liên. Phàn Diễn mải loay hoay với nội tình quận Giao Châu, không thể rảnh tay mà điều động quân đông đi cứu viện cho quận Nhật Nam.

Sang năm 138, thanh thế của nghĩa quân Tượng Lâm ngày càng mạnh. Vua nước bấy giờ là Hán Thuận Đế Lưu Bảo triệu đình thần bàn bạc, định phát binh bốn châu Kinh, Dương, Duyện, Dự cả thảy 4 vạn quân đi đánh. Có viên quan là Lý Cổ can gián, nói rằng: “… Người các châu Duyện, Dự phải đi xa muôn dặm, chiếu thư thúc bách, tất phải bỏ trốn. Nam Châu [tức chỉ Giao Châu, tên gọi phần lãnh thổ nước ta dưới thời thuộc Hán] thì trời nắng nực, ẩm thấp lại thêm lam chướng dịch lệ, 10 phần phải chết đến 4, 5 phần. Đường xa muôn dặm, quân lính mỏi mệt, đến lúc tới Lĩnh Nam thì đã không kham nổi chiến đấu. Quân đi mỗi ngày 30 dặm mà Duyện, Dự cách quận Nhật Nam hơn 9 nghìn dặm, phải 3 trăm ngày mới đến. Tính lương một người ăn mỗI ngày 5 thăng, thì phải dùng đến 60 vạn hộc gạo, đó là không kể lương thực của tướng lại và lừa ngựa. Đặt quân ở đấy, chết chóc tất nhiều, đã không đủ quân chống giặc, lại phải bắt thêm. Thế là xẻo cắt lòng bụng để chắp vá cho chân tay …” (theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư).

Vua Hán nghe theo lời bàn, thôi không điều quân ở xa mà dùng quân ở hai quận Giao Châu, Cửu Chân giao cho hai tướng giỏi là Chúc Lương, Trương Kiều đi đánh, kết hợp với các chính sách chiêu an, mua chuộc. Những dân người Hán ở Nhật Nam đều phải dời sang trú ẩn ở Giao Châu. Quan tướng người Hán bắt đầu dùng nhiều tiền bạc, đất đai để chiêu mộ chính những người Chăm đánh lại đồng bào của mình. Tình hình từ đó biến chuyển thuận lợi cho quân Hán. Tuy nhiên, những nghĩa quân dưới sự lãnh đạo của các Khu Liên vẫn can trường chiến đấu suốt hàng thập kỷ, buộc quan quân nước Hán phải nhiều phen tăng viện nhưng vẫn không dẹp yên nổi.

Năm 190, nghĩa quân Tượng Lâm trở nên hùng mạnh. Khu Liên dẫn quân đánh chiếm quận lị, giết Thứ sử nước Hán là Chu Phù. Nước Hán bấy giờ phải bận rộn với những cuộc phản kháng ở khắp nơi. Những sắc dân phi Hán khắp vùng lãnh thổ Bách Việt, Âu Lạc cũ luôn chực chờ nổi lên khi có cơ hội. Điều đó buộc Hán triều phải duy trì quân đội rải rác khắp các xứ để phòng bị, buộc lòng phải chấp nhận bỏ mặc vùng đất xa xôi như Tượng Lâm. Sau khi đại thắng, nhân dân Tượng Lâm bấy giờ, chủ yếu là người Chăm, đã tôn Khu Liên làm vua. Huyện Tượng Lâm chính thức thoát khỏi vòng nội thuộc của đế chế Hán. Một quốc gia mới được hình thành với tên gọi Lâm Ấp.

Quốc Huy
15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Kỳ 149

CHUYỆN NƯỚC LÂM ẤP CỔ
VÀ CUỘC CHIẾN CHỐNG HÁN, NGÔ, TẤN…


Trong hàng thế kỷ, các vị vua Lâm Ấp đã tiến hành nhiều cuộc chiến lớn nhỏ để bảo vệ và bành trướng lãnh thổ cả về phương bắc lẫn phương nam. Biên giới Lâm Ấp tuỳ theo lúc thịnh suy mà liên tục co duỗi.

Cuối thế kỷ thứ II, sau nhiều năm bền bỉ chiến đấu, người Chăm đã cuối cùng đã thoát khỏi được ách đô hộ phương bắc để lập nên nước Lâm Ấp. Chiến thắng này bên cạnh nguyên nhân chủ quan là ý chí kiên cường của nhân dân huyện Tượng Lâm thuộc Hán, còn nhờ vào những yếu tố khách quan là vị trí địa lý nằm xa trung tâm của đất Tượng Lâm và sự phản kháng của những dân tộc khác trong đế chế Hán đã góp phần kìm chế quân Hán không cho chúng có điều kiện đưa quân xuống phương nam xa xôi.

Nước Lâm Ấp có nền tảng là văn minh Sa Huỳnh cổ, ban đầu là một quốc gia có nhiều nét văn hoá tương đồng với nước Âu Lạc cũ và nước Hán. Từ khoảng thế kỷ thứ IV trở đi, nước Lâm Ấp bắt đầu quá trình Ấn hoá mạnh mẽ. Văn hoá Ấn Độ được Lâm Ấp tiếp thu từ nước láng  giềng Phù Nam và thông qua các hoạt động thương mại. Người Chăm theo miêu tả của người Trung Hoa có da đen, mũi cao, mắt sâu, tóc xoăn. Họ búi tóc và siêng tắm gội, thích dùng hương liệu khử mùi cơ thể. Y phục của họ may bằng vải bông, quấn từ lưng đến chân.

Một trong những nét chủ yếu nhất của lịch sử nước Lâm Ấp chính là chiến tranh với láng giềng. Lãnh thổ sơ kỳ của Lâm Ấp chỉ bao gồm huyện Tượng Lâm. Các đời vua Lâm Ấp luôn có tham vọng bành trướng lãnh thổ. Trong hàng thế kỷ, các vị vua Lâm Ấp đã tiến hành nhiều cuộc chiến lớn nhỏ để bảo vệ và bành trướng lãnh thổ cả về phương bắc lẫn phương nam. Biên giới Lâm Ấp tuỳ theo lúc thịnh suy mà liên tục co duỗi.

Năm 248, lợi dụng việc Bà Triệu khởi binh chống Đông Ngô, quân Lâm Ấp chiếm trọn quận Nhật Nam và tràn vào tận quận Cửu Chân. Sau đó, quân Ngô dưới sự chỉ huy của tướng Lục Dận đánh bại được Bà Triệu. Nhân đà thắng, Lục Dận tiến đánh quân Lâm Ấp, buộc quân Lâm Ấp phải rút lui về phần đất cũ trước cuộc chiến.

Năm 270, vua Chăm là Phạm Hùng lên ngôi bắt đầu cuộc chiến thu phục các thành ấp dọc duyên hải miền trung. Lãnh thổ Lâm Ấp bấy giờ nhanh chóng mở rộng về phương nam. Kế đến, Phạm Hùng kết liên minh với Phù Nam và cho quân lấn lên phía bắc, chiếm đất đến bắc sông Gianh (thuộc Quảng Bình ngày nay), cho dựng thành Khu Túc làm nơi phòng thủ. Quân Lâm Ấp giao tranh với quân Tấn hàng mấy năm ròng hòng chiếm thêm đất đai. Đến năm 282, quân Lâm Ấp bị quân Tấn dưới sự chỉ huy của tướng Đào Hoàng đánh bại, Phạm Hùng chết trong chiến trận. Quân Lâm Ấp lui về nam. Con Phạm Hùng là Phạm Dật lên nối ngôi. Năm 284, Phạm Dật sai sứ hoà nghị với Tấn, hai bên hoà bình được hơn nửa thế kỷ.
Năm 331, vua Phạm Dật chết không có con nối. Tể tướng là Phạm Văn soán ngôi làm vua.

Dưới triều Phạm Văn, quân đội Lâm Ấp được cải tổ trở nên hùng mạnh hơn trước. Quân số được biên chế khoảng 4-5 vạn người chia làm bộ binh và thuỷ binh. Vũ khí có gươm, giáo làm bằng sắt tốt, cung nỏ làm bằng tre. Tượng binh Lâm Ấp có đến hàng ngàn con voi chiến. Vua Phạm Văn cho xây dựng kinh thành mới là thành Phật Thệ (Kandapurpura, thuộc Huế ngày nay). Từ năm 336 đến năm 340, quân Lâm Ấp tiếp tục nam tiến, thu phục thêm nhiều thành ấp. Lãnh thổ Lâm Ấp bấy giờ bành trướng đến xứ Cattigara (tương ứng vùng Bà Rịa-Vũng Tàu ngày nay), tiếp giáp trực tiếp với nước Phù Nam. Do bấy giờ Lâm Ấp và Phù Nam đang liên minh nên không tiện xâm lấn, Phạm Văn quay mũi giáo sang hướng bắc để tiếp tục tham vọng mở mang bờ cõi. Quân Lâm Ấp bắc tiến, chiếm trọn đất đai quận Nhật Nam, giết tướng nước Tấn là La Hầu Lãm, lấy dãy Hoành Sơn làm ranh giới với nước Tấn.

Năm 349, Phạm Văn bị thương trong một trận đánh và chết sau đó. Con ông là Phạm Phật lên nối ngôi tiếp tục cuộc chiến đẫm máu với nước Tấn. Phạm Phật tung quân tiến vây thành Cửu Chân khiến quân Tấn khốn đốn. Năm 353, quân Tấn dưới sự chỉ huy của tướng Nguyễn Phu  bắt đầu phản công, từng bước đánh đuổi quân Lâm Ấp chạy dài, hạ hơn 50 luỹ. Năm 372, trước thế mạnh của quân Tấn, Phạm Phật phải cầu hoà và xin triều cống. Biên giới Lâm Ấp lùi về bờ nam sông Nhật Lệ (thuộc Quảng Bình ngày nay).

Năm 399, Lâm Ấp bấy giờ dưới sự cai trị của con trai Phạm Phật là Phạm Hồ Đạt trở nên hưng thịnh lại tung quân bắc tiến. Lần này, quân Lâm Ấp chiếm luôn cả quận Nhật Nam và quận Cửu Chân, tiến vào cướp phá Giao Châu. Đỗ Viện dẫn quân Giao Châu chặn được quân Lâm Ấp, Phạm Hồ Đạt rút quân về giữ đèo Ngang. Năm 413, Phạm Hồ Đạt sai quân đánh cướp quận Cửu Chân, tướng Tấn là Đỗ Tuệ Độ đánh lui, chém được tướng Lâm Ấp. Năm 415, quân Lâm Ấp lại dong thuyền ra đánh Giao Châu rồi rút về.

Năm 420, ở chính quốc triều đình nhà Tấn đã suy yếu nhưng Giao Châu dưới sự cai trị của thứ sử Đỗ Tuệ Độ lại giàu mạnh. Đỗ Tuệ Độ dẫn quân tiến đánh nước Lâm Ấp với quy mô lớn. Quân Lâm Ấp đánh với quân Tấn bị thua to, chết đến quá nửa. Triều đình Lâm Ấp vì thế phải xin hàng phục, Tuệ Độ thuận cho vì tình hình chính quốc đang bất ổn không thể đánh dứt điểm được. Trong năm này, nước Tấn bị diệt. Lãnh thổ Trung Hoa phân rã, nhà Lưu Tống lên thay Tấn cai trị Giao Châu.

Năm 431, Lâm Ấp bấy giờ có vua mới là Phạm Dương Mại nhân tình thế phương bắc rối ren đã tung quân đánh Cửu Chân. Thừa thế thắng, vua Lâm Ấp lại cho sứ sang Lưu Tống “xin” đất Giao Châu. Tất nhiên, vua Lưu Tống từ chối với cớ là đường xá xa xôi. Chẳng những vậy, vua Lưu Tống Văn Đế còn ngấm ngầm lập mưu trả đũa Lâm Ấp.

Năm 436, vua Lưu Tống sai tướng Đàn Hoà Chi đem quân đánh Lâm Ấp, Phạm Dương Mại chống không nổi phải bỏ cả kinh đô mà chạy. Quân Lưu Tống thả sức cướp bóc vàng lụa, châu báu. Tuy nhiên, quân Lưu Tống không đủ khả năng chiếm đóng lâu dài mà phải rút lui sau đó. Phạm Dương Mại dẫn quân trở về kinh đô Phật Thệ điêu tàn, lãnh đạo quân dân khôi phục lại đất nước. Lãnh thổ Lâm Ấp bị lùi sâu về nam, đến huyện Lô Dung (thuộc Thừa Thiên-Huế ngày nay). Đến năm 446, vua Phạm Dương Mại chết. Lâm Ấp sau đó rơi vào thời kỳ loạn lạc kéo dài.

Năm 541, Lí Bí đánh đuổi được quân Lương, làm chủ toàn bộ Giao Châu. Hai năm sau, năm 543 vua Lâm Ấp là Rudravarman I dẫn quân xâm lấn. Lí Bí sai tướng Phạm Tu đi đánh. Hai quân đụng trận tại quận Cửu Đức, vua Lâm Ấp thua chạy trước quân của Phạm Tu. Sau thắng lợi, Lí Bí xưng đế, dựng nước Vạn Xuân vào năm 544. Từ năm này về sau Lâm Ấp tạm yên mặt bắc do cuộc chiến kéo dài giữa nước Vạn Xuân với nhà Lương và chiến tranh Nam-Bắc triều khiến cho các quốc gia phía bắc Lâm Ấp xao nhãng phương nam. Thế nhưng Lâm Ấp không tận dụng được quãng thời gian này để đoàn kết lực lượng và khôi phục sức mạnh. Bởi thế, họ đã phải trả giá.

Đầu thế kỷ thứ VII, nước Tuỳ thống nhất được vùng Trung Nguyên, kết thúc cục diện Nam Bắc triều ở Trung Hoa. Nhà Tuỳ ngay sau đó liền tính đến chuyện nam chinh. Năm 602, tướng Tuỳ là Lưu Phương đem quân 27 doanh đi đánh nước Vạn Xuân, vua Hậu Lý Nam Đế phải chịu đầu hàng. Kế đến, nhà Tuỳ nghe tiếng Lâm Ấp có nhiều vàng bạc châu báu nên dẫn quân đánh xuống vào năm 605. Quân Lâm Ấp dưới sự lãnh đạo của vua Phạm Phạn Chí (Sambhuvarman) đã chống cự kiên cường nhưng không chống nổi quân Tuỳ thiện chiến. Kinh đô Phật Thệ bị mất vào tay giặc. Lần này nước Tuỳ đóng quân chiếm hẳn đất đai Lâm Ấp. Trong sử sách Việt và Trung Hoa kể từ đây coi như nước Lâm Ấp đã bị diệt vong. Đánh giá về nguyên nhân diệt vong của quốc gia này, dù có nhiều ý kiến trái chiều nhưng tựu chung lại, các sử gia cho rằng nước Lâm Ấp chỉ chăm vũ lực mà không lo củng cố nội trị. Đến khi bên ngoài thì gây oán với nước lớn hơn mình gấp hàng chục lần, bên trong thì nội bộ không đồng nhất nên chuốc lấy bại vong.

Thế nhưng lịch sử người Chăm chưa kết thúc mà chỉ sang một trang mới. Vua Phạm Phạn Chi sau khi bại trận lui về giữ xứ Amaravati (gồm Quảng Nam và Quảng Ngãi ngày nay), cùng với phần đất còn lại ở phía nam tiếp tục duy trì đất nước. Ông đóng đô tại thành Trà Kiệu (Simhapura), là kinh đô thứ hai của người Chăm sau thành Phật Thệ. Đây là giai đoạn quá độ trong sử Chăm từ thời kỳ Lâm Ấp sang thời kỳ Chiêm Thành (Champa).

Quốc Huy
15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Kỳ 150

QUỐC GIA CỔ HOÀN VƯƠNG Ở MIỀN TRUNG
VÀ QUÁ TRÌNH NAM CHINH, BẮC CHIẾN


Cuộc chiến đẫm máu với quân đội nhà Tuỳ năm 605 đã khiến nền tảng của nước Lâm Ấp bị lung lay tột độ. Nước Lâm Ấp bị mất đi thành Phật Thệ (Kandapurpura) cùng với phần lãnh thổ quan trọng ở phía bắc. Lưu Phương chẳng những chiếm đóng thành Phật Thệ mà còn xua quân cướp phá kinh thành Sư Tử (Simhapura) khiến vua Lâm Ấp bấy giờ là Phạm Chí ( hay Phạm Phạn Chi tức Sambhuvarman) phải bỏ thành chạy, quân dân người nước Lâm Ấp thương vong không thể kể xiết. 10 năm sau, nhà Tuỳ suy yếu, Phạm Chí đem quân chiếm lại được thành Sư Tử. Một vài năm sau nữa, người dân Lâm Ấp nổi dậy chiếm lại thêm một số phần đất đã mất khi nhà Tuỳ sụp đổ. Tuy nhiên, triều đình Lâm Ấp đã không còn giữ được sự thống nhất của đất nước nữa.

Các tiểu vương ở các xứ vừa bất mãn triều đình, vừa nhân cơ hội triều đình suy yếu mà nổi lên tự giữ lấy đất đai. Lâm Ấp từ đó bước vào thời kỳ phân liệt. Mãi sang thế kỷ thứ VIII, xứ Panduranga trở nên hùng mạnh và khuất phục được các xứ còn lại. Tiểu vương xứ Panduranga là Bhadravarman II sau khi thống nhất đất nước đã lên ngôi, xưng là Prithi Indravarman vào năm 758. Quốc hiệu mà nhà vua đặt cho đất nước mình là Champa (hoặc Campa), và nhiều khi cũng tự xưng quốc hiệu là Panduranga vốn là tên lãnh địa của mình. Sử sách Trung Hoa từ đây trở đi gọi Lâm Ấp là “nước Hoàn Vương”. Kinh đô của nước này sau đó được dời từ Simhapura sang kinh thành mới là thành Hùng Tráng (Virapura, thuộc Ninh Thuận ngày nay).

Thời kỳ nước Hoàn Vương, văn hoá Ấn vốn được người Panduranga tiếp thu mạnh mẽ từ nước Phù Nam xưa kia, nay được lan truyền mạnh mẽ khắp cả nước khiến cho người dân tại đây vốn đã trải qua những giai đoạn Ấn hoá, nay lại càng Ấn hoá nhiều hơn. Điều này dẫn đến việc người Hoàn Vương dứt bỏ hoàn toàn lớp áo của văn hoá Hán, chính thức bước vào hàng ngũ những nước theo văn minh Ấn Độ. Cùng với đó, những bản sắc từ thời kỳ cổ đại vẫn tồn tại và duy trì.

Các vua Hoàn Vương không còn giữ thái độ hiếu chiến với phương bắc như trong thời kỳ Lâm Ấp mà chủ động kết bang giao với đế quốc Đường. Đây là một trong những nền tảng hưng thịnh cho nước Hoàn Vương. Thế nhưng thế kỷ VIII là thời mà hai thế lực hiếu chiến khác vươn lên mạnh mẽ. Người Khmer sau khi diệt nước Phù Nam vẫn tiếp tục đà bành trướng, luôn chực chờ đánh cướp Hoàn Vương từ hướng tây và hướng nam. Ngoài phía biển, người Java (thuộc Indonesia ngày nay) dưới triều các vị vua Cailendra luôn coi mình là vua của thiên hạ và tìm cách đứng chân trên đất liền. Nhà Cailendra luôn nhòm ngó những vùng đất duyên hải giàu có của Hoàn Vương. Đó quả thực là những mối đe doạ thường trực và nghiêm trọng.

Năm 774, quân đổ bộ cướp phá hai xứ Kauthara và Panduranga. Vua Prithi Indravarman chết trong chiến trận khiến quân Hoàn Vương tan vỡ, các quý tộc Hoàn Vương phải chạy về vùng núi phía tây. Quân Java thả sức cướp phá các đền đài. Đền thờ Po Nagar, niềm kiêu hãnh của Hoàn Vương bị cướp đi rất nhiều tượng vàng, châu báu. Ngay sau đó, vị vua mới lên thay thế  là Satyavarman dựa vào sự hỗ trợ của các tộc người sơn cước đã tập họp lại lực lượng, tiến hành phản công. Quân Hoàn Vương cuối cùng đánh đuổi được quân Java, khôi phục lại các vùng đất đã bị chiếm và dùng thuỷ quân rượt đuổi quân giặc chạy dài trên biển.

Năm 787 vương quốc Java lại cất quân xâm lược nước Hoàn Vương. Quân Java tràn vào cướp phá kinh đô Virapura, bắt cóc phụ nữ và giết hại rất nhiều. Vua Indravarman I phải bỏ kinh thành mà chạy về hướng tây. Một cuộc chiến trường kỳ đã diễn ra. Mãi đến 799 quân Chăm mới có thể đánh đuổi giặc biển ra khỏi bờ cõi.

Sang thế kỷ thứ IX, nước Hoàn Vương trở nên hùng mạnh và không còn bị uy hiếp bởi giặc biển như trước, trái lại các vua Hoàn Vương là Harivarman I và Vikrantavarman III còn nhân đà cường thịnh cất quân chinh phạt khắp nơi để trả đũa và cướp bóc các nước lân bang. Quân đội Hoàn Vương còn nhân cơ hội đế chế Đường suy yếu cất quân chiếm lại phần đất phía bắc, đưa biên giới dân đến phía nam dãy Hoành Sơn. Sau đó, quân Hoàn Vương còn tràn sang cướp châu Hoan và châu Ái. Đến năm 809, thái thú nhà Đường là Trương Chu đem quân đánh bại được quân Hoàn Vương

Lúc này đế quốc Khmer cũng bước vào giai đoạn cực thịnh, trở thành mối đe doạ chính cho Hoàn Vương. Nhiều trận chiến giữa hai bên đã nổ ra để tranh giành vùng cao nguyên Đồng Nai thượng. Cuộc chiến dai dẳng này đã khiến đất nước quốc lực cả hai bên hao tổn. Nhất là những xứ phía nam nước Hoàn Vương bị tàn phá nặng nề. Điều này tạo cơ hội cho dòng vương tôn phía bắc vươn lên nắm giữ vị thế cao trong triều.

Năm 854, vua Vikrantavarman III mất mà không có con nối. Lúc bấy giờ, vương tôn Laksmindra Bhumisvara Gramasvamin xứ Indrapura đã lãnh đạo quân dân kiên cường chống giặc ngoại xâm phía nam, lập nên nhiều chiến công hiển hách. Do đó, các vương tôn và triều thần đã tôn Laksmindra Bhumisvara Gramasvamin lên ngôi vua vào năm 859. Vị vua mới lấy hiệu là Indravarman II, mở ra một triều đại mới. Quốc hiệu Champa vốn đã có từ trước, dưới thời vua Indravarman II được người Trung Hoa biết đến sau những chuyến đi sứ. Kể từ đó, trong sử sách Trung Hoa và sử Việt về sau gọi đất nước của vua Indravarman II là nước Chiêm Thành.

Thời kỳ “nước Hoàn Vương” có thể coi là thời kỳ quá độ, chuyển mình từ thời kỳ Lâm Ấp sang thời kỳ Chiêm Thành. Nhưng nước Lâm Ấp bên cạnh việc tiếp tục văn hoá Ấn Độ cũng chịu nhiều ảnh hưởng của văn hoá Hán và gần gũi với cư dân người Việt cổ hơn. Còn nước Chiêm Thành về sau thì là một quốc gia Ấn hoá thực thụ. Nước Chiêm Thành ban đầu theo Phật giáo Đại thừa. Kinh đô Đồng Dương (Indrapura) được xây dựng đồng thời cũng là một trung tâm tôn giáo mới. Các vị Đạt ma và tu viện được coi trọng hơn bao giờ hết, được vua miễn không phải đóng thuế.

Kể từ thời vua Indravarman II, nước Chiêm Thành đã hùng mạnh và đủ khả năng chống đỡ cũng như phản công không khoan nhượng trước những thế lực hiếu chiến phía nam, đặc biệt là Java. Nhưng chẳng bao lâu sau, một sự kiện lớn đã diễn ra ở phía bắc Chiêm Thành. Năm 938, Ngô Quyền với đại thắng Bạch Đằng đã khôi phục lại nền độc lập cho dân tộc Việt, kết thúc hơn ngàn năm bắc thuộc đầy khổ nhục, tù túng. Vùng lãnh thổ một thời gian dài là một châu quận xa xôi của các triều đại phương bắc chuyển mình thành một quốc gia với những sức mạnh mới. Trong khi đó, người Chiêm Thành vẫn có thói quen đánh cướp các vùng đất phía nam Giao Châu cũ để cướp của, bắt nô lệ. Việc này sẽ là mầm mống cho những mối binh đao tàn khốc về sau.
______________________________

Quốc gia cổ Hoàn Vương gồm 5 xứ:
- Xứ Indrapura bao gồm đất đai tương ứng với ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế ngày nay. Cư dân vùng này là sự pha trộn giữa người Việt cổ và người Chăm cổ.
- Xứ Amaravati tương ứng với hai tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi ngày nay. Xứ này từng là vùng trung châu của người Chăm qua nhiều thế kỷ.
- Xứ Vijaya tương ứng với tỉnh Bình Định ngày nay là vùng thương cảng quan trọng của cả đất nước
- Xứ Kauthara tương ứng với tỉnh Khánh Hoà ngày nay
- Xứ Panduranga tương ứng với hai tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận ngày nay. Xứ này có cư dân pha trộn với người Phù Nam.

Quốc Huy
15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Kỳ 151

NGƯỜI VIỆT VỪA THOÁT NẠN BẮC THUỘC
ĐÃ LO MỐI HOẠ TỪ PHÍA NAM


Sau khi Đinh Tiên Hoàng thống nhất các thế lực cát cứ trong nước thì Đại Cồ Việt đã phải đối mặt với mối lo từ láng giềng phía nam. Quá trình để bảo vệ nền độc lập quả thực không hề dễ dàng.
1.
Sơ lược quá trình phục quốc của người Kinh Việt

Các đế chế phương bắc đã thành công trong cuộc thôn tính quốc gia của người Việt cổ và duy trì sự thống trị của họ khá thường xuyên trong suốt hơn 1000 năm. Thế nhưng, phương bắc đã thất bại trong việc đồng hoá người Việt. Qua hơn chục thế kỷ bắc thuộc, người Việt vẫn không bị biến thành “người Hoa” như cách gọi của các triều đại phương bắc. Thay vì lựa chọn tôn trọng sự khác biệt và đối xử bình đẳng với người Việt, vua quan đô hộ các đời chỉ coi dân ta là đám “Nam Man” cần phải “giáo hoá”. Việc “giáo hoá” này tức là làm mọi cách để người Việt phải đoạn tuyệt với văn minh Đông Sơn, thay đổi toàn bộ phong tục tập quán theo chuẩn mực của các cư dân Hán hoá ở Trung Hoa, kể cả ngôn ngữ riêng cũng bị huỷ hoại và thay thế bằng tiếng nói của “người Hán”.

Ngoài việc bị phân biệt đối xử và xúc phạm nhân phẩm, người Việt còn chịu sự bóc lột nặng nề. Giao Châu là nơi phương bắc vơ vét sản vật, bắt phu lao dịch, thu thuế cao và bắt lính trợ chiến. Tuy cũng có những lúc chính quyền đô hộ nới tay, nhưng nhìn chung mỗi khi chính quốc gặp khủng hoảng thì đất Giao Châu lại trở thành nơi trút gánh nặng khủng hoảng. Thậm chí khi hưng thịnh, vua chúa phương bắc vẫn coi đất nước ta là nơi cung cấp xa xỉ phẩm. Sự phân biệt Hoa – Di và xung đột lợi ích là nguyên nhân khiến cho Giao Châu dù là một trung tâm lớn ở phía nam các đế chế Trung Hoa nhưng lòng dân ít khi chịu phục và thường hay rơi vào tình trạng bất ổn.

Trong quá trình bị các triều đình phương Bắc đô hộ cho đến khi giành được nền độc lập tự chủ lâu dài vào thế kỷ thứ 10, đã có rất nhiều cuộc khởi nghĩa quy mô lớn nổ ra làm gián đoạn quá trình đồng hoá của phương bắc, cổ vũ ý thức dân tộc, khát vọng tự do của nhân dân Việt :

- Năm 40 sau công nguyên, cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng nổ ra đã giành lại nền độc lập cho đất nước trong 4 năm (40 – 43) trước khi bị đàn áp bởi quân Đông Hán.

- Năm 248 nổ ra cuộc khởi nghĩa của bà Triệu khiến nước Ngô phải đem 8.000 quân sang dập tắt

- Năm 542, Lý Bí phất cờ khởi nghĩa đánh đuổi quân Lương, dựng nước Vạn Xuân. Nền độc lập này tồn tại được 64 năm trải qua 3 triều vua Lý Nam Đế (Lý Bí), Triệu Việt Vương (Triệu Quang Phục), Hậu Lý Nam Đế (Lý Phật Tử) trước khi bị nhà Tuỳ tái chiếm với đội quân đông đến 10 vạn người vào năm 605.

- Năm 713, cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan nổ ra ngay lúc cực thịnh của đế quốc Đường đã đem lại khoảng thời gian 10 độc lập cho đất nước (713 – 722). Mai Thúc Loan xưng là hoàng đế, liên kết với người nước Lâm Ấp, người Java để chống giặc. Nhà Đường đã huy động đại quân 10 vạn người mới đàn áp nổi.

- Chỉ vài chục năm sau đó đến khoảng những năm 776, lại nổi lên cuộc khởi nghĩa của anh em Phùng Hưng, Phùng Hải. Quân ta một lần nữa đánh đuổi được quân Đường. Phùng Hưng được nhân dân suy tôn là Bố Cái Đại Vương, lãnh đạo nhân dân bảo vệ nền độc lập trong khoảng 15 năm. Đến năm 791, con trai Phùng Hưng là Phùng An nối nghiệp cha đã không đoàn kết với người chú Phùng Hải. Đến khi quân Đường sang đánh, Phùng An đã đầu hàng.

Ngoài những cuộc khởi nghĩa lớn tiêu biểu đã nêu trên, phải có đến hàng trăm cuộc nổi dậy lớn nhỏ của người Việt trong suốt thời kỳ Bắc thuộc. Mặc dù trong nhất thời không đem lại được nền độc lập lâu bền, nhưng các cuộc khởi nghĩa đã góp phần làm chậm tiến trình đồng hoá của phương bắc rất nhiều. Hệ quả quan trọng nhất là cho đến thế kỷ thứ 10, người Việt vẫn giữ được sự tự trị ở cấp độ làng xã. Quyền hành của chính quyền đô hộ trên thực tế thường chỉ giới hạn ở những trung tâm hành chính lớn, hoặc cùng lắm là đến cấp huyện lị. Sự tự trị của làng xã là chía khoá quan trọng giúp cho người Việt bảo tồn cấu trúc xã hội và nuôi dưỡng tinh thần dân tộc. Song hành với cuộc đấu tranh bằng võ lực, là sự kiên trì bảo tồn phong tục tập quán, tiếng nói và hệ tư tưởng cổ truyền. Đến thế kỷ thứ 10, dân tộc Việt bên cạnh việc tiếp thu một phần văn hoá Hán vẫn giữ được bản sắc riêng, và quan trọng nhất là bảo tồn được ngôn ngữ nói của mình.

Với những nền tảng đó, nhà họ Khúc đã nhân cơ hội chính quốc loạn lạc đã thiết lập quyền tự chủ cho người Việt, dù với danh nghĩa Tiết độ sứ chứ chưa công khai phục quốc. Sau khi họ Khúc thất bại trước quân Nam Hán, bộ tướng là Dương Đình Nghệ kế tục cuộc chiến đấu. Dương Đình Nghệ mất vào tay kẻ phản trắc thì đến lượt Ngô Quyền đứng lên thay thế để tiếp tục cuộc đấu tranh. Có thể thấy rõ, các thế lực hào trưởng người Việt cùng đại bộ phận nhân dân lúc này đã thể hiện quyết tâm cao độ trong việc thoát li khỏi vòng kìm toả của phương bắc. Bằng quyết tâm đó, quân dân Việt đã làm nên đại thắng Bạch Đằng năm 939. Ngô Quyền sau chiến thắng đã mở nước xưng vương, bắt đầu kỷ nguyên độc lập lâu dài cho dân tộc Việt.

Ban đầu, tên gọi Tĩnh Hải Quân thời Đường vẫn được tạm dùng do các vua triều nhà Ngô vẫn chưa thực sự nắm quyền kiểm soát trên cả nước. Quyền hành lúc này được nhà vua chia sẻ với các sứ quân, vốn là các hào trưởng từ thời bắc thuộc. Phải đến khi Đinh Bộ Lĩnh kết thúc cục diện 12 sứ quân vào năm 968, quốc hiệu mới được đặt là Đại Cồ Việt. Đinh Bộ Lĩnh tự xưng là hoàng đế, củng cố thêm một bước nền độc lập của dân tộc Việt.

Đại Cồ Việt mặc dù là sự khôi phục, kế thừa của văn minh Đông Sơn thời cổ đại nhưng tuyệt nhiên là một quốc gia với mô hình mới, sắc thái mới. Đó là quốc gia điển hình thời trung đại với quyền lực ngày càng có xu hướng tập trung cao độ về tay triều đình trung ương. Đó cũng là một quốc gia gần gũi với văn hoá Hán do hệ quả của bắc thuộc.
2.
Những va chạm đầu tiên giữa Đại Cồ Việt và Chiêm Thành

Thời cổ đại, cư dân văn hoá Đông Sơn và cư dân văn hoá Sa Huỳnh cổ đã từng cùng nhau chung sống hoà bình và đã có những lúc cùng nhau đấu tranh chống lại kẻ thù chung. Tiêu biểu chính là thời kỳ Hai Bà Trưng đánh đuổi quân Hán, người Việt và người Chăm lúc đó đã trở thành người chung một nước. Đến khi bị đàn áp, cuộc chiến đấu của người Việt cổ cũng đã gián tiếp giúp cho phong trào giành độc lập của người Chăm cổ được thành công, lập nên nước Lâm Ấp. Nhiều năm sau, các vua Lâm Ấp đã nhiều lần nuôi chí bắc tiến để đánh tách Giao Châu khỏi phương bắc và tạo nên một đất nước mới của người Chăm và người Việt. Đến thời vua Mai Hắc Đế Mai Thúc Loan khởi nghĩa chống Đường, cũng đã được từng sự hỗ trợ của quân dân Lâm Ấp.

Thế nhưng càng về sau, mối quan hệ của hai bên ngày càng xa cách do sự khác biệt về thể chế chính trị quá lâu. Các vị vua Lâm Ấp – Hoàn Vương – Chiêm Thành khi cất quân đánh lên phía bắc thường không còn nuôi chí thu phục nhân dân, mở rộng cương thổ mà đơn thuần chỉ là những cuộc cướp bóc, bắt nô lệ để làm giàu cho chính mình. Đến giai đoạn thế kỷ thứ 10, những đạo quân Chiêm Thành là một nỗi ám ảnh của cư dân Đại Cồ Việt ở vùng biên giới.

Ban đầu, triều đình Đại Cồ Việt chẳng thể quan tâm nhiều đến vùng biên viễn bởi những tranh chấp nơi triều chính và tệ cát cứ ở những vùng trọng điểm. Nhưng đến thời Tiền Lê, thế nước Đại Cồ Việt đã hùng mạnh và Chiêm Thành đã có một số hành động như những giọt nước làm tràn ly.

Năm 979 cuối triều Đinh, sau khi vua Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt Vương Đinh Liễn bị đầu độc chết thì Lê Hoàn lúc bấy giờ giữ chức Thập đạo tướng quân nắm mọi quyền hành. Phò mã Ngô Nhật Khánh không chịu phục Lê Hoàn nên bỏ vào nam nương nhờ Chiêm Thành, mưu rước quân Chiêm về nước để đấu với Lê Hoàn. Vua Chiêm Thành bấy giờ là Bề Mi Thuế (Paramesvaravarman I) liền nhân cơ hội điều động 1.000 chiến thuyền trực chỉ thành Hoa Lư. Thuyền quân Chiêm Thành đến cửa biển Đại An thì gặp bão biển đánh tan tác cả. Ngô Nhật Khánh cũng chết chìm vì bão biển.

Thập đạo tướng quân Lê Hoàn sau đó lên ngôi vua năm 980, tức vua Lê Đại Hành. Lúc vua mặc long bào cũng là lúc quân Tống sắp sang đánh. Sau khi chiến thắng quân Tống, nhà vua vẫn hy vọng hoà hiếu với láng giềng phía nam và đã cử sứ giả Từ Mục, Ngô Tử Canh đến Chiêm Thành. Thế nhưng vua Bề Mi Thuế đã cho bắt giam sứ giả. Hành động này đã khơi màu cho chiến tranh. Vua Lê Đại Hành khi hay tin nước Chiêm Thành giam sứ đã rất tức giận, bèn lệnh cho quân dân đóng chiến thuyền, sắm sửa vũ khí, chuẩn bị đội ngũ.

Năm 982, vua Lê thân chinh dẫn quân Đại Cồ Việt chia đường thuỷ bộ rầm rộ vào đánh nước Chiêm Thành. Vua Chiêm Thành Bề Mi Thuế cũng đích thân dẫn quân xuất thành nghênh chiến. Hai bên giao chiến ác liệt, vua Bề Mi Thuế chết trong trận chiến. Quân Chiêm vỡ chạy, tử trận và bị bắt sống nhiều rất nhiều. Quý tộc Chiêm Thành đều phải bỏ kinh thành Đồng Dương mà chạy trốn. Quân Đại Cồ Việt tràn vào thành phố, gom hết kho tàng cho Chiêm Thành, bắt những vũ công và nhà sư về nước, đồng thời vua Lê Đại Hành hạ lệnh san phẳng các thành trì của Chiêm Thành.

Sau khi chạy khỏi thành Đồng Dương, triều đình Chiêm Thành cử lên một vị vua mới, chính là vua Indravarman IV. Vị vua này cùng với lực lượng Chiêm Thành còn lại chỉ còn giữ được hai xứ là Kauthara, Panduranga ở cực nam. Ba xứ phía bắc gồm Indrapura, Amaravati, Vijaya đều bị quân Đại Cồ Việt chiếm đóng. Vua Lê cho lưu lại một đạo quân dưới quyền chỉ huy của Quản giáp Lưu Kế Tông để kiểm soát việc cai trị. Người Chiêm Thành ở các xứ bị chiếm đóng lên thuyền bỏ đi tị nạn rất nhiều.

Vua Indravarman IV mong muốn tìm kiếm sự giúp đỡ của nước Tống nên đã cử sứ giả sang báo với vua Tống việc “bị Giao Châu xâm chiếm đất đai và phá huỷ tông miếu”. Nhưng chính nước Tống cũng vừa thua trận ở Đại Cồ Việt không lâu nên chỉ biết an ủi sứ Chiêm Thành, hứa hẹn sẽ làm trung gian hoà giải. Về phần triều đình Đại Cồ Việt, khi giao thiệp với Tống lại chối bỏ việc đưa quân chiếm đóng Chiêm Thành, nói rằng Lưu Kế Tông chỉ là một kẻ đào vong. Nhưng kỳ thực, chính vua Lê Đại Hành là người hậu thuẫn cho Lưu Kế Tông.
Năm 986, vua Indravarman IV mất. Lưu Kế Tông tự xưng là vua Chiêm Thành và sang Tống cầu phong công nhận nhưng nước Tống không chấp nhận. Việc Lưu Kế Tông xưng vương đã làm người Chiêm quốc không thể nào nhẫn nhịn được nữa nên đã cùng nhau liên kết nổi dậy. Cuộc chiến đấu của quân dân Chiêm Thành đã giành thắng lợi trong 4 năm. Đến năm 989, vua Harivarman II lên ngôi. Lúc này những vùng đất bị quân Đại Cồ Việt chiếm đóng đã được quân Chiêm thu phục lại, nhưng quốc lực và vị thế của nước Chiêm Thành thì không còn được như trước nữa mà tỏ ra khá vị nể nước Đại Cồ Việt.

Trong năm 989, viên Quản giáp Dương Tiến Lộc nước Đại Cồ Việt đem người hai châu Hoan, châu Ái xin quy phụ nhưng vua Chiêm không dám thu nhận vì sợ chọc giận vua Lê Đại Hành. Để đáp lại sự thiện chí này của nước Chiêm Thành, vua Lê Đại Hành đã cho trao trả một số tù binh bị bắt trước đó. Quan hệ Đại Cồ Việt - Chiêm Thành cho đến lúc này tạm thời được nồng ấm nhưng đó chỉ là bề nổi. Những nguy cơ xung đột tiềm ẩn vẫn còn đó và chực chờ bùng phát.

Quốc Huy
15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Kỳ 152

VUA LÝ THÁNH TÔNG DÙNG VŨ LỰC
BÌNH ĐỊNH PHƯƠNG NAM


Cuộc nam tiến của dân tộc Việt không chỉ là một cuộc mở cõi đơn thuần. Nói về việc mở rộng không gian sinh tồn, mãi về sau này mới đóng vai trò lớn với người Việt. Trong khoảng thời gian đầu của kỷ nguyên độc lập, việc tạo dựng một vị thế vượt trội đối với nước Chiêm Thành ở phương nam có một vai trò sống còn. Vì rằng, ở mặt bắc nước Đại Cồ Việt là một đế quốc lớn mạnh hơn hàng chục lần, vốn đã là một áp lực cực lớn về quốc phòng. Nếu như không nắm thế chủ động ở phía nam, Đại Cồ Việt có nguy cơ rơi vào thế lưỡng đầu thọ địch.

Thời vua Lê Đại Hành, có thể thấy rằng ngài đã phải lựa chọn giữa hai phương án là hoà hảo và dùng vũ lực với Chiêm Thành. Khi sứ giả bị vua Chiêm bắt giữ, một cuộc chiến không khoan nhượng đã nổ ra. Quân Đại Cồ Việt sau chiến thắng đã cố gắng chiếm đóng đất đai của Chiêm Thành. Đến khi nhận thấy không đủ tiềm lực chiếm đóng lâu dài, vua Lê đã tìm kiếm hoà bình trên thế thắng với nước Chiêm Thành bằng việc chủ động trao trả tù binh. Cả trong trường hợp đánh và hoà, rõ ràng vua Lê đã rất chủ động.

Về phía nước Chiêm Thành, quan hệ ngoại giao với Đại Cồ Việt cũng là một vấn đề can hệ đến tồn vong của vương quốc. Với sự nổi lên của đế quốc Angkor phía tây và Đại Cồ Việt ở phía bắc, nước Chiêm Thành từ thế kỷ 10 trở đi lọt thỏm vào một vòng vây trên cả bốn mặt. Quan hệ với đế quốc Java ngoài biển vốn đã chẳng tốt đẹp từ lâu, trong khi vùng lãnh thổ trên bộ của Chiêm Thành lại thường xuyên bị người Angkor uy hiếp ở cả mặt tây và mặt nam. Vùng núi phía tây nước Chiêm (tức Tây Nguyên) trở thành nơi tranh giành ảnh hưởng của Chiêm Thành và Angkor.

Đối với biên giới phía bắc, đã không còn là một Giao Châu giàu có và xa xôi của đế quốc Đường để quân Chiêm có thể dễ dàng thực hiện nhưng cuộc xâm nhập để cướp bóc và rút lui nhanh chóng. Quốc gia mới là Đại Cồ Việt thể hiện quyết tâm cao độ trong việc bảo vệ lãnh thổ và cũng có đủ sức mạnh để làm việc đó. Kể cả nước lớn như Tống còn phải kiêng dè đôi phần trước sức mạnh quân sự của Đại Cồ Việt.

Từ sau cuộc chiến đẫm máu năm 982 dẫn đến cái chết của vua Paramesvaravarman I, vua kế tiếp của Chiêm Thành là Indravarman IV đã thể hiện thái độ hoàn toàn khác với Đại Cồ Việt hòng được yên mạn bắc. Nhưng thời bấy giờ có những vấn đề khá nhạy cảm là động cơ cho chiến tranh bùng phát bất cứ lúc nào giữa các nước trong khu vực.

Vấn đề thứ nhất là nô lệ. Cả Đại Cồ Việt, Chiêm Thành và Angkor đều cần nô lệ để duy trì sự thịnh vượng của mình. Mặc dù ở Đông Á thời trung đại không phát triển đến hình thái xã hội chiếm hữu nô lệ, nhưng một số lĩnh vực đặc thù vẫn đòi hỏi việc dùng nô lệ thay cho giới bình dân. Nếu như người Việt cần nô lệ ngoại quốc để khai phá những vùng ruộng xấu, vùng trũng, khô cằn và khai thác mỏ thì Angkor và Chiêm Thành lại sử dụng nô lệ để xây dựng các thành phố, đền đài nguy nga, làm thuỷ lợi, phu chèo thuyền ... Đó đều là những việc nặng nhọc nên các quân vương thường tránh sử dụng thần dân trong nước mình vì sợ sẽ gây nên sự bất mãn trong xã hội.

Nếu như những nô tỳ, nô lệ trong nước được vẫn được đối xử như thần dân của nhà vua và có cơ hội thay đổi thân phận, thì những nô lệ xuất thân từ tù binh có thân phận hẩm hui hơn. Với việc chiến thắng trong chiến tranh và bắt tù binh làm nô, giới quý tộc vừa được coi là người có công lao đánh dẹp vừa giải quyết được vấn đề nhân lực trong nước. Riêng người Chiêm Thành với nền hàng hải hùng mạnh còn phát triển nghề buôn bán nô lệ. Từ lâu, họ đã thường xuyên đánh bắt các sắc dân cao nguyên phía tây (vùng cao nguyên miền trung ngày nay) và Giao Châu cũ (Đại Cồ Việt) để bán.

Vấn đề thứ hai là chiến lợi phẩm. Thời bấy giờ, Chiêm Thành có thể gọi là một nạn nhân cho chính sự giàu có của mình. Đất nước này không có dân số đông, không có đồng bằng màu mỡ nhưng nhờ thương mại phát triển nên sự thịnh vượng vượt hẳn những nước láng giềng. Từ khi nền văn minh Phù Nam tàn lụi, Chiêm Thành trở thành thương cảng trong yếu của khu vực Đông Nam Á. Vàng bạc, châu báu là những thứ trang sức thậm chí được người Chiêm Thành đính vào trang phục thường ngày. Vàng còn được dùng để đúc tượng, dát lên các công trình kiến trúc … Bộ mặt trang hoàng lộng lẫy của nước Chiêm Thành đã khơi dậy lòng tham của các nước lân bang. Mặt khác, những nước Đại Cồ Việt, Angkor cũng có những kho tàng khiến những đạo quân ngoại quốc nhòm ngó. Và Chiêm Thành cũng là thế lực hiếu chiến trong vùng, sẵn sàng chớp cơ hội để tung quân cướp bóc lân bang.

Cả hai vấn đề nô lệ và chiến lợi phẩm cộng hưởng với nhau đã kết thúc quãng thời gian hoà bình giữa Chiêm Thành và Đại Cồ Việt. Trong giai đoạn chuyển giao quyền lực từ nhà Tiền Lê sang nhà Lý, nước Chiêm Thành lợi dụng sự xáo trộn nội bộ của láng giềng đã bắt đầu những hoạt động đánh phá vùng biên giới như trước. Từ khi vua Lý Thái Tông lên ngôi, nước Chiêm Thành đã không còn cử sứ giả đến triều đình Đại Cồ Việt. Ban đầu, vua Lý Thái Tông vẫn cho thông sứ, tìm cách vỗ về phương nam nhưng không đem lại hiệu quả. Bởi Đại Cồ Việt vẫn tự xem mình là nước lớn trong quan hệ song phương, mà Chiêm Thành thì cậy có núi sông hiểm trở và vẫn coi Đại Cồ Việt là kẻ đối địch, dù ngoài mặt có lúc nhún nhường nhưng vẫn nuôi chí xâm lăng. Sau khi đã ổn định tình hình trong nước, Lý Thái Tông đã xem xét lại vấn đề Chiêm Thành.

Năm 1043, vua Lý Thái Tông trong buổi thiết triều đã hỏi các triều thần rằng: “Tiên đế [tức vua Lý Thái Tổ] mất đi đến nay đã 16 năm rồi, mà Chiêm Thành chưa từng sai một sứ giả nào sang là cớ gì? Uy đức của trẫm không đến họ chăng? Hay là họ cậy có núi sông hiểm trở chăng?”

Triều thần có người tâu rằng: “Bọn thần cho rằng đó là vì đức của bệ hạ tuy có đến nhưng uy thì chưa rộng. Sao thế ? Vì từ khi bệ hạ lên ngôi đến giờ, họ trái mệnh không đến chầu, bệ hạ chỉ ban ơn để vỗ về, chưa từng ra oai dùng võ để đánh phạt. Đó không phải là cách làm cho người ta sợ oai. Bọn thần e rằng các chư hầu khác họ trong nước đều như Chiêm Thành cả, há chỉ riêng người Chiêm mà thôi đâu!”

Nghe qua lời triều thần luận bàn, vua Lý Thái Tông hạ quyết tâm nam chinh. Hàng trăm chiến thuyền được lệnh đóng mới, chia làm các hiệu Long, Phượng, Ngư, Xà, Hổ, Báo, Anh Vũ sẵn sàng cho cuộc chiến. Trên khắp cả nước, việc tuyển chọn, thao luyện binh lính diễn ra rầm rộ. Khí giới được rèn đúc tích sẵn trong kho quân khí. Vua xuống chiếu cho quân dân chuẩn bị mọi mặt, hẹn đến mùa xuân năm sau sẽ xuất binh đánh Chiêm Thành. Cái cách mà Đại Cồ Việt chuẩn bị cho cuộc chiến tranh đã thể hiện sự ưu việt về thể chế quân chủ trung ương tập quyền của người Việt so với thể chế “liên bang” của người Chiêm.

Mặc dù giàu có và cũng khá thiện chiến, Chiêm Thành hiếm khi có được cái thế mạnh muôn người hoà làm một giống như Đại Cồ Việt. Giữa năm xứ (Indrapura, Ameravati, Vijaya, Kauthara và Panduranga), hai dòng quý tộc (Cau và Dừa) luôn có sự cạnh tranh với nhau. Quyền lực của triều đình trung ương Chiêm Thành nhiều lúc không được thực thi triệt để, khả năng tổng hợp các nguồn lực lớn trong nước phục vụ cho chiến tranh kém xa Đại Cồ Việt.

Mùa xuân năm 1044, vua Lý Thái Tông giao cho hoàng thái tử Lý Nhật Tôn giữ chức lưu thủ kinh sư, còn ngài thì tự mình làm tướng thân chinh đem gần hết quân cả nước đi đánh Chiêm Thành. Thuyền bè kể cả chiến thuyền và thuyền tải lương có đến hơn vạn chiếc, binh phu hàng chục vạn người đều theo vua nam chinh.

Quân Đại Cồ Việt theo đường cửa biển Đại Ác, men dọc theo bờ biển mà xuôi nam, thế quân rất mạnh. Vua Chiêm Thành là Jaya Sinhavarman II (sử cũ chép là Sạ Đẩu) hay tin quân Việt kéo xuống, bèn điều động hàng vạn quân cùng voi xuất thành nghênh chiến. Quân Chiêm Thành dàn trận ở bờ nam sông Ngũ Bồ (sông Thu Bồn, Quảng Nam – Đà Nẵng ngày nay) mà chờ sẵn quân Đại Cồ Việt. Kịp khi vua Lý Thái Tông dẫn đoàn thuyền chiến kéo đến, trông thấy quân Chiêm Thành đội ngũ đã chỉnh tề. Vua Lý liền chia quân đổ bộ, giương cờ gióng trống làm như sắp đánh với quân Chiêm.

Đòn phô trương thanh thế của vua Lý Thái Tông có tác dụng bất ngờ. Hai bên chưa kịp giao chiến, quân Chiêm Thành trông thấy binh uy phía Đại Cồ Việt quá hùng hồn và số lượng quá áp đảo nên đã sợ hãi mà tự tan vỡ. Quân Đại Cồ Việt truy kích sát sườn, chém vua Jaya Sinhavarman II tại trận cùng với ba vạn quân Chiêm, bắt sống hơn 5.000 tù binh. Trận này, sử cũ phải chép: “máu nhuộm gươm giáo, xác chất đầy đồng” (theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư)

Vua Lý Thái Tông vốn là ông vua nhân từ và sùng đạo Phật nên đã động lòng trắc ẩn với hành động giết hại bừa bãi của quan quân. Đích thân ngài đã hạ lệnh: “Kẻ nào giết bậy người Chiêm Thành thì sẽ giết không tha”. Do đó mà việc lạm sát mới ngừng. Quân Đại Cồ Việt sau đó tràn vào kinh thành Phật Thệ, bắt các vũ công và cung phi của vua Chiêm đem về nước.

Sau cuộc chiến quy mô lớn này, thế nước Đại Cồ Việt càng dâng cao. Chiến lợi phẩm và nô lệ đem về từ Chiêm Thành lúc này không phải là cái lợi quan trọng nhất. Lợi ích thiết thực nhất là Đại Cồ Việt đã vươn lên một vị thế mới, bớt đi một sức ép lớn về quốc phòng ở phía nam. Kể từ đây, Chiêm Thành thường xuyên phải chấp nhận thế cửa dưới đối với Đại Cồ Việt, bị buộc phải triều cống cho láng giềng phía bắc. Cuộc chiến một lần nữa làm cho Chiêm Thành hao tổn nhiều nguyên khí quốc gia mà phải mất nhiều năm sau mới có thể hồi phục trở lại.

Quốc Huy
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Kỳ 153

VUA LÝ THÁNH TÔNG BẮT CHIÊM THÀNH PHẢI TRẢ GIÁ
VÌ TÌM CÁCH LIÊN TỐNG CHỐNG VIỆT


Sau cuộc chiến Việt – Chiêm năm 1044, niềm kiêu hãnh của người Chiêm Thành bị tổn thương nghiêm trọng. Với việc vua Jaya Sinhavarman I bị giết, đây là lần thứ hai một vị vua Chiêm Thành chết trong chiến tranh với người Việt chỉ trong vòng chưa đầy bảy thập kỷ (trước đó là vua Paramesvaravarman I chết trận năm 982). Việc này cùng với những mất mát nặng nề bởi cuộc chiến đã hun đúc nên lòng căm thù của giới cai trị Chiêm Thành đối với Đại Cồ Việt. Và hiển nhiên, Chiêm Thành bắt đầu tìm cách báo thù.

Kể từ năm 1054, vua Lý Thánh Tông lên ngôi đã đổi tên nước Đại Cồ Việt thành nước Đại Việt. Mặc dù mối quan hệ Chiêm Thành – Đại Việt đã có lúc khá yên ả với các lần sứ Chiêm sang triều cống vào những năm 1055, 1057, 1059, 1060, 1063, 1065, thì đó cũng chỉ là bề nổi của vấn đề. Bởi vì Chiêm Thành đang ở thế yếu hơn, nên phải nhẫn nhịn chờ thời cơ. Ngoài mặt triều đình nước Chiêm cố chiều lòng vua tôi Đại Việt, nhưng trong nước thì việc binh bị được chú trọng tăng cường. Chiêm Thành cũng muốn tranh thủ sự ủng hộ của Tống, dựa vào Tống để chống Đại Việt.

Lại nói Tống triều dưới thời trị vì của vua Tống Nhân Tông đang muốn giữ mối bang giao tốt đẹp với Đại Việt. Phần vì nước Đại Việt dưới sự trị vì của các bậc minh quân tiếp nối nhau là Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông đang rất mạnh và phần vì triều đình nhà Lý cũng bày tỏ thái độ thân thiện với Tống. Nếu so với các nước Liêu, Hạ ở phía bắc thì Đại Việt là một láng giềng thân thiện với Tống hơn rất nhiều. Tuy nhiên, một số quan chức ngoài biên ải của nước Tống lại không nghĩ được như vậy. Tri châu Ung Châu là Tiêu Chú kể từ khi nhậm chức luôn tỏ thái độ hiếu chiến với Đại Việt vì hiềm rằng các dân khê động vùng giáp biên giới Tống – Việt tỏ chí hướng về nam, muốn theo về triều đình nhà Lý hơn là theo Tống. Tiêu Chú đã gởi thư về triều tâu rằng: “Giao Chỉ tuy có triều cống, thật thì ngầm ngấm hoạ tâm, thường dùng cách tâm thực mà lấn vương thổ …” và khuyên vua Tống Thần Tông “Tôi nay đã rõ chỗ quan yếu, thấu chỗ lợi hại. Nếu không đánh bây giờ mà lấy Giao Chỉ đi, thì sau sẽ có điều lo cho Trung Quốc”. Song song với việc mách nước, Tiêu Chú tự tiện chiêu dụ dân châu Quảng Nguyên theo Tống, cài nội ứng, tụ tập các thế lực chống triều đình nhà Lý lại mà chu cấp cho. Y lại cho luyện binh, tích lương, dẫn quân đi tuần rầm rộ ngoài biên giới. Việc đến tai vua Lý Thánh Tông, ngài đã không ngần ngại dùng biện pháp quân sự mạnh để trừng trị những chiêu trò khiêu khích của Tiêu Chú.

Năm 1059, Lý Thánh Tông đem quân đánh các động Tư Lẫm, Cổ Vạn, Chiêm Lăng thuộc Khâm Châu của Tống, giết viên quản câu Lý Duy Tân. Quân Đại Việt diễu binh qua các động ngoài biên, rồi đóng quân uy hiếp nước Tống. Vua Tống phái người tra xét, biết được nguồn cơn là do Tiêu Chú khiêu khích trước nên ra chiếu chỉ ngăn cấm. Bọn Tiêu Chú sau đó vẫn chưa chịu thôi, nên vua Lý Thánh Tông lại hội binh với phò mà Thân Thiệu Thái đánh châu Tây Bình, động Vĩnh Bình thuộc Ung Châu, chém tướng nước Tống là Tống Sĩ Nghiêu, bắt sống tướng Dương Bảo Tài. Thế quân Đại Việt đã mạnh lại có danh nghĩa chính đáng, khiến vua Tống phải xuống nước hòng tránh một cuộc chiến tranh lớn. Bọn quan chức hiếu chiến ngoài biên là Tiêu Cố, Tiêu Chú đều bị cách chức. Quân Đại Việt vẫn chưa chịu lui, Tống Nhân Tông miễn cưỡng phải phái quân đánh ứng chiến. Nhưng rồi các quan tướng Tống được phái đi lại chủ động bàn hoà với quân Đại Việt. Vua Lý Thánh Tông bấy giờ mới bằng lòng rút quân đi.

Những diễn biến ở vùng biên giới Tống – Việt đủ cho thấy binh uy Đại Việt thời vua Lý Thánh Tông lớn đến nhường nào, có thể khiến một đế chế lớn như Tống phải vị nể. Thế nhưng, nước Chiêm Thành có lẽ vì thiếu thông tin hoặc xem nhẹ năng lực do thám của Đại Việt, đã cố gắng tìm cách liên minh với Tống để chống Đại Việt. Năm 1061, vua Rudravarman III (danh hiệu đầy đủ là Yang Pu Sri Rudravarmadeva) lên ngôi, sử Việt gọi là Chế Củ. Vị vua này càng tích cực chuẩn bị cho một cuộc báo thù đối với Đại Việt. Ở trong nước, vua Chế Củ cho tuyển mộ binh lính và thao luyện khẩn trương hơn trước. Mặt khác, Chế Củ cho sứ giả sang Tống xin mua ngựa và ngỏ ý thuần phục Tống để mong được sự bảo hộ. Nước Tống tuy muốn nhận sự thuần phục của Chiêm Thành nhưng vẫn còn phân vân vì ngại Đại Việt. Do đó, vua Tống chỉ tặng cho Chiêm Thành một con ngựa bạch và cho phép Chiêm Thành được mua lừa ở Lưỡng Quảng. Dù liên minh Tống – Chiêm Thành lúc này vẫn chưa thành hình và phần nào vẫn chỉ là ý muốn một chiều của nước Chiêm, nhưng đã trở thành cái cớ không thể tốt hơn cho vua Lý Thánh Tông mở cuộc nam chinh. Rõ ràng, Chiêm Thành thời kỳ này so với Đại Việt yếu hơn rất nhiều. Việc nước Chiêm Thành được yên ổn chẳng qua là do Đại Việt đang thoả mãn vị thế bề trên của mình và mong muốn hoà bình ở phương nam để củng cố việc nội trị, đồng thời ra uy với nước Tống. Chính sách của vua Chế Củ đã làm cho những nền tảng hoà bình mong manh trên bị phá vỡ.

Trong năm 1068, vua nước Chiêm Thành xua quân quấy rối biên giới, ra mặt đối đầu với Đại Việt. Hiển nhiên, vua Lý Thánh Tông không để yên chuyện. Mùa xuân năm 1069, vua Lý Thánh Tông tạm giao quyền cai trị lại cho Ỷ Lan Nguyên phi và Thái sư Lý Đạo Thành, còn ngài thì thân chinh đem đại quân đi đánh Chiêm Thành, phong cho Lý Thường Kiệt làm Nguyên soái. Cũng như những lần trước, quân Đại Việt tiến quân theo đường biển. Thuỷ quân Chiêm Thành cố gắng ngăn chặn quân Đại Việt từ ngay tuyến đầu. Tại cửa biển Nhật Lệ, một trận đại thuỷ chiến đã nổ ra với phần thắng thuộc về quân Đại Việt. Sau khi đã đánh tan đội thuỷ quân Chiêm Thành, quân Đại Việt tiếp tục tiến bằng đường biển. Đến hải cảng Thi Lợi Bì Nại (đầm Thị Nại ngày nay), vua Lý Thánh Tông cho quân đổ bộ, tiến đóng doanh trại ở bờ sông Tu Mao (sông Tam Huyện ngày nay), uy hiếp kinh thành Phật Thệ (Vjiaya, thuộc Bình Định ngày nay).

Lúc ấy, tướng Chiêm Thành là Bố Bì Dà La đem quân bày trận ở bên kia sông Tu Mao. Quân Đại Việt sau khi ổn định doanh trại bèn vượt sông sang đánh. Quân Chiêm chống không nổi, tướng Bố Bì Dà La bị chém chết tại trận, toàn quân tan vỡ. Từ trong thành Phật Thệ, vua Chế Củ hay tin thua trận báo về lập tức dẫn vợ con cùng lực lượng còn lại rút lui về xứ Panduranga. Quân Đại Việt vào thành Phật Thệ, dân trong thành đều sợ hãi xin hàng. Khi hay tin vua Chiêm đã trốn đi, vua Lý Thánh Tông bèn chia quân cho Nguyên soái Lý Thường Kiệt truy kích ngày đêm. Lý Thường Kiệt đem quân đánh xuống Panduranga, bao vây thành trì nhưng tạm thời chưa hạ nổi. Vua Lý Thánh Tông ở thành Phật Thệ chờ tin của Lý Thường Kiệt, sợ quân đi lâu ngày trong nước có biến loạn nên dẫn quân về nước, chỉ để lại một lực lượng chiếm đóng và giữ liên lạc với cánh quân phía nam. Khi vua về đến châu Cư Liên nghe ngóng dân tình, biết được Ỷ Lan Nguyên phi trị quốc tài giỏi, trong cõi được yên vui. Vua bèn nói với tả hữu rằng: “Nguyên phi là đàn bà còn làm được như thế, ta là nam nhi lại chẳng được việc gì hay sao ?”. Nói xong vua lệnh cho toàn quân quay lại tiếp tục việc truy kích vua Chế Củ. Bấy giờ nhuệ khí quân Đại Việt dâng cao, một trận hạ thành Panduranga. Vua Chế Củ tiếp tục chạy về phương nam, đến tận biên giới Chân Lạp thì không còn đường chạy nữa (vì Chân Lạp cũng đang thù địch với Chiêm Thành). Lý Thường Kiệt dẫn quân truy kích bắt sống được vua Chiêm vào tháng 4.1069. Cuộc chiến kết thúc với thắng lợi hoàn toàn thuộc về Đại Việt.

Vua Chế Củ (Rudravarman III) nuôi chí báo thù nhưng thất bại, rốt cuộc lại trở thành tù binh của Đại Việt. Lần bại trận này đem lại hậu quả nặng nề cho Chiêm Thành không kém những lần bại trận trước đó. Vua Lý Thánh Tông khi thắng trận đã cho đốt trụi nhà cửa ở kinh thành Phật Thệ với hơn 2660 căn. Cùng với vua Chế Củ, có đến khoảng 5 vạn quân dân người Chiêm bị bắt làm tù binh..

Mùa thu năm 1069, đoàn quân của vua Lý Thánh Tông ca khúc khải hoàn về đến kinh thành Thăng Long, dâng tù binh ở Thái miếu. Vua Chế Củ lúc này đã ở thế cùng quẫn, phải xin dâng đất ba châu Địa Lý (1), Ma Linh (2), Bố Chính (3) để chuộc mạng. Lãnh thổ Đại Việt từ đây mở rộng về nam đến vùng mà ngày nay là bắc Quảng Trị. Đối với Chiêm Thành, sự mất mát về lãnh thổ chưa phải là điểm dừng. Nước cờ của vua Lý Thánh Tông là thả vua Chế Củ về nước sau khi đã làm mất hết uy tín của vị vua này. Sau khi vua Chiêm Thành trở về và việc dâng đất chuộc mạng lan truyền ra, quân dân trong nước đã không còn phục tùng vị vua của mình nữa. Khắp nơi trong nước, các tiểu vương khởi binh chống lại nhà vua bấy giờ đã bị coi là kẻ phản bội. Chiêm Thành sau cuộc chiến bại với muôn vàn mất mát lại rơi vào vòng loạn lạc vì cuộc tranh quyền đoạt vị giữ các thế lực quý tộc.

Quốc Huy
15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Kỳ 154

NHÀ TỐNG “ĐI ĐÊM” VỚI CHIÊM THÀNH, CHÂN LẠP
HÒNG THÔN TÍNH ĐẠI VIỆT


Thời vua Lý Thánh Tông trị vì, ngài đã đập tan mưu đồ liên minh chống Đại Việt của nước Chiêm Thành từ trong trứng nước và đáp trả một cách dữ dội, khiến nước Chiêm Thành một phen nghiêng ngả, mất thành mất đất vào tay Đại Việt. Thế nhưng sang đến đầu thời vua Lý Nhân Tông, do sự cộng hưởng của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, một liên minh chống Đại Việt cực kỳ nguy hiểm đã dần hình thành.

Năm 1072, vua Lý Thánh Tông mất ở tuổi 50. Vua Lý Nhân Tông nối ngôi khi mới lên 7 tuổi. Triều đình Đại Việt bước vào cuộc đấu đá nội bộ giữa hai phe Thượng Dương Hoàng thái hậu và Ỷ Lan Hoàng thái phi. Nhiều đại thần trong triều cũng bị chia rẽ và bị cuốn vào cuộc chiến cung đình. Dù rằng cục diện đấu đá này nhanh chóng kết thúc với kết quả là Ỷ Lan Hoàng thái phi được vua Lý Nhân Tông phong làm Linh Nhân Hoàng thái hậu, cùng với Thái uý Lý Thường Kiệt, Thái sư Lý Đạo Thành trở thành những người chuyên chính cùng nhau phò tá nhà vua nhỏ tuổi. Nhưng tin tức về việc nước Đại Việt đang được có ấu chúa giữ ngôi báu và sự mất đoàn kết nội bộ đã kịp lan truyền ra ngoài, khiến các nước láng giềng động tâm nhòm ngó giang sơn Đại Việt.

Tại nước Tống thời bấy giờ, quyền bính nằm trong tay tể tướng Vương An Thạch. Người này chủ trương gây chiến với Đại Việt để bành trướng lãnh thổ, cướp bóc của cải và qua đó thị uy với các nước lân bang là Liêu và Hạ. Từ năm 1072 trở đi, biên sự Tống – Việt dần trở nên căng thẳng khi Tống triều ráo riết cho sửa thành, mộ binh, trữ lương, sửa soạn chiến cụ. Quan tướng Tống ngoài biên ải bắt đầu việc mua chuộc các tù trưởng và dân khê động phía Đại Việt, đồng thời tung gián điệp dò la tình hình nội bộ Đại Việt. Mối nguy ngày một gần kề đã được triều đình Đại Việt nhận ra, và cùng nhau đoàn kết tìm phương lược đối phó.

Mối nguy của Đại Việt không chỉ đến từ phương bắc mà còn từ phương nam. Ở nước Chiêm Thành, vào năm 1074 vua Harivarman IV lên ngôi, tạm kết thúc cục diện loạn lạc của nước này. Vua tiền nhiệm là Rudravarman III bị chư vương nước Chiêm lật đổ phải sống đời lưu vong ở Đại Việt. Harivarman IV mang trong mình dòng máu của cả hai dòng quý tộc Cau và Dừa, là hai dòng quý tộc cạnh tranh nhau trong suốt chiều dài lịch sử nước Chiêm Thành. Với thân phận đặc biệt và năng lực của bản thân, ông có được sự ủng hộ rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân nước Chiêm. Dưới sự cai trị của vua Harivarman IV, Chiêm Thành nhanh chóng phục hồi lại kinh tế, các đền đài vốn là biểu tượng cho giá trị tâm linh Chiêm quốc cũng được khôi phục lại.

Một điều chẳng lành cho người Việt, vị vua mới của Chiêm Thành là đại biểu cho phái chủ chiến với Đại Việt, với khao khát báo thù và đòi lại đất đai đã bị mất trong cuộc chiến trước đó. Vua Harivarman IV chủ động kết thân với Tống, mở một tuyến thương mại để mua ngựa chiến và lương thực. Khi đã ổn định tình hình trong nước và có được đối tác mới, vua Chiêm đích thân cầm quân tấn công Đại Việt vào năm 1075. Quân Chiêm Thành tiến vào ba châu Ma Linh, Bố Chính, Địa Lý, đêm ngày đánh phá khiến quân Đại Việt đồn trú tại đây phải vất vả chống đỡ.

Tin tức báo về triều đình Thăng Long, Thái uý Lý Thường Kiệt lúc này đang giữ quyền tổng chỉ huy quân đội bèn tự mình cầm đại quân xuôi nam để đánh quân Chiêm. Quân Chiêm Thành chỉ chiếm được ưu thế ban đầu khi đối đầu với những đội quân phòng thủ cấp địa phương, chứ không thể chống nổi đạo quân chính quy hùng mạnh của Thái uý Lý Thường Kiệt. Do đó, vua Harivarman IV đã chủ động rút quân về nước để bảo toàn lực lượng. Quân Đại Việt truy kích sang tận lãnh thổ nước Chiêm Thành nhưng không thể đánh lớn do chưa có chuẩn bị về hậu cần. Với sức ép lớn từ các hai hướng bắc và nam, Thái uý Lý Thường Kiệt không thể mạo hiểm tổ chức một cuộc viễn chinh quy mô để đánh Chiêm như những năm trước, bởi mối nguy lớn nhất của Đại Việt bấy giờ vẫn là quân Tống.

Sau khi cân nhắc, Lý Thường Kiệt cho tổ chức lại chính quyền và vẽ lại địa đồ ba châu mới sáp nhập. Châu Ma Linh đổi tên thành Minh Linh. Châu Địa Lý đổi thành châu Lâm Bình. Quân đồn trú được tăng cường, đồng thời Lý Thường Kiệt tổ chức di dân người Việt vào nam để làm cơ sở cho việc cai trị lâu dài. Cùng với di dân còn có những binh lính trá hình trà trộn vào đề phòng quân Chiêm. Mọi việc sắp đặt tạm ổn, Thái uý Lý Thường Kiệt liền dẫn quân về bắc lo việc chuẩn bị chống quân Tống.

Lúc này nước Tống vẫn đang trong quá trình chuẩn bị lực lượng, tập trung của cải phục vụ cho chiến tranh. Để tăng khả năng giành chiến thắng, Tống triều chủ trương sai sứ đến hai nước Chiêm Thành, Chân Lạp đề nghị cùng liên thủ tấn công Đại Việt. Nhưng mưu chưa kịp thi hành thì cuối năm 1075, Thái uý Lý Thường Kiệt đã dùng kế Tiên Phát Chế Nhân, dẫn 10 vạn quân thuỷ bộ sang đánh phá tan tành ba châu Ung – Khâm – Liêm là những điểm tập kết nhân lực, vật lực phục vụ cho cuộc xâm lược của Tống. Mặc dù gặp bất ngờ và chịu những tổn thất nặng nề bởi cuộc tấn công của quân Đại Việt dưới sự chỉ huy của Thái uý Lý Thường Kiệt, Tống triều vẫn quyết tâm tái chuẩn bị cho cuộc xâm lược Đại Việt. Lần này, ngoài những động cơ gây chiến ban đầu thì vua tôi nước Tống còn có thêm động cơ báo thù. Kế hoạch lôi kéo hai nước Chiêm Thành, Chân Lạp được vua Tống Thần Tông và Tể tướng Vương An Thạch thống nhất từ trước cũng được gấp rút thực hiện.

Trong thư gởi vua hai nước Chiêm Thành và Chân Lạp, vua Tống Thần Tông nói rằng: “Chiêm Thành, Chân Lạp từ lâu nay bị Giao Chỉ cướp. Nay vương sư sang đánh Giao Chỉ để phạt tội. Các nước ấy nên thừa cơ hội, hiệp lực mà trừ nó. Ngày nào đánh dẹp xong trẫm sẽ ban thưởng cho. Trẫm lại nghe nói rằng nhiều dân nước ấy đã bị Giao Chỉ bắt về. Trong số ấy có cựu vương Chiêm Thành, khó lòng trở về nước. Nên triệu y sang chầu trẫm sẽ gia ân cho”.

Qua những lời trên có thể thấy sự hiểu biết về tình hình phương nam của vua tôi nước Tống khá mù mờ. Sai lệch thứ nhất là Chân Lạp và Đại Việt thời kỳ này không có xung đột mà quan hệ khá hoà thuận. Nước Chân Lạp đã có gởi sứ giả đến Đại Việt để tặng cống phẩm và trao đổi hàng hoá. Sai lệch thứ hai trong thư là nói về cựu vương nước Chiêm Thành, tức vua Rudravarman III vốn đã được Đại Việt trả về nước sau khi chấp nhận dâng đất chuộc mạng, nhưng rồi bị chính người trong nước lật đổ phải sang Đại Việt lưu vong. Những điều này vua Tống đã không biết rõ, nên mới có chuyện khuyên vua đương nhiệm nước Chiêm là Harivarman IV triệu cựu vương Rudravarman III sang chầu nước Tống.

Mặc dù vua Tống Thần Tông có một số hiểu lầm về tình hình, nhưng nêu được lợi ích mà Chiêm Thành, Chân Lạp có được khi hợp lực tấn công Đại Việt. Nước Chiêm Thành và nước Chân Lạp vốn đã kết oán nhiều đời, thường hay có chiến tranh với nhau. Nhưng trước lợi ích mà sứ Tống vẽ ra sau khi xâu xé Đại Việt, hai nước này đã đồng ý liên kết với nhau, cùng với nước Tống tạo thành liên minh ba nước chống Đại Việt.

Quốc Huy
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Kỳ 155

ĐẠI VIỆT RA UY – TỐNG BẠI
CHIÊM THÀNH – CHÂN LẠP QUAY MŨI GIÁO ĐÁNH NHAU


Trong hai năm 1076-1077, nước Đại Việt dưới thời vua Lý Nhân Tông đã phải chiến đấu chống lại một liên minh gồm ba nước Tống, Chiêm Thành, Chân Lạp. Tình hình lúc bấy giờ rất khốn khó cho quân dân Đại Việt khi phải căng mình nghênh địch trên cả hai mặt trận bắc nam. Trong đó, chỉ riêng quân Tống thôi đã đông đến 10 vạn lính chiến đấu, 20 vạn dân phu. Đây là một đạo quân khổng lồ nếu xét theo quy mô thế kỷ 11, lại được trang bị những vũ khí tối tân. Tuy nhiên, cơ hội giành chiến thắng của Đại Việt không phải là không có, bởi liên minh chống Đại Việt không hề chặt chẽ.

Trong ba nước liên minh, ngoại trừ nước Tống là nước có sức mạnh vượt trội thì cả hai nước Chiêm Thành, Chân Lạp lúc bấy giờ đều có thực lực kém hơn rất nhiều. Về quân sự, có thể nói cả hai nước phương nam này đều yếu hơn Đại Việt, bởi đặc thù về dân cư và xã hội không cho phép họ có thể huy động những đạo quân đông đúc và đồng nhất như người Việt. Chiêm Thành lại liền năm chiến tranh loạn lạc, tuy đã có sự phục hồi nhất định dưới sự cai trị của Harivarman IV nhưng về quân lực vẫn còn khá mỏng. Vả lại, dù đã kết liên minh nhưng Chiêm Thành vẫn phải để quân trong nước đề phòng người Chân Lạp trở giáo thình lình. Vua Harivarman IV chỉ huy động 7.000 thuỷ quân tham chiến.

Vua Harshavarman III nước Chân Lạp thì tham gia cuộc chiến đúng với vai trò kẻ giây máu ăn phần. Ông chỉ phái một đạo quân nhỏ đi cùng với vua Chiêm Thành và chờ đợi diễn biến cuộc chiến trước khi tung ra những lực lượng hùng mạnh. Rõ ràng, hai nước phương nam đã ỷ lại vào quân Tống. Chiêm Thành và Chân Lạp cho rằng với đạo quân khổng lồ được trang bị mạnh, nước Tống sẽ chắc thắng Đại Việt và họ chỉ việc tràn vào cướp bóc, chia chác lãnh thổ cùng chiến lợi phẩm với đồng minh phương bắc. Riêng nước Chân Lạp còn có toan tính sâu xa hơn là vừa kiếm lợi từ cuộc chiến với Đại Việt, vừa giữ được thế mạnh khống chế nước Chiêm Thành về sau. Nhưng diễn biến cuộc chiến đã không như toan tính của họ. Binh hùng tướng mạnh của nước Tống đã không thắng nổi ý chí và sức mạnh của quân dân Đại Việt. Thái uý Lý Thường Kiệt đã phán đoán đúng và đưa ra những lựa chọn chính xác. Trọng tâm của cuộc chiến rốt cuộc vẫn là ở chiến trường phía bắc Thăng Long.

Những lực lượng hùng mạnh nhất của nước Đại Việt đã được bố trí ở đó để ngăn chặn bước tiến của quân Tống. Trong khi ở mặt trận phía nam, chỉ có những lực lượng mỏng yếu, phối hợp với dân quân đánh cầm chừng với liên quân Chiêm Thành – Chân Lạp.
Trận Như Nguyệt diễn ra từ giữa tháng 1/1077 đến cuối tháng 2/1077 kết thúc với chiến thắng thuộc về quân Đại Việt đã trở thành chìa khoá quyết định cục diện cuộc chiến. Sau gần 2 tháng chiến đấu, tướng Tống là Quách Quỳ đã buộc phải giảng hoà với Đại Việt, tránh cho mình nguy cơ toàn quân bị diệt. Cho đến thời điểm Tống – Việt nghị hoà, liên quân Chiêm Thành – Chân Lạp đã chiếm được khá nhiều vùng đất phía nam nước Đại Việt. Các châu Minh Linh, Bố Chính, Lâm Bình đều thất thủ. Liên quân dưới sự chỉ huy của vua Harivarman IV đã tiến đến châu Nghệ An. Trong khi đó, ở Chân Lạp vua Harshavarman III đang chuẩn bị phái một đạo quân thứ hai sang chi viện cho quân Chiêm Thành. Nhưng đó là tất cả những gì liên quân Chiêm Thành – Chân Lạp có thể làm được. Nghệ An lúc bấy giờ là một châu quan trọng, quân Đại Việt quyết tâm phòng thủ ngăn chặn kẻ địch.

Trong năm 1077, sau khi nghị hoà xong xuôi với Tống, Thái uý Lý Thường Kiệt liền tổ chức phản công toàn diện. Lúc này thì liên quân không phải là đối thủ của quân Đại Việt. Rất nhanh chóng, quân Chiêm Thành và Chân Lạp bị đánh bật khỏi những vùng đất mới chiếm được. Quân Đại Việt thừa thắng đuổi sang đất Chiêm, chiếm lấy kinh thành Vjiaya. Đất nước Chiêm lại một phen chấn động. Vua Harivarman IV cùng các lực lượng thân tín phải rút lên vùng cao nguyên cố thủ và gởi sứ giả đến doanh của Thái uý Lý Thường Kiệt để cầu hoà. Quân Đại Việt tuy đang thế mạnh, nhưng việc chiếm đóng đất đai Chiêm Thành ắt sẽ lại dẫn đến một cuộc chiến dài ngày hao người tốn của. Đây là điều mà triều đình Thăng Long không mong muốn bởi đất nước vốn đã chịu nhiều vết thương chiến tranh. Sau khi cân nhắc, ngài Thái uý chấp nhận hoà đàm với điều kiện vua Chiêm phải chịu thuần phục và triều cống nước Đại Việt. Vua Harivarman IV lập tức đồng ý điều kiện đó và quân Đại Việt rút lui trên thế chiến thắng, hai nước đã thiết lập lại hoà bình.

Trong khi hai nước Đại Việt – Chiêm Thành đạt được thoả thuận hoà bình thì đạo quân tiếp viện của Chân Lạp đã tiến sang đóng ở đất Panduranga của nước Chiêm. Chủ tướng của Chân Lạp là hoàng thân Sri Nandanavarmadeva khi hay tin Chiêm – Việt nghị hoà đã lấy cớ nước Chiêm Thành phản bội đồng minh mà chiếm luôn thành Panduranga. Từ chỗ là đồng minh của nhau, hai nước Chiêm Thành và Chân Lạp bỗng chốc lại đổi thành kẻ thù. Thật ra đây là một sự trở mặt của chính người Chân Lạp, với những toan tính nước đôi từ ban đầu. Một nhánh quân Chân Lạp tiến đánh miền bắc Chiêm Thành, tàn phá thánh địa Mỹ Sơn. Từ cả hai hướng bắc và nam, quân Chân Lạp hình thành thế gọng kìm bao vây kinh thành Vjiaya của Chiêm Thành. Vua Harivarman IV một mặt lãnh đạo các lực lượng quân dân người Chiêm chống trả quyết liệt, mặt khác gởi thư cầu cứu triều đình Đại Việt.

Với tư cách là nước bảo hộ, Đại Việt chấp nhận gởi quân sang cứu nước Chiêm. Một lần nữa Thái uý Lý Thường Kiệt lãnh trọng trách dẫn quân nam tiến. Được sự giúp đỡ của quân Đại Việt, vua Harivarman IV nhanh chóng lật ngược tình thế và đuổi đánh quân Chân Lạp chạy dài. Quân Chiêm Thành thừa thắng đuổi sang tận lãnh thổ Chân Lạp, hoàng thân Chiêm Thành là Pramabhodisattva cầm quân viễn chinh tận diệt đội quân của Sri Nandanavarmadeva trong một trận thuỷ chiến trên Biển Hồ. Thất bại này khiến cho Chân Lạp mất đi đáng kể những thành phần tinh tuý trong quân đội của mình. Kế đó, quân Chiêm chiếm được thành Shambhupura của Chân Lạp và đốt phá tan hoang thành phố này.

Giai đoạn này có thể thấy trong khu vực liên tiếp diễn ra những cuộc chiến tranh đẫm máu lôi kéo hàng loạt quốc gia. Ngọn lửa chiến tranh đã liên tục dịch chuyển từ nước này sang nước khác. Sau khi thực hiện những đòn trả đũa mạnh mẽ đối với nước Chân Lạp, quân Chiêm Thành rút đi với số chiến lợi phẩm nhiều vô kể. Vua Harivarman IV từ đó bắt tay vào cuộc tái thiết đất nước và ngăn chặn những nguy cơ nội loạn, ly khai trong nước. Các đền đài và kinh đô được khẩn trương xây dựng lại. Nước Đại Việt kể từ sau cuộc chiến với Tống cũng đã tập trung vào việc xây dựng đất nước, củng cố nội trị. Vua Lý Nhân Tông với sự phò tá của Linh Nhân hoàng thái hậu, Thái uý Lý Thường Kiệt, Thái sư Lý Đạo Thành đã mở ra một thời kỳ thịnh trị trong lịch sử Việt Nam.

Về phía Chiêm Thành, dưới thời kỳ cai trị của vua Harivarman IV, nước Chiêm Thành thực hiện đường lối ngoại giao mềm mỏng với Đại Việt, chấp nhận vị thế nước phiên thuộc để đổi lấy hoà bình. Qua đó, Chiêm Thành cũng được rảnh tay mạn bắc mà đề phòng nước Chân Lạp, vốn cũng là một nước lớn trong khu vực thời bấy giờ, mặc dù binh lính không tinh nhuệ như Đại Việt nhưng đất rộng, người đông. Với những thành tựu về xây dựng và bảo vệ đất nước, vua Harivarman IV trong ký ức người Chiêm Thành cũng được xem là một vị vua anh hùng.

Quốc Huy
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Kỳ 156

QUÂN ĐẠI VIỆT THỚI LÝ
5 LẦN ĐÁNH BẠI CHÂN LẠP


Chiến thắng của Đại Việt trước liên minh Tống – Chiêm – Chân Lạp năm 1077 ngoài việc giúp cho nền độc lập của dân tộc Việt được giữ vững mà còn dẫn đến những biến động lớn khác trong khu vực. Một trong những hệ quả lớn nhất sau cuộc chiến là việc khiến nước Chân Lạp vốn là một đế quốc đang đà phát triển mạnh thời bấy giờ phải chịu cảnh bại trận liên tiếp trước quân Chiêm Thành. Thời bấy giờ, tiềm lực quân sự của nước Chân Lạp vượt hẳn nước Chiêm Thành. Tuy nhiên vì thiếu cẩn trọng, vua Harshavarman III đã làm tiêu tan những đạo quân hùng mạnh nhất của mình trên đất của người Chiêm.

Việc quân Đại Việt tham chiến giải cứu nước Chiêm Thành đã làm đảo lộn toàn bộ chiến lược của vua tôi nước Chân Lạp. Quân Chiêm Thành thừa thắng tiến sang tàn phá Chân Lạp, cướp bóc chiến lợi phẩm. Quan hệ giữa Đại Việt và Chiêm Thành được nồng ấm một thời gian. Đến năm 1103, Lý Giác khởi loạn ở phủ Diễn Châu bị thua, chạy vào Chiêm Thành xuôi vua nước Chiêm lúc này là Jaya Indravarman II cất quân bắc tiến giành lại đất cũ mà người Chiêm đã cắt cho Đại Việt. Năm 1104, Jaya Indravarman II đem quân đánh phá ba châu Minh Linh, Lâm Bình, Bố Chính. Vua cử Lý Thường Kiệt đi đánh, đuổi được quân Chiêm Thành về nước. Vua Jaya Indravarman II mới biết rằng quân Đại Việt vẫn rất mạnh, nên từ đó chịu phục và triều cống theo định kỳ.

Về phía nước Chân Lạp, năm 1080 vua Harshavarman III của nước Chân Lạp chết trong một trận đánh với quân Chiêm Thành dưới sự chỉ huy trực tiếp của vua Harivarman IV. Chân Lạp ngay sau đó trải qua hai triều vua là Jayavarman VI (1080-1107), Drahanindravarman (1107-1113). Lúc này, nội bộ nước Chân Lạp vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ bạo loạn và quan hệ với nước Chiêm Thành luôn căng thẳng khiến cả hai nước đều phải chú trọng binh bị đề phòng lẫn nhau. Do đó, quan hệ giữ Chân Lạp và Đại Việt có phần lắng dịu, với nhiều lần sứ giả Chân Lạp đến Thăng Long triều cống.

Đến năm 1113, một người cháu của vua Drahanindravarman làm chính biến lật đổ ông và lên ngôi vua. Người đó là vua Suryavarman II, một trong những vị vua được xem là vĩ đại nhất lịch sử nước Campuchia. Dưới dưới trị vì của Suryavarman II, nước Chân Lạp phục hưng mạnh mẽ nhờ các công trình thuỷ lợi được xây mới và sự ổn định nội bộ đã được thiết lập lại. Kinh đô Angkor Wat được khởi công xây dựng, là quần thể kiến trúc mang tầm cỡ thế giới đương thời với sức người sức của bỏ ra cực kỳ to lớn. Sẵn đà hưng thịnh, vua Suryavarman II liên tiếp tổ chức những cuộc hành quân xâm lấn các nước láng giềng để bành trướng lãnh thổ.

Vương quốc Haripunjaya của dân tộc Môn (nằm ở miền bắc Thái Lan ngày nay) bị nước Chân Lạp thôn tính. Quân đội Chân Lạp còn lấn chiếm nhiều vùng lãnh thổ phía đông của vương quốc Pagan (Mianmar ngày nay), chiếm đất của nước Grahi ở bán đảo Mã Lai. Nhiều vùng phía tây của nước Chiêm Thành cũng bị quân Chân Lạp chiếm đóng và cướp phá. Gộp cả những vùng lãnh thổ mới chiếm được và những vùng đất đã có trước khi vua Suryavarman II lên ngôi, lãnh thổ nước Chân Lạp thời kỳ này to lớn gần gấp 10 lần nước Đại Việt. Các sử gia phương tây và giới sử hiện đại gọi nước Chân Lạp thời kỳ này là đế quốc Angkor hoặc đế quốc Khmer, để chỉ ra quy mô bành trướng lãnh thổ và mức độ xây dựng vượt hẳn các thời kỳ trước.

Tham vọng bành trướng lãnh thổ của vua Suryavarman II hầu như không có điểm dừng. Đại Việt cũng nằm trong sự nhòm ngó của vị vua hiếu chiến này. Năm 1128, vua Lý Nhân Tông nước Đại Việt mất, thọ 63 tuổi, ở ngôi 56 năm. Trước đó, Lý Nhân Tông vì không có con nối nên lập cháu là Lý Dương Hoán, con trai của Sùng Hiền Hầu làm thái tử. Đến đây, thái tử lên ngôi khi mới 12 tuổi, tức vua Lý Thần Tông. Khi tin tức nước Đại Việt có vua còn nhỏ tuổi đến tai vua Suryavarman II nước Chân Lạp, ông cho rằng đây là thời cơ nên đã điều động quân đội xâm lược Đại Việt. Tháng 2.1128, 2 vạn quân Chân Lạp sang đánh Đại Việt, tiến đến bến Ba Đầu, châu Nghệ An. Bấy giờ, xứ Nghệ An là yếu địa phương nam của Đại Việt, sự bố phòng rất cẩn trọng.

Dựa vào sự chuẩn bị sẵn từ trước, quân dân Nghệ An đã cố gắng chống trả lại địch và cấp báo về triều. Vua Lý Thần Tông bèn sai Nhập nội thái phó Lý Công Bình lĩnh cấm binh vào nam, phối hợp với quân của châu Nghệ An đánh dẹp. Lý Công Bình chỉ trong vòng chưa đầy 1 tháng đã đánh tan tác quân Chân Lạp, bắt sống được tướng Chân Lạp đem về báo tiệp. Chiến thắng này cho thấy rằng những toan tính của vua Suryavarman II đã sai lầm nghiêm trọng. Dù Đại Việt thời này có ấu chúa, nhưng lại có rất nhiều đại thần tài đức phò tá và căn cơ trong nước đã rất vững vàng sau nhiều đời minh quân cai trị.

Không chấp nhận thất bại, chỉ 6 tháng sau, tháng 8.1128 một đạo quân Chân Lạp khác quy mô lớn hơn lại tiến sang. Lần này, quân Chân Lạp đi đường biển đến đánh hương Đỗ Gia (Hương Sơn, Hà Tĩnh ngày nay) thuộc châu Nghệ An, với lực lượng gồm hơn 700 chiến thuyền và hàng vạn quân lính. Vốn đã có đề phòng trước, triều đình Thăng Long cử Nguyền Hà Viêm cầm quân phủ Thanh Hoá, Dương Ổ cầm quân châu Nghệ An phối hợp đón đánh, phá được quân Chân Lạp. Sau thất bại này, vua Suryavarman II lại muốn dùng biện pháp ngoại giao để lấy lại thể diện và tỏ rõ vị thế nước lớn của mình, nên mới sai người trao quốc thư cho châu Nghệ An để gởi trình lên cho vua Lý Thần Tông, yêu cầu Đại Việt cử sứ giả sang Chân Lạp. Vốn đã không hài lòng vì sự hiếu chiến của Chân Lạp, vua Lý Thần Tông thậm chí không thèm trả lời thư. Đó là một thông điệp rõ ràng rằng nước Đại Việt không hề sợ nước Chân Lạp, dù cho thời bấy giờ Chân Lạp đang là một đế quốc rộng lớn đã tiêu diệt và khuất phục nhiều quốc gia khác.

Lại nói đến nước Chiêm Thành kể từ năm 1113 trở đi thường phải chịu sự cướp phá của quân đội Angkor. Khi vua Jaya Indravarman III lên ngôi năm 1129, nước Chiêm Thành đã rơi vào cảnh nội chiến khi mà xứ Panduranga ở phương nam ra mặt ly khai với triều đình Vijaya, liên minh với Chân Lạp đánh phá miền bắc Chiêm Thành. Cuộc chiến này kéo dài bất phân thắng bại do người Chiêm Thành phần lớn ủng hộ triều đình Vijaya khiến cho liên quân Chân Lạp – Panduranga dù đông mạnh hơn nhưng không thể dứt điểm được.

Do đó, vua Suryavarman II dùng uy thế bắt triều đình Vijaya phải chịu thuần phục. Không còn con đường nào tốt hơn, vua Jaya Indravarman III buộc phải chấp nhận. Đến mùa thu năm 1132, vua Suryavarman II lại quyết định đánh Đại Việt, lệnh cho vua Jaya Indravarman III nước Chiêm Thành phải đem binh thuyền theo hỗ trợ. Liên quân Chân Lạp – Chiêm Thành lần này theo đường biển lại vào đánh Nghệ An. Quân dân phủ Thanh Hoá đã cùng quân dân châu Nghệ An chặn giặc. Đến khi Thái uý Dương Anh Nhĩ dẫn quân triều đình đến phối hợp, quân Đại Việt thắng thế và đánh bại quân Chân Lạp cùng quân Chiêm Thành.

Năm 1135, Chân Lạp lại đổi thái độ và cử sứ giả đến Đại Việt. Nhưng chỉ hai năm sau, khi Thái uý Dương Anh Nhĩ đã mất, vua Suryavarman II lại sai tướng Phá Tô Lăng đem quân tấn công nước Đại Việt lệnh cho Chiêm Thành cử quân phối hợp. Thế nhưng triều đình Chiêm Thành lúc này đã quá mệt mỏi vì chiến tranh nên đã không theo lệnh vua Chân Lạp. Rốt cuộc chỉ có mỗi quân Chân Lạp tham chiến. Tướng Phá Tô Lăng đem quân vào đánh châu Nghệ An. Người của châu này chạy trạm báo tin, vua Lý Thần Tông phái Thái uý Lý Công Bình dẫn quân vào đánh. Vẫn như những lần trước, quân Chân Lạp không thể địch nổi sức mạnh của quân Đại Việt. Tướng Phá Tô Lăng bại trận phải lui quân. Từ đó, Chân Lạp càng kiêng nể Đại Việt mà không dám tuỳ tiện động binh.

Năm 1143, lấy cớ vua Jaya Indravarman III không tuân lệnh điều binh giúp Chân Lạp đánh Đại Việt, vua Suryavarman II đem quân tấn công Chiêm Thành. Vua Jaya Indravarman III đã lãnh đạo người Chiêm chiến đấu quyết liệt, cuộc chiến kéo dài dai dẳng. Đến năm 1145, Jaya Indravarman III bị mất tích trong một trận chiến với quân Chân Lạp. Triều thần tôn hoàng thân Parabrahman lên ngôi, lấy hiệu là Rudravarman IV. Lúc này nước Chiêm Thành đã kiệt quệ, Rudravarman IV phải chịu nhận sắc phong của vua Suryavarman II và mất gần hết quyền cai trị đất nước. Không lâu sau, Rudravarman IV phải cùng con trai là Sivanandana và các triều thần bỏ thành Vijaya chạy sang Đại Việt lánh nạn. Quân Chân Lạp chiếm đóng Vijaya và thiết lập nền cai trị trực tiếp trên toàn bộ lãnh thổ nước Chiêm Thành.

Sau đó với sự hỗ trợ của Đại Việt, Rudravarman IV bí mật trở về xứ Panduranga rồi băng rừng lên cao nguyên, dựa vào cộng đồng người Thượng nơi đây phát động khởi nghĩa chống quân Chân Lạp. Nhiều người Thượng, người Chiêm và cả người Khmer hay tin lần lượt theo về để chống lại sự cai trị hà khắc của nước Chân Lạp. Năm 1147, vua Rudravarman IV mất vì bệnh, hoàng thái tử Sivanandana lên nối ngôi, lấy hiệu là Jaya Harivarman I để tiếp tục cuộc kháng chiến chống quân Chân Lạp. Quân khởi nghĩa của Jaya Harivarman I ngày càng lớn mạnh, dần chiếm lại được xứ Panduranga và kinh thành Vijaya, khôi phục lại chủ quyền nước Chiêm Thành trên phần lớn lãnh thổ.

Suryavarman II chỉ còn kiểm soát một số vùng đất phía bắc Chiêm Thành. Nhưng tham vọng bành trướng vẫn chưa nguôi trong lòng vị vua hiếu chiến này. Bấy giờ nước Đại Việt đang trên đà suy yếu sau khi vua Lý Thần Tông mất (năm 1138). Vua Lý Anh Tông còn nhỏ tuổi, mẹ là Lê Thái hậu giữ quyền nhiếp chính, tin dùng gian thần Đỗ Anh Vũ. Trong nước từ năm 1140-1141 đã nổ ra cuộc nổi dậy của Thân Lợi, khiến cho quan quân nhà Lý phải vất vả đánh dẹp. Tình hình đó một lần nữa khơi dậy mong muốn xâm lăng của Suryavarman II.

Năm 1150, quân Chân Lạp lại tiến đánh Đại Việt, với lực lượng gồm cả thuỷ bộ và tượng binh. Nhưng cuộc hành quân này của Chân Lạp lại còn thê thảm hơn những lần trước. Sử Việt chép rằng đoàn quân xâm lược Đại Việt khi đến núi Vụ Thâp (thuộc Nghệ An) đã gặp lam chướng, nắng nóng ẩm thấp mà chết rất nhiều, tự tan rã. Nhiều khả năng đã có một dịch bệnh bùng phát trong quân Chân Lạp. Cũng trong năm này, vua Suryavarman II chết. Cho đến nay, cái chết của bạo chúa này vẫn là một bí ẩn chưa có lời giải. Có nhiều lập luận cho rằng vua Suryavarman II đã chết trong cuộc hành quân đánh Đại Việt.

Năm lần xâm lược Đại Việt của Chân Lạp (hay còn gọi là Đế quốc Angkor) dưới thời vua Suryavarman II đều thất bại thảm hại là do thời kỳ này Đại Việt đã là một nước mạnh và đương thời hưng thịnh, với không ít nhân tài phò vua giúp nước. Nước Chân Lạp dù cho đất rộng dân đông, có thể liên tiếp động binh không ngừng nghỉ nhưng mô hình nhà nước và quân đội của họ không cho phép tổ chức những đạo quân khổng lồ như các quốc gia phương bắc, và mức độ thiện chiến của quân Chân Lạp thì kém xa quân đội Đại Việt. Do đó, trong những lần đọ sức Đại Việt thường giành chiến thắng chỉ với quân đội chính quy thường trực cùng với quân địa phương mà không phải cho cả nước chuyển sang trạng thái chiến tranh, tổ chức huy động tổng lực lượng trong nước. Điều đó cũng cho thấy, dù hùng mạnh nhưng Chân Lạp cũng chỉ là mô hình đế quốc kiểu cũ ở Đông Nam Á.

Việc bành trướng của họ chủ yếu dựa vào thế mạnh kinh tế nông nghiệp và dân số đông, đánh đến khi đối phương không còn chịu được sự hao tốn nhân lực, vật lực và phải chịu thua. Nhưng khi đối đầu với Đại Việt, đó là điều không thể vì nước Đại Việt có một cách thức tổ chức quân dân ưu việt hơn, có truyền thống quân sự trải qua nhiều cuộc chiến quy mô lớn, tích luỹ nhiều kinh nghiệm chiến tranh giữ nước hơn. Tuy nhiên, những thế mạnh đó chỉ có thể phát huy khi trong nước quân dân đồng lòng, vua tôi hoà thuận. Đó là nền tảng cho sức mạnh của người Việt.

Quốc Huy
15.00
Chia sẻ trên Facebook

Trang trong tổng số 32 trang (311 bài viết)
Trang đầu« Trang trước‹ ... [13] [14] [15] [16] [17] [18] [19] ... ›Trang sau »Trang cuối