Trang trong tổng số 7 trang (65 bài viết)
[1] [2] [3] [4] ... ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Hansy

https://2.bp.blogspot.com/-AHpJFIkKY9U/Wa_aGgdBWrI/AAAAAAABF5A/JnasTJQHkAUGKBuNBXEvKKHTUPg-zxDUACLcBGAs/s1600/1.1.gif


HÀO HÙNG SỬ VIỆT
Lịch sử chống ngoại xâm
của dân tộc Việt


https://3.bp.blogspot.com/-00zee2HCRg8/Wa_aKBaY5nI/AAAAAAABF5E/0eh0tPQW1_YfTBSMZspW7wDhs5emQsnnACLcBGAs/s640/1.2.gif

15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Hansy

CHƯƠNG 1

PHẠT TỐNG – BÌNH CHIÊM
của NHÀ LÝ


https://1.bp.blogspot.com/-VuZWlN68Dsk/Wa_k3qjgu0I/AAAAAAABF5c/OdgAp-wM7jQddhZLvji9NKh5l4-PJoGHgCEwYBhgL/s640/102.jpg



Kỳ 1:

PHƯƠNG BẮC NHƯ SÀI LANG RÌNH RẬP
KHI NƯỚC VIỆT CÓ LOẠN


1.
Sự hùng cường của vương triều Lý và quốc hiệu Đại Việt

Những triều đại phong kiến đầu tiên hậu Bắc thuộc trị quốc chủ yếu bằng võ, các quan đa phần là võ tướng. Các vua thu phục nhân tâm bằng uy tín cá nhân, chuẩn mực đạo đức phong kiến chưa thực sự hoàn thiện để có thể duy trì một hệ thống thế tập. Ngai vàng liên tục đổi họ, mỗi một vị vua qua đời là để lại một khoảng trống quyền lực để rồi các phe phái trong hoàng tộc hoặc quý tộc phong kiến nhảy vào tranh giành. Do đó mà gây ra những cuộc nội chiến liên miên. Đó là mầm hoạ rất nguy hiểm cho đất nước.

Vào thế kỷ XI, khi vương triều Lý thành lập thì những rường mối cho một chính quyền phong kiến thế tập mới thực sự được hoàn thiện. Vua Lý Thái Tổ Lý Công Uẩn là nhân vật được sự hậu thuẫn của giới tăng lữ Phật giáo, lại là một người được học tập cả sách Nho và sách Phật. Lý Công Uẩn làm quan dưới triều Lê Long Đĩnh được phong đến chức Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ, uy tín và đức độ bậc nhất triều đình. Năm 1009, ông được triều thần suy tôn làm vua sau khi vua Lê Long Đĩnh chết.
Cuộc đổi ngôi này êm thắm hiếm thấy bậc nhất trong lịch sử Việt Nam. Trong thời gian trị vì, vua Lý Thái Tổ đã thiết lập lại trật tự cho nhà nước quân chủ. Ông thường xuyên phải đi đánh dẹp những phiên thần không quy phục triều đình, sửa sang văn trị, trọng nông nghiệp, mở rộng giao thương. Dưới thời ông, tam giáo Nho, Phật, Lão đều được phát triển, bổ khuyết cho nhau để hình thành một hệ thống tư tưởng mới cho đất nước.

Nếu như Nho giáo dạy người trung quân, ái quốc giúp thuận lợi cho xây dựng nhà nước quân chủ, thì đạo Phật làm góp phần làm nên một xã hội hài hoà, thuận lợi cho phát triển đời sống nhân dân. Đặc biệt, Lý Thái Tổ đã cho định đô ở thành Đại La, đổi tên là thành Thăng Long, đánh dấu một thời kỳ mới của dân tộc. Người Việt đã không còn giữ thế thủ ở đô thành Hoa Lư hiểm trở, mà đã hiên ngang với một kinh đô mới nằm giữa đồng bằng cao thoáng, nhằm phát triển mọi mặt từ kinh tế, văn hoá đến sức mạnh quân sự.

Các vua đầu triều Lý đều là những bậc minh quân. Nhờ vậy mà thế nước ngày một vững mạnh. Trải qua các đời vua Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông thì nước Đại Cồ Việt đã dần vươn lên trở thành một đất nước thịnh vượng, văn minh và mạnh mẽ. Năm 1054, Lý Thánh Tông đã đổi tên nước thành Đại Việt. Từ đây, quốc hiệu Đại Việt đã cùng dân tộc ta trải qua biết bao vinh quang, cay đắng, những thăng trầm trong tiến trình lịch sử.

Chuyện kể rằng, vua Lý Thánh Tông tuổi đã gần tứ tuần mà chưa có con trai nối ngôi, nên ngày ngày cầu khấn mong sinh được hoàng tử. Vua thường đi chơi khắp các chùa quán, dân gian thấy xa giá đến đâu thì rủ nhau xúm lại xem. Vua đi cầu tự ở chùa Dâu, thấy dọc đường mọi người đổ xô ra đón, duy chỉ có người con gái hái dâu đứng ở phía xa, tựa vào gốc cây lan mà hát. Vua lấy làm thích, đưa người con gái ấy vào cung, phong làm Ỷ Lan Phu Nhân. Được vua yêu, ít năm sau Ỷ Lan sinh hoàng tử, đặt tên là Lý Càn Đức. Ngay sau khi sinh ra, hoàng tử Càn Đức đã được vua Lý Thánh Tông phong làm Đông cung Thái tử. Trăm họ vui mừng, bá quan phấn khởi. Số mệnh của cậu bé Lý Càn Đức đã được định sẵn, sinh ra để làm quân chủ nước Đại Việt.

Ỷ Lan được vua phong làm Thần Phi, sau vua lại phong là Ỷ Lan Nguyên Phi, đứng đầu các phi tần, chỉ sau Thượng Dương hoàng hậu. Năm 1069, vua Lý Thánh Tông thân chinh đánh Chiêm Thành, lấy cớ là nước Chiêm Thành đã lâu không sai sứ sang chầu và thường quấy nhiễu biên giới phía nam. Ỷ Lan Nguyên Phi được vua tin cậy giao cho làm Nhiếp chính, cùng Thái sư Lý Đạo Thành trông coi chính sự. Bấy giờ, vua đánh Chiêm Thành lâu ngày mà không dứt điểm được, bèn lui quân. Thuyền ngự về đến châu Cư Liên, nghe tin Ỷ Lan Nguyên Phi trị quốc tài giỏi, trong nước muôn dân ca tụng. Vua khẳng khái nói : "Kìa, một người đàn bà còn làm được như thế, ta là tài trai mà không hạ được nước Chiêm Thành nhỏ xíu, chả hoá ra xoàng lắm ru ?”. Nói xong bèn dẫn quân quay trở lại đánh tiếp. Lúc này sĩ khí lên cao, quân Đại Việt đại thắng. Đô thành Vjiaya của Chiêm Thành bị chiếm, vua Chiêm là Chế Củ cùng 5 vạn dân Chiêm bị bắt. Chế Củ dâng ba châu Ma Linh, Bố Chính, Địa Lý để chuộc mạng. Vua bằng lòng, lãnh thổ Đại Việt được mở rộng về phương nam, bờ cõi phía nam cũng được yên.

Mọi chuyện diễn rất tốt đẹp kể từ sau chiến thắng với Chiêm Thành. Nước Đại Việt bấy giờ là một đất nước thanh bình, thịnh vượng với nền nông nghiệp phát triển, với những công trình cung điện, chùa chiền tráng lệ. Các nghề thủ công như đúc đồng, điêu khắc, làm gốm, làm mộc… đều phát triển rực rỡ. Thuyền buôn Đại Việt giương buồm đi khắp nơi trên vùng biển Đông Nam Á, đến các nước Tống, Chiêm Thành, Chân Lạp, Java… để buôn bán các sản phẩm như gia vị, hương liệu, tơ lụa, đồ gốm, thổ sản … Nước Đại Việt còn có nguồn lợi mỏ vàng, mỏ đồng ở phía Bắc. Người Việt ở các vùng có mỏ vàng trở nên giàu có, hay mua người Tống về để làm nô tì. Hải cảng Vân Đồn tấp nập ghe thuyền ngoại quốc đến buôn bán. Dười triều Lý Thánh Tông, nước Chân Lạp cũng thường gởi sứ sang dâng cống phẩm. Nước Tống khi đó quả không dám vọng động nhòm ngó xuống phương Nam.
2.
Ấu chúa và cuộc đấu đá nội bộ

Năm 1072, vua Lý Thánh Tông mất, hưởng dương 50 tuổi. Thái tử Lý Càn Đức mới 7 tuổi lên nối ngôi vua. Sử gọi là vua Lý Nhân Tông. Vua còn nhỏ tuổi chưa hiểu chuyện để trị nước, triều đình và nội cung rơi vào cuộc đấu đá cạnh tranh quyền lực giữa phe của hoàng thái phi Ỷ Lan được Thái uý Lý Thường Kiệt ủng hộ và phe của Thượng Dương hoàng thái hậu được thái sư Lý Đạo Thành phò tá.

Nguyên bấy giờ Ỷ Lan Hoàng thái phi là mẹ đẻ của vua, lại là người có tài trị quốc, từng có kinh nghiệm nhiếp chính lúc tiên đế Lý Thánh Tông thân chinh nên được nhiều triều thần ủng hộ. Nhưng Thái sư Lý Đạo Thành là người trọng lễ giáo, ông đã cùng những người ủng hộ suy tôn Thượng Dương Hoàng Thái Hậu - người vợ chính thức của tiên đế Lý Thánh Tông lên làm Nhiếp chính. Thượng Dương Hoàng thái hậu tuy có được danh chính ngôn thuận nhưng là người không thông hiểu chính trị và thiếu uy tín.

Ỷ Lan vốn tự phụ mình là người có công sinh ra vua lại giỏi giang hơn, có nhiều công lao hơn mà không được dự quyền chính nên sinh lòng ghen ghét, bất phục. Cô gái hái dâu vùng Kinh Bắc ngày nào giờ đã trở thành người phụ nữ đầy tham vọng và mưu mô. Bà đã cố gắng thuyết phục Thái uý Lý Thường Kiệt về phe của mình trong cuộc chiến tranh giành quyền lực để làm áp lực lên vua nhỏ Lý Nhân Tông và triều thần. Mặc khác, với thân phận là mẹ đẻ của vua, Ỷ Lan Hoàng thái phi đã nói riêng với vua : "Mẹ già khó nhọc mới có ngày nay, mà bây giờ phú quý người khác được hưởng thế thì sẽ để mẹ già vào đâu?". Vua Lý Nhân Tông đã vì chữ hiếu với mẹ đẻ mà ra tay, Thượng Dương Hoàng thái hậu bị giam lỏng trong cung Thượng Dương cùng với 72 tì nữ của bà.

Năm 1073, vua Lý Nhân Tông cùng một số triều thần lại thể theo tục lệ tuỳ táng vốn thịnh hành trong giới quý tộc thời trung đại, bắt Thượng Dương Hoàng thái hậu và 72 tì nữ phải chết theo tiên đế Lý Thánh Tông. Sau khi Thượng Dương Hoàng thái hậu chết, Ỷ Lan Hoàng thái phi được vua phong làm Linh Nhân Hoàng thái hậu, giữ vai trò nhiếp chính, cùng với Thái uý Lý Thường Kiệt làm phụ chính. Vua phong cho Lý Thường Kiệt chức Đôn Quốc thái uý, Đại tướng quân, Đại tư đồ, gia hiệu Thượng phụ công, đứng đầu cả hai ban văn võ. Thái sư Lý Đạo Thành và toàn bộ những người ủng hộ Thượng Dương hoàng thái hậu đã hoàn toàn thất thế. Thái sư Lý Đạo Thành lãnh chức Tả gián nghị đại phu, được điều ra coi châu Nghệ An. Đối với một vị Thái sư thì chức vụ này chẳng khác gì bị đi đày. Vốn đây là một bước đi loại trừ địch thủ chính trị tại trung ương của Ỷ Lan Linh Nhân Hoàng thái hậu.

Đánh giá về sự kiện này, sử thần Ngô Sĩ Liên triều Hậu Lê đã có nhận xét dưới cái nhìn của đạo đức Ngo gia : Nhân Tông là người nhân hiếu, Linh Nhân là người sùng Phật, sao lại đến nỗi giết đích thái hậu, hãm hại người vô tội, tàn nhẫn đến thế ư? Vì ghen là thường tình của đàn bà, huống chi lại mẹ đẻ mà không được dự chính sự. Linh Nhân dẫu là người hiền cũng không thể nhẫn nại được, cho nên phải kêu với vua. Bấy giờ vua còn trẻ thơ, chỉ biết chiều lòng mẹ là thích, mà không biết là lỗi to. Thái sư Lý Đạo Thành phải ra trấn bên ngoài, biết đâu chẳng vì can gián việc ấy ?

Những sự tranh giành về quyền chính, đấu đá nội bộ này của Đại Việt đã không lọt khỏi tai mắt của thám tử nước Tống. Đây là một trong những tiền đề quan trọng khơi dậy dã tâm xâm lược Đại Việt của vua tôi nước Tống. Tuy quốc lực Đại Việt đầu thời vua Lý Nhân Tông vẫn rất vững mạnh, nhân tài vật lực dồi dào nhưng với nội bộ thiếu đoàn kết, nước ta đã trở thành miếng mồi mà nước Tống nhắm tới.

Quốc Huy

https://2.bp.blogspot.com/-uyWgaJdONrc/Wa_k7HS2t3I/AAAAAAABF5g/9u6u2WIEJWcYFnRPmIc09YF5Pzy39ZkZQCEwYBhgL/s640/103.jpg

15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Hansy

Kỳ 2

NHÀ LÝ NHIỀU LẦN UY HIẾP NHÀ TỐNG
SAU KHI BỊ KHIÊU KHÍCH


Kể từ khi vương triều Lý thành lập cho đến thời vua Lý Thánh Tông thì quan hệ Tống – Việt nhìn chung là khá tốt. Hai nước thường xuyên gởi sứ giả qua lại, quan hệ buôn bán cũng rất phát triển. Người Tống mở các Bạc dịch trường nơi gần biên giới làm nơi trao đổi, buôn bán giữa thương nhân hai nước. Quan hệ thương mại với nước Tống là một phần quan trọng trong việc giao thương của Đại Việt. Các vua Lý tỏ ra nhún nhường với Tống, thường gởi cống phẩm và nhận các sắc phong của vua Tống. Thư từ của vua Đại Việt gởi cho vua Tống gọi là Biểu, một tên gọi dành cho văn bản cấp dưới gởi cho cấp trên. Thư từ, văn bản mà vua Tống gửi cho vua Đại Việt thì gọi là Chiếu, tên gọi dùng cho văn bản vua gởi cho cấp dưới. Mặc dù Đại Việt chấp nhận một mối quan hệ nước lớn, nước nhỏ đối với Tống nhưng cũng tỏ ra rất tự cường trong các chính sách đối nội và đối ngoại. Các vua Lý một mặt vẫn nhận sắc phong Vương của vua Tống, mặc khác vẫn tự xưng Đế, và các vấn đề về biên giới đối với nước Tống rất cương quyết.

Nước Tống tuy ra vẻ bề trên nhưng vẫn sợ uy của triều Lý. Minh chứng rõ nét là khi Nùng Trí Cao nổi lên dựng nước Nam Thiên, ông muốn thuần phục Tống để chống lại Việt nhưng nước Tống đã không dám nhận lời, vì sợ mất lòng triều Lý. Đặc biệt, vào năm 1059 Lý Thánh Tông đã đem quân đánh vào Khâm Châu của Tống, cướp phá các động Tư Lãm, Cổ Vạn, Chiêm Lãng trên đất Tống, uy hiếp thành trì, thị uy rồi rút về. Về nguyên cớ của cuộc tấn công này, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chỉ ghi chép ngắn gọn là “vì người Tống tráo trở”. Thực chất nguyên nhân cụ thể là chính sách thù địch của viên quan Tri châu tên là Tiêu Chú đối với Đại Việt. Tiêu Chú thường xuyên cho người chiêu dụ những tù trưởng biên giới nước ta bỏ Việt theo Tống, ngầm ngầm nuôi bọn du đãng để chống phá Đại Việt và thường dâng thư về triều Tống khuyên gây chiến. Vua Tống biết do cấp dưới mình khiêu khích trước, sợ sẽ bùng phát chiến tranh nên cũng làm lơ cho qua.

Nguyên bấy giờ phía Bắc nước Tống có nước Liêu của người Khiết Đan, nước Tây Hạ của người Đảng Hạng mới lập đều là những nước có quân đội mạnh, là những dân tộc thiện chiến thường xâm lấn quấy nhiễu nước Tống, buộc Tống phải cống nạp để yên ổn. Vì vậy bao nhiêu binh hùng tướng mạnh của Tống chủ yếu dùng để phòng thủ hướng bắc, không có đủ điều kiện để thi hành một chính sách cứng rắn đối với Đại Việt ở phương nam.

Từ khi vua Tống Thần Tông lên ngôi (năm 1067), đã tin dùng Vương An Thạch, phong làm Tể tướng (năm 1069). Tể tướng Vương An Thạch đã tiến hành cải cách mang tên Tân pháp để củng cố lại kinh tế, binh bị của nước Tống. Tân pháp đã mang lại một số thay đổi tích cực cho kinh tế, quân đội. Tiềm lực nước Tống được cải thiện nhiều, nhất là tập trung được các nguồn lực đất nước vào tay triều đình. Nhưng với những biện pháp quá mạnh tay, và hệ thống quan lại thi hành Tân pháp lại có kẻ tham nhũng nên đã vấp phải nhiều sự bất bình và kháng cự của dân chúng cùng giới quan lại thủ cựu. Tể tướng Vương An Thạch cùng vua Tống chủ trương đánh Đại Việt, nước mà ông cho là yếu hơn Liêu, Tây Hạ, vua Lý Nhân Tông lại còn nhỏ tuổi (Lý Nhân Tông, tên thật là Lý Càn Đức lên ngôi khi mới 7 tuổi) để giải toả mâu thuẫn trong nước, dùng chiến công để lấy lại uy thế phe cải cách và uy thế nước Tống, chứng tỏ sự hiệu nghiệm của các Tân pháp, thôn tính mở rộng lãnh thổ, cuối cùng là mưu toan cướp bóc của cải và tài nguyên của Đại Việt để làm giàu cho Tống.

Vốn trong thời trị vì của Lý Thánh Tông, vua tôi nước Tống đã có ý nhòm ngó Đại Việt. Nhưng lúc này họ còn ngại thế lực Đại Việt đang cường thịnh, nội bộ lại đoàn kết. Đến khi biết nội tình Đại Việt có nhiều xáo trộn trong cuộc đổi ngôi, vua mới còn nhỏ thì vua Tống Thần Tông mới hạ quyết tâm. Các quan chức Tống đoán biết ý, đã xàm tấu với vua Tống rằng: "Giao Chỉ vừa đánh Chiêm Thành bị thất bại, quân không còn nổi một vạn, có thể lấy quân Ung Châu sang chiếm Giao Chỉ."

Vua Tống cho mời viên Tri châu Quế là Tiêu Chú để bàn về việc đánh Đại Việt. Tiêu Chú vốn là người thông hiểu tình hình Đại Việt. Tuy trước đây y rất hiếu chiến, nhưng biết tình thế đã thay đổi nhiều nên tỏ ra rất thận trọng. Tiêu Chú đã tâu rằng : “Xưa, tôi cũng có ý ấy. Bấy giờ quân khê động một người ta có thể địch mười; khí giới sắc và cứng; người thân tín thì tay chỉ, miệng bảo, là điều khiển được. Nay, hai điều ấy không như trước; binh giáp không sẵn sàng, người tin chết quá nửa. Mà người Giao Chỉ lại sinh tụ, giáo hối đã mười lăm năm rồi. Bây giờ, nói quân Giao không đầy một vạn thì sợ sai”.

Vua Tống Thần Tông không thích lời tâu này. Lại thêm có viên Hình Bộ lang trung Thẩm Khởi tâu: “Giao Chỉ là đồ hèn mọn. Không lý gì không lấy được”. Vua Tống hài lòng với lời tâu hiếu chiến ấy, bèn giao cho Thẩm Khởi làm Quảng Tây kinh lược sứ. Khởi được phép tự tiện hành sự trước rồi tâu sau, lo chuẩn bị cho chiến tranh. Thẩm Khởi nhân đó mà chuyên quyền

Qua việc bổ nhiệm Thẩm Khởi, vua Tống đã thể hiện rõ ý định xâm lược. Vua tôi nước Tống bàn nhau: “Nếu thắng, thế Tống sẽ tăng, các nước Liêu Hạ sẽ phải kiêng nể”.

Để thực hiện tham vọng xâm lược, nước Tống có nhiều nước đi chuẩn bị kỹ lưỡng.

Về hậu cần lực lượng, ba thành nằm trên đường tiếp vận của quân Tống sang biên giới Đại Việt là Ung Châu, Khâm Châu, Liêm Châu đã trở thành những nơi tích trữ lương thảo, khí giới, mộ tân binh để huấn luyện. Quế Châu cũng được lệnh tăng cường mộ binh trữ lương, huấn luyện quân sĩ, trưng thu thuyền buôn vào làm thuyền chiến. Toàn lộ Quảng Tây nước Tống có đến hàng vạn tân binh được tuyển, tập trung huẩn luyện ở các thành trì. Triều đình Tống dự định sẽ gom số tân binh miền nam Tống và số quân thiện chiến miền bắc Tống để tấn công Đại Việt.

Để yên ổn ở biên thuỳ phía bắc, rảnh tay ở phía nam, vua Tống đã theo lời Vương An Thạch chấp nhận cắt đất 700 dặm ở Hà Đông cho nước Liêu. Vương An Thạch cũng lên kế hoạch lôi kéo Chiêm Thành, vương quốc Khmer vào một liên minh chống Đại Việt. Tình báo được tăng cường sang nước ta thăm dò tin tức, sai viên chuyển vận sứ Quảng Nam Tây Lộ (tên gọi của Quảng Tây đời Tống) là Đỗ Kỷ báo cáo chi tiết về chính trị, địa thế, dân số, đường sá của Đại Việt. Quan chức Tống ở biên giới cấm không cho dân chúng hai nước qua lại buôn bán nữa. Quảng Tây kinh lược sứ Thẩm Khởi của Tống còn cho người sang chiêu dụ các tù trưởng ở các châu động biên giới Đại Việt. Nước Tống một mặt đẩy mạnh quá trình chuẩn bị xâm lược, một mặt lại hết sức đề phòng kế hoạch sẽ bị lộ khiến Đại Việt có sự đề phòng. Tuy nhiên hai điều này vốn mâu thuẫn nhau nên tình báo của Đại Việt đã sớm biết được ý đồ của nước Tống. Vì hoạt động khiêu khích quá lộ liễu mà Thẩm Khởi đã bị vua Tống bãi chức, cho Lưu Di lên thay. Đến lượt mình, Lưu Di vẫn đẩy mạnh những việc mà Thẩm Khởi đã làm càng khiến cho kế hoạch xâm lược của Tống thêm bại lộ. Viên quan giữ thành Ung Châu là Tô Giám đưa thư cho Lưu Di bảo rằng “chớ làm những sự khiêu khích giặc”. Lưu Di không nghe theo, lại trách Giám bàn nhảm và cấm Giám không được bàn nữa.

Nhìn chung, tuy chính sách của vua tôi nước Tống có nhiều đều bất nhất nhưng tựu chung vua Tống đã quyết chí đánh chiếm nước ta. Vấn đề chỉ là nhanh hay chậm, sự chuẩn bị tới đâu mà thôi. Thời gian càng lâu, sự tập trung binh lực và của cải đổ vào cuộc chiến sẽ càng lớn. Cho đến năm 1075, nước Tống đã có những kho tàng, những trạm tiền tiêu lợi hại ở vùng Quảng Tây, đặc biệt là ba căn cứ Ung Châu, Khâm Châu, Liêm Châu tạo thành một thế liên hoàn. Từ đây, tuyến đường xâm lược đã rộng mở cả thuỷ lẫn bộ tiến vào Đại Việt.

Quốc Huy

https://2.bp.blogspot.com/-sVddfqsNxv0/WbOrAMoRASI/AAAAAAABGH4/MdBYAYaiZT09NTfKTqFVejUdZNjjv-DhgCLcBGAs/s640/2.jpg

15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Hansy

Kỳ 3

TRƯỚC KHI PHẠT TỐNG
LÝ THƯỜNG KIỆT NAM CHINH
ĐẠI PHÁ CHIÊM THÀNH


Chiêm Thành là một đất nước của người Chăm nằm ở dải đất miền Trung Việt Nam ngày nay, từng là một nước có nền văn minh phát triển cao. Dân nước này sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp và nghề biển. Họ là những nông dân, ngư dân, thương nhân và cướp biển. Quan hệ giữa hai nước Chiêm – Việt vốn từ lâu rất phức tạp. Chiêm Thành là một nước có truyền thống đối ngoại rất hiếu chiến, đối với lãnh thổ người Việt họ vẫn luôn nhòm ngó xâm lấn để cướp bóc và bành trướng. Nhưng kể từ thời vua Lê Hoàn trở đi, thế lực người Việt đã vươn lên mạnh mẽ lấn lướt người Chăm. Chiêm Thành khi thế yếu thì chấp nhận triều cống Đại Cồ Việt hay về sau là Đại Việt, nhưng hễ mạnh lên lại thường tấn công quấy nhiễu.

Người Việt cũng tỏ ra không hề khoan nhượng. Chỉ với thời gian tái lập quốc gia không lâu, từ thế kỷ thứ 10 đến nửa cuối thế kỷ 11, người Việt đã nhiều lần đánh bại và tàn phá các kinh đô của người Chăm, bắt hoặc giết các vua Chăm. Vua Lê Hoàn từng giết vua Paramesvaravarman I (Bề Mi Thuế), tàn phá kinh đô Indrapura (Đồng Dương) vào năm 982.

Các đời vua Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông đều có chiến tranh với Chiêm Thành và thường là quân Việt giành phần thắng. Năm 1020 tướng Chiêm Thành là Bố Lệnh mang quân tấn công Đại Việt, vua Lý Thái Tổ sai thái tử Lý Phật Mã và tướng Đào Thạc Phụ đem quân chống lại. Quân Chiêm Thành bị đánh bại và chết đến quá nửa, tướng Bố Lệnh bị giết. Năm 1044 người Chăm bại trận trước cuộc tấn công của quân đội vua Lý Thái Tông. Vua Chiêm Thành là Jaya Sinhavarman II (Sạ Đẩu) tử trận cùng với 3 vạn quân, 5.000 người Chiêm Thành bị bắt, Quân Việt thừa thế chém giết dân Chiêm Thành không kể xiết.

Tình cảnh đến mức vua Lý Thái Tông thấy thương xót mà hạ lệnh: "Kẻ nào giết bậy người Chiêm Thành thì sẽ giết không tha". Kinh đô mới của người Chiêm là Vjiaya (Phật Thệ) cũng bị chiếm đóng một thời gian cho đến khi quân Việt chủ động rút lui. Đến năm 1069, vua Lý Thánh Tông lại đánh chiếm được kinh đô Vjiaya, bắt sống vua Rudravarman III (Chế Củ) cùng toàn bộ hoàng gia và nhiều tù binh, buộc vị vua này phải cắt đất ba châu Bố Chính, Ma Linh, Địa Lý (thuộc Quảng Bình, Quảng Trị ngày nay) để chuộc mạng. Ba châu này vốn là đất cũ của nước Văn Lang thưở xưa, đã trở thành lãnh thổ của Chiêm Thành trong thời Bắc thuộc.

Các cuộc chiến Việt – Chiêm được sử sách người Việt ghi chép đều nói nguyên nhân do phía Chiêm Thành khơi màu trước bằng những vụ cướp phá biên giới. Có thể hiểu điều này, vốn nước Chiêm Thành thường có tập quán cướp biển, bắt người để buôn bán nô lệ. Lại thêm nước Chiêm Thành đánh nhau với người Việt thường bị thua nên hễ thế nước mạnh lên là lập tức tổ chức đánh cướp người Việt hòng báo thù.

Kể từ lúc vua Rudravarman III cắt đất cho Đại Việt để chuộc thân, ông đã mất uy tín để lãnh đạo đất nước. Các sứ quân nổi lên cát cứ khắp nước Chiêm Thành. Vua Rudravarman III bị xua đuổi và phải lưu vong sang Đại Việt. Vào năm 1074, một hoàng thân xứ Panduranga nước Chiêm Thành tên là Thăn lên ngôi vua, lấy hiệu là Harivarman IV, chấm dứt thời kỳ loạn lạc. Harivarman IV là người có xuất thân đặc biệt, với cha là người của dòng tộc Cau, mẹ lại là người dòng tộc Dừa. Đây là hai dòng quý tộc lớn nhất của nước Chiêm Thành vẫn thường hay cạnh tranh với nhau.

Vì có xuất thân như vậy, cùng với tài năng của mình mà Harivarman IV đã thu phục được các quý tộc, đoàn kết dân chúng Chiêm Thành. Chỉ trong một thời gian ngắn (1074 – 1075), nước Chiêm Thành đã khôi phục lại sức mạnh của mình. Kinh đô Vjiaya và các đền đài bị tàn phá trong các cuộc chiến tranh được sửa sang lại, nền kinh tế Chiêm Thành được khôi phục dưới sự cai trị của vị vua mới. Vua Harivarman IV đã chủ động kết thân với nước Tống, ông gởi cống phẩm, xin mở rộng buôn bán với Tống và được nước Tống chào đón nhiệt tình. Người Chiêm Thành nhờ đó mà có được nguồn nhập khẩu lương thực mới và nguồn ngựa chiến.

Vua Harivarman IV nuôi chí báo thù Đại Việt. Có được đồng minh và đối tác thương mại mới, trong năm 1075 Chiêm Thành lập tức cắt đứt quan hệ với Đại Việt, ngưng triều cống, tung quân đánh phá ba châu Ma Linh, Bố Chính, Địa Lý mà vua Rudravarman III đã chính thức cắt nhượng cho Đại Việt năm 1069. Trong bối cảnh nước Tống đang ráo riết chuẩn bị xâm lược từ phía bắc, thì quân Chiêm Thành lại đánh phá dữ dội phía nam. Nước Đại Việt lâm vào thế lưỡng đầu thọ địch.

Mùa thu năm 1075, Thái uý Lý Thường Kiệt đã mang đại quân vào nam để đánh Chiêm Thành. Phía Chiêm Thành biết quân Đại Việt đông, thiện chiến và trang bị tốt nên chủ động tránh những trận giao chiến lớn. Quân Đại Việt đã đẩy lui được quân Chiêm Thành ra khỏi biên giới nhưng không gây được thiệt hại đáng kể cho quân Chiêm. Lý Thường Kiệt không dám đưa quân tiến sâu và đất Chiêm Thành như những lần viễn chinh trước của người Việt, vì ông hiểu rằng có một kẻ thù nguy hiểm hơn rất nhiều đang rình rập ở phía bắc. Một bài toán khó được đặt ra với vị Thái uý nước Đại Việt.

Trước tình hình đó, Lý Thường Kiệt cho tổ chức lại bộ máy chính quyền vốn còn sơ sài ở các châu mới sáp nhập, đổi tên châu Ma Linh thành Minh Linh, châu Địa Lý đổi thành châu Lâm Bình. Ông sai người vẽ lại bản đồ chi tiết ba châu Minh Linh, Bố Chính, Lâm Bình. Các dân chúng dũng cảm được chiêu mộ đến để khai khẩn đất đai. Vốn ngay từ thế kỷ X, cư dân người Việt và người Chăm đã chung sống với nhau trên vùng Ma Linh, Bố Chính, Địa Lý nhưng mật độ vẫn còn thưa thớt.

Nay với việc tổ chức di dân quy mô lớn, Lý Thường Kiệt đã khiến số dân người Việt trở nên áp đảo so với người Chăm và làm cho mật độ dân cư vùng này dày hơn, tạo điều kiện cho việc cai trị và phòng thủ lâu dài của chính quyền Đại Việt. Ngoài những người dân nghèo tham gia vào cuộc khai khẩn vùng lãnh thổ mới còn có các thành phần tù tội bị lưu đày, các binh lính trá hình. Mọi việc được gấp rút sắp xếp đặt xong trong một quãng thời gian ngắn, ngay trong cuối thu năm 1075 Lý Thường Kiệt đem đại quân về bắc để chuẩn bị cho những cuộc chiến đấu mới, sau khi để lại một phần quân lực đồn trú ở biên thuỳ phía nam.

Mối nguy Chiêm Thành được giải toả ít nhiều đối với Đại Việt. Nhưng với binh lực vẫn còn gần như nguyên vẹn và ý chí báo thù, đội quân của vua Harivarman IV nước Chiêm Thành vẫn như mũi dao hiểm chực chờ đâm sau lưng nước Đại Việt.

Quốc Huy

https://1.bp.blogspot.com/-27o4JlMeHGo/WbjhBavkd6I/AAAAAAABGnY/rohPfFaWw4ooOga_KTzu6rUXBF_4EWzsgCLcBGAs/s640/1.7.jpg

15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Hansy

Kỳ 4

CHỈ CÓ 7 VẠN QUÂN, LÝ THƯỜNG KIỆT
VẪN ĐÁNH PHỦ ĐẦU 100 VẠN QUÂN TỐNG


Trước sự khiêu khích và chuẩn bị xâm lược của Tống, triều đình nước Đại Việt đã ráo riết nghe ngóng và chuẩn bị nhiều biện pháp để đề phòng. Trong thời đại mà thông tin liên lạc còn hạn chế, từ việc xác minh rõ dã tâm của kẻ địch đến việc tìm biện pháp đối phó là không hề đơn giản mà phải dựa trên một nền tảng tình báo, thông tin kịp thời.

Khi đó, vua Lý Nhân Tông còn nhỏ, trọng trách điều hành đất nước nằm trong tay Ỷ Lan Linh Nhân Hoàng thái hậu và Thái uý Lý Thường Kiệt. Lý Thường Kiệt tuy là người tài danh bậc nhất đương thời và cũng là một trong những nhân vật kiệt xuất nhất sử Việt nhưng tài năng xuất chúng thiên về quân sự, không phải là người kiệt xuất về kinh tế. Còn về Linh Nhân Hoàng thái hậu là một người thông minh và có tầm nhìn, trước đây khi còn là Ỷ Lan Nguyên Phi dưới triều Lý Thánh Tông đã nổi tiếng về tài trị quốc an dân. Nhưng thực ra công lao đó ngoài tài năng của Ỷ Lan còn có phần trợ giúp đắc lực của một nhân vật mà tài đức cũng được xếp hàng đầu nước Đại Việt thời bấy giờ, đó là Thái sư Lý Đạo Thành. Ông là lão thần giữ chức Thái sư trong suốt thời kỳ trị vì của vua Lý Thánh Tông, nổi tiếng về tài kinh bang tế thế, thường được vua giao trông coi chính sự những lúc vua bận đi đánh dẹp. Uy vọng của Lý Đạo Thành rất lớn. Sách Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục triều Nguyễn nhận xét : “Đạo Thành là người thẳng thắn, mỗi khi dâng tấu sớ thì thể nào cũng nói đến sự lợi hay hại ở dân gian. Đối với quan lại nào là người hiền tài, ông đều cất dùng. Đời bấy giờ rất kính trọng ông”.

Trong cuộc đổi ngôi và tranh chấp quyền lực đầu thời vua Lý Nhân Tông, Lý Đạo Thành đã đứng về phía Thượng Dương Hoàng thái hậu vì theo luân lý Nho giáo. Vị Thái sư đã có nhiều động thái trái ý với Linh Nhân Hoàng thái hậu. Vì vậy sau khi Linh Nhân Hoàng thái hậu đắc thắng trong cuộc tranh quyền, bà đã tìm cách loại bỏ Lý Đạo Thành khỏi triều chính bằng cách điều đi trấn giữ ngoài biên. Ngay trong năm 1073, Lý Đạo Thành bị giáng chức làm Tả gián nghị đại phu, tri châu Nghệ An. Bấy giờ tuy lãnh thổ nước Đại Việt đã kéo dài tới châu Ma Linh (Quảng Trị), nhưng vùng được coi là trung châu vẫn chỉ là đồng bằng sông Hồng. Nghệ An vẫn là vùng biên thuỳ hẻo lánh. Ngoài Lý Đạo Thành còn có nhiều lão thần về phe của Thượng Dương Hoàng thái hậu cũng bị cho hưu trí hoặc giáng chức. Việc Lý Đạo Thành bị giáng chức đã làm cho nội bộ triều đình Đại Việt lục đục nghiêm trọng.

Tuy thô bạo và đầy mưu mô trong tranh chấp quyền lực, suy cho cùng Linh Nhân Hoàng thái hậu vẫn không đến nỗi là người vô đức. Bà tuy tìm cách loại bỏ các lão thần chống đối nhưng luôn tránh việc giết chóc như nhiều nhà chính trị vẫn làm, chỉ điều đi xa hoặc cho hưu trí, giáng chức, cô lập. Dưới sự điều hành của bà, Đại Việt tiếp tục phát triển ổn định. Sử sách và giai thoại dân gian cho biết rằng về sau Linh Nhân tỏ ra ăn năn với việc giết hại Thượng Dương Hoàng thái hậu cùng 72 tỳ nữ nên cho xây dựng nhiều chùa tháp, thường xuyên lui tới cửa Phật để sám hối, nghe giảng đạo và bỏ nhiều tiền để chuộc thân cho những con gái nhà nghèo bị bán làm nô tỳ.

Dù việc ăn năn này vô nghĩa đối với người đã chết, nhưng cũng cần được ghi nhận. Năm 1074, trước những nguy cơ ngoại xâm đến từ Tống và Chiêm Thành hiện rõ, Linh Nhân Hoàng thái hậu đã cho triệu hồi Lý Đạo Thành về kinh, phong chức Thái phó Bình chương quốc quân trọng sự. Chức danh này là chức Tể tướng thời Lý, đứng đầu hàng quan văn, phụ trách toàn bộ về nội trị (trừ quân đội). Đây là hành động vừa mang tính thiết thực, chọn đúng người đúng việc vừa mang tính hoà giải của Linh Nhân Hoàng thái hậu. Ngoài ra, bà còn xuống chiếu trọng dụng trở lại các vị lão thần trái ý lúc trước. Động thái hoà giải của Linh Nhân đã được Lý Đạo Thành đáp lại. Ông đã hết lòng phò tá nhà vua mới. Vậy là bộ ba quyền lực bao gồm Ỷ Lan Linh Nhân Hoàng thái hậu, Thái uý Lý Thường Kiệt, Thái phó Lý Đạo Thành đã đồng lòng phò tá vị vua nhỏ Lý Nhân Tông. Nhờ sự hoà giải quan trọng này, khối đại đoàn kết dân tộc được củng cố vững chắc trước những thử thách lớn.

Tình hình ở biên cương phía bắc ngày một nghiêm trọng. Quan lại nước Tống hết sức dùng tiền bạc, lời lẽ dụ dỗ các tù trưởng ở biên giới phía Đại Việt theo Tống. Năm 1073, tù trưởng châu Ân Tình (thuộc Bắc Cạn ngày nay) tên là Nùng Thiện Mỹ nghe lời dụ dỗ của tri châu Thẩm Khởi nước Tống, đem 6.000 người theo Tống. Thẩm Khởi lại chiêu dụ cả tù trưởng Lưu Kỷ ở châu Quảng Nguyên, một người nắm giữ quân lực mạnh và đóng giữ vị trí trọng yếu. Trong năm 1073, Lưu Kỷ suýt nữa đã theo hàng nước Tống nhưng vua Tống Thần Tông không dám nhận.

Lý do là bởi vì Tống tuy muốn đánh nước ta nhưng vẫn chưa chuẩn bị được lực lượng, lại vướng phải những rắc rối ở biên thuỳ phía bắc với nước Liêu, chiến tranh Tống – Thổ Phồn vẫn chưa dứt. Vua Tống biết Lưu Kỷ là viên quan sát của Đại Việt ở biên thuỳ, đóng giữ vị trí trọng yếu. Nhận Lưu Kỷ chẳng khác nào tuyên chiến với Đại Việt. Thẩm Khởi hành động quá lộ liễu nên bị vua Tống bãi chức. Lưu Di lên thay làm Kinh lược sứ Quảng Tây. Vua Tống che mắt Đại Việt bằng việc cách chức vị viên quan hiếu chiến nhưng lại thay thế bằng một viên quan hiếu chiến khác.

Năm 1073, nước Đại Việt chưa thể nhận diện rõ dã tâm xâm lược của Tống. Triều đình Đại Việt vẫn gởi những thư từ ngoại giao phàn nàn về việc cắt đứt thông thương đến vua Tống nhưng các quan chức biên giới Tống không thèm chuyển thư. Lưu Di vẫn làm những việc đóng chiến thuyền, trưng thu thuyền buôn vào thuỷ quân, cấm dân hai nước buôn bán. Từ năm 1073 đến 1075, đã có nhiều tin tức và đồn đoán về việc nước Tống có ý định tấn công Đại Việt.Nhất là việc các thành trì phía nam nước Tống tích cực mộ binh và huấn luyện. Có người Tống là Tư Bá Trường vì tư lợi mà ngầm viết thư cho vua Lý Nhân Tông tố giác ý định xâm lược, xui quân Đại Việt đánh trước và xin làm nội ứng.Những việc đó đã làm cho phía Đại Việt càng cảm nhận rõ hơn về chiến tranh đang đến gần.

Đại Việt cho tăng cường quân đội ở gần biên giới để đề phòng. Đầu năm 1075, triều đình Đại Việt sai người vượt biển đưa thư cho vua Tống (vì các quan lại biên giới trên bộ không chuyển thư nên phải đi vòng đường biển để đưa thư) đòi trả bọn Nùng Thiện Mỹ và những người phản Việt theo Tống, vua Tống không trả lời. Phía ta lại tiếp tục gởi một số thư từ nữa những Lưu Di dấu thư không thèm chuyển đi, y lại càng thả sức dụ dỗ dân chúng vùng biên giới.Bằng những dữ liệu như vậy cùng với các tin tức thám báo, phía Đại Việt đã không còn nghi ngờ gì nữa về âm mưu xâm lược của nước Tống.

Nhận biết rõ ý đồ của nước Tống, Thái uý Lý Thường Kiệt đã tâu lên triều đình:“Ngồi yên đợi giặc không bằng đem quân ra trước để chặn mũi nhọn của giặc”. Lời tâu của ông nhận được sự tán thành của vua và các triều thần.Năm 1075, ngay sau khi đi tuần biên giới phía nam chống quân Chiêm Thành trở về, Lý Thường Kiệt bắt tay ngay vào việc chuẩn bị cuộc Bắc chinh. Lý Thường Kiệt lĩnh chức Đại nguyên soái, thống lĩnh quân đội chuẩn bị một cuộc tấn công phủ đầu quy mô lớn đánh vào nội địa nước Tống. Thời bấy giờ, tổng quân số thường trực nước Tống khoảng chừng 100 vạn quân, còn quân đội thường trực nước Đại Việt có khoảng 7 vạn quân. Trong thế bị dồn vào chân tường, quân đội Đại Việt thời Lý Nhân Tông chuẩn bị làm một việc mà đa phần người Tống khó có thể ngờ được: Một đất nước nhỏ bé dám chủ động tấn công một đế chế đông dân, có lãnh thổ lớn hơn gấp hàng chục lần và quân đội thường trực cũng đông hơn mười mấy lần.

Quốc Huy

https://3.bp.blogspot.com/-KR59t4pzP04/Wb4WnPj7-yI/AAAAAAABG5w/9r3Ugh0cVkcWXrYtTqJXth2lFdQ0vMfmgCLcBGAs/s640/4.jpg

15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Hansy

Kỳ 5

LÝ THƯỜNG KIỆT PHẠT TỐNG
TẤN CÔNG TOÀN BIÊN GIỚI
CHÉM TƯỚNG PHÁ ĐỒN


Để bẻ gãy cuộc xâm lược của nước Tống ngay từ trong trứng nước, triều đình Đại Việt đã quyết định hành động theo kế hoạch của Thái uý Lý Thường Kiệt mở một cuộc tấn công phủ đầu quy mô lớn vào đất Tống. Mục tiêu cụ thể của cuộc tấn công này chính là ba thành Ung Châu (thuộc Nam Ninh, Quảng Tây ngày nay), Khâm Châu, Liêm Châu (thuộc Quảng Tây ngày nay). Đó là những điểm tập kết lương thảo, khí giới, nhân lực của quân Tống dành cho cuộc xâm lược Đại Việt, cũng là những đầu mối giao thông quan trọng trên tuyến đường vận chuyển của nước Tống về phía nam. Chính Thái uý Lý Thường Kiệt là người được giao quyền tổng chỉ huy trong chiến dịch sống còn này.

Thoạt nhìn tương quan lực lượng hai nước, có lẽ nhiều người sẽ nghĩ cuộc tấn công của Lý Thường Kiệt vào đất Tống chẳng khác nào tự sát, lấy trứng chọi đá. Dân số ước tính của nước Tống thời bấy giờ khoảng 40 triệu người, quân số có tới hơn 100 vạn quân thường trực. Trong khi đó dân số Đại Việt thời này ước tính khoảng 4 triệu người, quân thường trực có chừng 7 vạn. Nhưng xét kỹ sẽ thấy, bấy giờ năm 1075 quân đội nước Tống đa phần lính tráng tinh nhuệ vẫn đóng ở biên thuỳ phía bắc để phòng thủ hai nước Liêu, Hạ. Số quân ở phía nam kém hơn, và cũng ít hơn. Quân số toàn lộ Quảng Tây của Tống ít hơn quân số Đại Việt.

Nước Tống rộng lớn, để tập trung được số quân đông cho các trận chiến cần phải có đủ thời gian di chuyển trên những quãng đường dài để tập họp. Kể cả thông tin liên lạc từ lộ Quảng Tây tới triều đình Tống và ngược lại cũng là cả một vấn đề lớn. Tin tức từ biên giới Tống – Việt về đến Biện Kinh nước Tống thời bấy giờ trung bình mất khoảng một tháng rưỡi. Nếu gặp phải những đội quân cơ động nhanh, dùng chiến thuật tốc chiến để diệt từng điểm một trên lãnh thổ thì quân Tống ắt sẽ gặp cảnh khốn đốn vì thông tin liên lạc chậm và không kịp điều quân cứu viện. Đó chính là chìa khoá để nước nhỏ có thể đánh thắng, thậm chí thôn tính nước lớn.

Lý Thường Kiệt làm tổng chỉ huy toàn đội quân Bắc chinh đông tới khoảng 10 vạn quân, xuất quân vào tháng 10.1075. Trong đó bộ binh gồm phần lớn là quân các châu động phía Bắc do tướng Tông Đản làm tổng chỉ huy, dưới trướng Tông Đản là các tù trưởng ở các châu động biên giới phía bắc Đại Việt. Bao gồm Lưu Kỷ tri châu Quảng Nguyên, Hoàng Kim Mãn tri châu Môn, Thân Cảnh Phúc tri Lạng Châu, Vi Thủ An tri châu Tô Mậu… Mỗi tù trưởng đều có quân bản bộ chừng vài ngàn. Khi có chiến sự, triều đình sẽ điều động họ tham chiến. Các tù trưởng đều tự cầm quân của mình, phối hợp với nhau dưới trướng một tổng chỉ huy chung. Tổng binh lực cánh bộ binh chừng 4 vạn quân, tập kết ở các châu Quảng Nguyên, châu Môn, Quang Lang, Tô Mậu phụ trách tấn công biên giới Tống từ phía Tây Nam. Quân đội các châu động đi đánh trận mang cả vợ con đi theo. Cả đoàn người vừa quân lính vừa gia đình đông đến 6 – 7 vạn người, đánh đến đâu cướp kho lương của địch làm lương ăn đến đấy.

Chủ lực là quân chính quy triều đình gồm khoảng 6 vạn quân do Lý Thường Kiệt đích thân chỉ huy đóng ở châu Vĩnh An với một đội chiến thuyền hùng hậu. Thuyền chiến dùng trong chiến dịch này là loại thuyền biển to lớn, chở theo cả tượng binh. Cánh quân này phụ trách tấn công từ phía ven biển các châu Khâm, Liêm. Quân đội Đại Việt thời Lý tuy thời bình không đông, nhưng khi có chiến tranh thì lập tức điều động được một số lượng lớn quân lính. Đó là nhờ chính sách Ngụ Binh Ư Nông nổi tiếng. Các trai tráng trong nước đều được thống kê hộ tịch gọi là các Hoàng nam. Các Hoàng nam khoẻ mạnh nhất sẽ sung quân nhưng vẫn ở nhà làm ruộng và luyện tập trong thời bình, chỉ giữ lại một số quân nhất định trong đội ngũ. Số quân làm ruộng sẽ được điều động khi có chiến tranh.
…………
Dân chúng Đại Việt thời Lý rất thượng võ, người dân đa phần tráng kiện. Khi có chiến tranh lớn đe doạ đến tồn vong của đất nước thì tất cả Hoàng nam sẽ nhập ngũ, số dân chúng còn lại cũng tổ chức thành các đội dân binh hay giúp việc hậu cần. Nhờ chính sách hộ tịch chặt chẽ và chính sách quân ngũ ưu việt, dân tộc Việt thời Lý thực sự là một dân tộc chiến binh. Thời điểm Lý Thường Kiệt tấn công phủ đầu nước Tống, cấm quân tinh nhuệ bậc nhất của Đại Việt không tham chiến mà nhận nhiệm vụ trú phòng tại kinh thành Thăng Long vì quân vương còn nhỏ. Tuy vậy đa phần quân lính trong số 6 vạn quân theo Lý Thường Kiệt bắc chinh cũng là những quân lính dày dặn trận mạc, chất lượng hơn hẳn quân Tống ở biên thuỳ phía nam.

Đầu tiên, cánh quân của tù trưởng Vi Thủ An từ Tô Mậu được lệnh tấn chiếm trại Cổ Vạn của Tống vào ngày 27.10.1075 mở màn cho chiến dịch. Trại này nhanh chóng bị chiếm. Đó là bước thăm dò và là mồi nhử quân Ung Châu rời thành. Quân Tống thấy quân châu động chiếm trại, đã điều quân đồn trú từ thành Ung Châu xuống các trại biên giới để phòng bị. Nhưng mặc khác vì thấy quân tấn công chỉ là quân của tù trưởng, phía Tống vẫn cho rằng đây chẳng qua là vụ đánh phá mang tính cục bộ ở biên giới. Vua Tống hạ chỉ cho quan lại biên giới không làm lớn chuyện hòng che giấu âm mưu chuẩn bị đánh chiếm nước ta.

Nắm thời cơ, vào tháng 11.1075 bộ binh Đại Việt tấn công chớp nhoáng trên toàn tuyến biên giới. Các trại Hoành Sơn, Vĩnh Bình, Thái Bình, Tây Bình của Tống nằm gần biên giới lần lượt bị chiếm nhanh chóng. Quân Tống bị thiệt hại nặng nề, hầu như không còn quân che chắn hướng Tây Nam cho thành Ung Châu. Các tướng giữ trại của Tống là Lâm Mậu Thăng, Tô Tá, Ngũ Cử, Quách Vĩnh Nghiêm đều bị giết. Tông Đản cho hội quân thẳng tiến thành Ung Châu như vào chốn không người. Cánh quân của Tông Đản vừa hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiếm cứ các châu động biên thuỳ làm bàn đạp tấn công thành Ung Châu, vừa dẫn dụ và tiêu diệt một phần lớn sinh lực quân đồn trú từ thành Ung Châu kéo tới. Ngoài ra, cánh quân này cũng hoàn thành nhiệm vụ nghi binh, đánh lạc hướng quân Tống. Tạo điều kiện cho đại quân của Lý Thường Kiệt đánh úp từ phía Đông Nam thuận lợi.

Quốc Huy

https://3.bp.blogspot.com/-WkqewNXosYQ/WcNaorZojmI/AAAAAAABHMw/7zaPeh2pZPkBw4RLtpDwg0Bl-2yathiagCLcBGAs/s640/1.6.jpg

15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Hansy

Kỳ 6

LÝ THƯỜNG KIỆT VƯỢT THẬP VẠN ĐẠI SƠN
BẮT SỐNG HÀNG NGÀN TÙ BINH TỐNG


Trong khi các hướng quân Tống đang dồn sự chú ý về phía cánh quân phía Tây của Tông Đản thì giữa tháng 11.1075 Lý Thường Kiệt bất ngờ xuất kích từ châu Vĩnh An, dùng binh thuyền vượt biển đổ bộ lên cảng Khâm. Ngày 20.11.1075 Quân Đại Việt nhanh chóng tràn vào thành Khâm Châu bắt quan giữ thành Khâm Châu là Trần Vĩnh Thái cùng toàn bộ thuộc hạ, thu nhiều của cải. Khi quân của Lý Thường Kiệt tấn công vào thành, Trần Vĩnh Thái vẫn chưa hay biết mà đang bày rượu uống. Thành Liêm Châu bây giờ mới phòng bị thì đã muộn, ba ngày sau Liêm Châu cũng bị hạ gọn gàng bởi lực lượng Đại Việt đông hơn gấp nhiều lần. Quan giữ thành là Lỗ Khánh Tôn cùng thuộc hạ bị giết chết. Quân Đại Việt bắt hơn 8000 tù binh tại thành Liêm Châu, ép làm khuân vác thu gom của cải đem xuống thuyền. Vậy là cánh quân của Lý Thường Kiệt chiếm trọn hai châu quan trọng của Tống là Khâm, Liêm mà chẳng thiệt hại gì lớn.

Cùng lúc với cuộc tấn công bằng đường biển, một cánh quân chính quy triều đình cũng xuất phát từ châu Vĩnh An theo đường bộ tấn chiếm các trại Như Hồng, Như Tích, Để Trạo của Tống và nhanh chóng chiếm lĩnh các trại này, các chúa trại phía Tống đều bị giết. Mọi thứ diễn ra đúng như toan tính của Thái uý Lý Thường Kiệt.

Chiến cuộc Ung – Khâm – Liêm diễn ra vô cùng chớp nhoáng và nhanh chóng nhưng triều đình Tống vẫn chưa có hành động gì nhiều do thông tin chậm. Trong khi quân Tống đã bị đánh tan tác ở Khâm Châu, Liêm Châu và tuyến biên giới Ung Châu trong tháng 11.1075 thì đến đầu tháng 12.1075 triều đình nhà Tống mới nhận được tin quân Đại Việt hội quân gần biên giới. Cứ thế các tin tức thất thủ Khâm Châu, Liêm Châu … về đến triều đình Tống đều phải mất khoảng thời gian một tháng sau khi sự việc diễn ra. Nhờ có những sự chậm trễ này mà quân ta có thêm phần lợi thế.

Cùng với cánh quân của Tông Đản ở phía Tây Nam, cánh quân của Lý Thường Kiệt từ Khâm Châu vượt qua Thập Vạn Đại Sơn thẳng tiến thành Ung Châu từ phía Đông Nam. Trước khi tiến quân ông hạ lệnh giết hết 8.000 tù binh vì không đủ quân trông coi số tù binh này. Đồng thời ông cho một cánh quân từ Liêm Châu tiến về phía Đông Bắc đánh chiếm Bạch Châu, Dung Châu để làm nơi trú chân đề phòng viện binh của Tống, giết chết hàng loạt quan quân giữ thành. Tuy mục tiêu chính yếu tiếp theo của cuộc tiến công là hạ thành Ung Châu nhưng với việc tiến chiếm các thành Bạch Châu, Dung Châu thì quân Đại Việt càng làm cho sự phán đoán của quân Tống thêm mù mờ.

Người Tống vừa lo sợ quân Đại Việt chiếm Ung Châu, vừa ngại Lý Thường Kiệt sẽ tiến quân về phía đông bắc để chiếm các thành trì khác thuộc lộ Quảng Đông. Điều này càng làm cho lực lượng quân Tống thêm phân tán, vua Tống không dám điều quân từ các thành trì lộ Quảng Đông xuống để đánh với quân Đại Việt mà hạ lệnh cho các thành này cố thủ. Một lần nữa quân Tống trúng kế nghi binh của Lý Thường Kiệt. Do đó, quân Đại Việt rảnh tay dốc gần như toàn lực bao vây thành Ung Châu. Nhìn chiến cuộc Ung – Khâm – Liêm sẽ thấy rằng quân Đại Việt luôn áp đảo về quân số tại điểm nóng chiến trường, trong khi đó tổng lực lượng quân Tống ở hai lộ Quảng Tây, Quảng Đông so với quân Đại Việt cũng không đến mức quá chênh lệch nhưng luôn luôn bị phân tán dẫn đến hoàn toàn bị áp đảo về quân số.

Vậy là cả hai cánh quân Đại Việt đều ra quân đại thắng, thừa thế chẻ tre thẳng tiến thành Ung Châu. Thành này thời bấy giờ nổi tiếng là cứng và chắc, thành cao hào sâu, khí giới tối tân bậc nhất. Cuộc chiến khốc liệt thật sự đang chờ đón đoàn quân Đại Việt.

Sau khi hạ các thành Khâm, Liêm, Bạch, Dung và các điểm phòng thủ tuyến biên giới, hai cánh quân của Tông Đản và Lý Thường Kiệt đã tiến quân bao vây thành Ung Châu . Lo ngại dân chúng nước Tống vì tự tôn dân tộc mà ứng nghĩa ngăn cản quân đội Đại Việt, Lý Thường Kiệt cho soạn thảo các văn bản kể tội triều đình Tống, nêu rõ danh nghĩa xuất quân của Đại Việt gọi là Phạt Tống Lộ Bố Văn rồi cho người niêm yết dọc đường tiến quân. Có nhiều bản Bố Văn khác nhau. Một trong những bản Bố văn điển hình viết :

"Trời sinh ra dân chúng, Vua hiền ắt hoà mục. Đạo làm chủ dân, cốt ở nuôi dân. Nay nghe vua Tống ngu hèn, chẳng tuân theo khuôn phép thánh nhân, lại tin kế tham tà của Vương An Thạch, bày những phép "thanh miêu", "trợ dịch", khiến trăm họ mệt nhọc lầm than mà riêng thoả cái mưu nuôi mình béo mập.

Bởi tính mệnh muôn dân đều phú bẩm tự trời, thế mà bỗng sa vào cảnh éo le độc hại. Lượng kẻ ở trên cố nhiên phải xót. Những việc từ trước, thôi nói làm gì!

Nay bản chức vâng mệnh quốc vương chỉ đường tiến quân lên Bắc, muốn dẹp yên làn sóng yêu nghiệt, chỉ có ý phân biệt quốc thổ, không phân biệt chúng dân. Phải quét sạch nhơ bẩn hôi tanh để đến thuở ca ngày Nghiêu, hưởng tháng Thuấn thăng bình!

Ta nay ra quân, cốt để cứu vớt muôn dân khỏi nơi chìm đắm. Hịch văn truyền tới để mọi người cùng nghe. Ai nấy hãy tự đắn đo, chớ có mang lòng sợ hãi !"

Một đoạn Bố văn khác thì viết: “Có những dân Giao Chỉ làm phản rồi trốn sang Trung Quốc. Các quan lại dung nạp và giấu đi. Ta đã khiến sứ sang tố giác các việc ấy, quan coi Quế Châu không chịu trả lời. Ta lại sai sứ vượt bể sang tố cáo với Quảng Châu, quan coi Quảng Châu cũng không chịu báo. Vì vậy, quân ta tới đuổi bắt dân trốn ấy...”

Lại có đoạn Bố văn tố cáo việc triều đình Tống chuẩn bị đánh Đại Việt: “… Quan coi Quế Châu đã kiểm điểm dân các động và đã tuyên bố rõ rằng muốn sang đánh Giao Chỉ…”

Những bản Bố văn truyền ra đem lại nhiều hiệu quả. Đây là đòn dân vận cao tay của Lý Thường Kiệt ngay trên lãnh thổ của nước đối địch. Việc tiến quân được thuận lợi, quân ta chỉ phải đương đầu với quân triều đình Tống mà không vấp phải sự kháng cự tự phát của dân chúng, nhất là các tuyến hậu cần được an toàn.

Hiệu quả của các bố văn được người Việt đời sau kể lại : “Dân Tống thấy lời tuyên cáo, đều vui mừng, đem trâu rượu khao quân ta. Từ đó, mỗi lúc dân Tống thấy hiệu cờ Thường Kiệt đàng xa, thì nói đó là quân của cha họ Lý người nước Nam, rồi cùng nhau bày hương án bái phục bên đường. Nhờ đó mà uy thanh quân ta lan khắp”.

Quốc Huy

https://2.bp.blogspot.com/-luY7WKHvuZc/WcdXvVU21zI/AAAAAAABH2A/WX1Z9SUojfEH8l-aZbMOfxYWszBlvkdDQCLcBGAs/s640/8.jpg

15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Hansy

Kỳ 7

LÝ THƯỜNG KIỆT DÙNG TƯỢNG BINH
MÁY BẮN ĐÁ, CÔNG PHÁ UNG CHÂU


Cánh quân của Lang trung tướng quân Tông Đản đã tới chân thành Ung Châu trước vào ngày 18.1.1076. Ngay sau đó mấy ngày cánh quân Lý Thường Kiệt cũng kịp tới hội quân. Quân Đại Việt hợp sức vây thành tới mấy vòng. Tri châu Tô Giám dựa vào thành cao hào sâu, khí giới lương thực dồi dào để cố thủ. Do trúng kế của quân Đại Việt gây tổn thất nhiều quân ở tuyến biên giới nên binh lực Ung Châu còn khá ít, quân chính quy chỉ còn có 2.800 người. Khi quân Đại Việt rầm rộ kéo tới, dân chúng thành Ung Châu sợ hãi mà trở nên hỗn loạn, chen nhau tìm cách chạy trốn. Tô Giám cho quân lính tập họp dân chúng, đem hết của cải công và của riêng ra khích lệ, rồi dùng lời phủ dụ : “Khí giới ta đã dự bị đủ, lương thực trữ cũng không thiếu. Bây giờ giặc đã đến dưới thành. Chỉ còn cách cố thủ lấy thành để đợi ngoại viện, ắt là ta sẽ thắng. Nếu có một ai chạy, thì lòng dân sẽ náo động, và đại sự sẽ hỏng. Nếu các ngươi nghe ta, thì sẽ được hậu thưởng. Nếu có ai không nghe mà bỏ chạy, thì ta sẽ chém”. Dân chúng toàn thành do vậy mà răm rắp nghe theo. Giám gom cả quân chính quy lẫn dân binh được khoảng 5000 quân chiến đấu, điều động toàn bộ dân chúng thành Ung Châu chừng gần 6 vạn người làm phu phen, trợ chiến và tham gia thủ thành.

Quân Đại Việt ban đầu dùng máy bắn đá bắn vào thành, giết nhiều quân dân Tống. Lại dùng thang vân thê (thang lắp trên xe đẩy) trèo lên tường thành thì bị quân Tống dùng đuốc dầu và hoả tiễn đốt cháy thang. Thành cao, tượng binh Đại Việt không phát huy được nhiều. Tô Giám nhân lúc sơ hở dùng 100 quân cảm tử chèo thuyền nhỏ men theo sông Ung Giang tập kích quân ta làm thiệt hại 10 voi chiến và hai viên tướng, toàn bộ quân tập kích cũng bỏ mạng. Quân Ung Châu dùng nỏ Thần tý – một loại nỏ lớn bắn một phát được nhiều mũi tên với sức công phá lớn bắn vào quân Đại Việt công thành gây thương vong nhiều. Quân Đại Việt không giáp chiến được, lại lui ra xa dùng máy bắn đá bắn vào thành, vây bức không cho quân dân thành Ung Châu ra ngoài thành lấy nước.

Lưu Di ở thành Quế Châu hay tin Ung Châu bị vây, sai viên Đô giám Trương Thủ Tiết đem quân đi cứu viện. Trương Thủ Tiết sợ quân Đại Việt sẽ hạ thành Ung Châu sớm, lại nghe tin báo quân Đại Việt rất đông nên cho dừng quân dọc đường nghe ngóng được thua chứ không tiến nhanh. Trương Thủ Tiết dẫn quân đi đường vòng từ Quế Châu tới Tân Châu, đóng quân ở trại Khang Hoà theo dõi động tĩnh. Tô Giám sai người đem thư bọc sáp vượt vòng vây cấp báo cho viên Đề điểm hình ngục Tống Cầu. Tống Cầu nhận thư, sang đốc thúc Trương Thủ Tiết. Thủ Tiết bấy giờ mới tiến quân. Lý Thường Kiệt đang vây Ung Châu thì nhận được tin từ quân do thám rằng quân cứu viện đang trên đường tới, liền chia quân đặt mai phục ở ải Côn Lôn, một nơi hiểm yếu nằm giữa đường từ Tân Châu tới Ung Châu. Trương Thủ Tiết dẫn quân tới Côn Lôn bị đánh úp không kịp trở tay, quân Tống phút chốc tan chạy, bị bắt và bị giết rất nhiều. Trương Thủ Tiết bị chém ngay tại trận tiền cùng các quan tướng khác là Đề cử Tả Giang Ôn Nguyên Dụ, Đô giám Hồ Nam Trương Biện, Tuần kiểm các châu Ung - Tân Hứu Dự, Tuần kiểm các châu Liễu – Tân – Tượng Vương Trấn. Đạo viện binh quan trọng này của Tống bị diệt, Ung Châu đã hoàn toàn bị cô lập.

Trong khi quân ta vây thành Ung Châu thì vua Tống mới nhận được tin Khâm Châu thất thủ. Triều đình nước Tống náo động. Ty kinh lược Quảng Nam Tây Lộ nước Tống dời về thành Tượng, xin cấp thêm 2 vạn quân tiếp viện, 1 ngàn ngựa và một tháng lương cùng khí giới để chống quân ta. Vua Tống lệnh cho toàn lộ Quảng Nam Đông Lộ (Quảng Đông), Quảng Nam Tây Lộ (Quảng Tây) tăng cường bố phòng, cố thủ nơi hiểm yếu. Liền sau đó hai ngày thì tin Liêm Châu thất thủ về tới kinh đô nước Tống. Vua Tống tỏ ra bối rối, ra hai chiếu chỉ ngược ý nhau cho Ti kinh lược Quảng Tây. Ban đầu vua Tống hạ chiếu : “Nếu xem chừng có quân Giao Chỉ tới đâu mà không đủ quân giữ, thì chỉ giữ mấy chỗ hiểm yếu mà thôi…” nhưng rồi lại dặn : “Nếu quân bỏ thành mà đi chỗ khác, thì lo rằng lòng dân rối sợ. Hãy bảo các quan ti đều phải trở lại thành mình” . Sau đó, triều đình Tống đã lên kế hoạch chấn chỉnh và phản công. Lưu Di bị cắt chức Kinh lược sứ, Thạch Giám được cử thay. Vua Tống cho tuyển thêm tân binh, dồn quân, chuyển lương tới thành Quế Châu.

Mặt khác, Tống triều vẫn tự tin là thành Ung Châu cao và chắc, cho rằng quân Đại Việt không thể hạ nổi. Vương An Thạch tâu với vua Tống: “Thành Ung Châu rất chắc, quyết là không phá nổi”. Vua Tống tin vậy, nhân đó chuẩn bị một đội quân đông đảo rút từ phía Bắc nước Tống giao cho tướng Triệu Tiết chỉ huy dự định sẽ đánh thẳng vào Đại Việt, nhằm gián tiếp buộc Lý Thường Kiệt phải rút quân, giải vây cho Ung Châu và để báo thù, thôn tính nước Đại Việt như chiến lược vạch ra trước đó. Đội quân này chủ yếu được rút từ biên giới phía Bắc nước Tống, tổng quân số khoảng 10 vạn với những tướng lĩnh dày dạn kinh nghiệm. Ngoài chánh tướng là Triệu Tiết, vua Tống còn cử hoạn quan Lý Hiến và tướng Yên Đạt làm phó tướng.

Trong khi đại bộ phận quân chủ lực của Đại Việt còn giằng co với quân Tống ở thành Ung Châu thì chủ trương dùng một đạo quân đánh thẳng vào lãnh thổ Đại Việt là một đòn hiểm của Tống triều. Thành Ung Châu trong chiến lược của vua tôi nước Tống vốn là nơi tập kết chủ chốt của cải và nhân lực để tấn công Đại Việt, thì nay trở thành một điểm cầm chân quân chủ lực Đại Việt để đại quân Tống tấn công bằng con đường khác đánh thẳng vào nước Đại Việt. Từ đây chiến sự thành Ung Châu không chỉ là vấn đề đánh tan một căn cứ hậu cần xâm lược của nước Tống mà yêu cầu đặt ra đối với đạo quân dưới trướng Lý Thường Kiệt là phải hạ thành sớm và có phương án bảo toàn lực lượng để kịp thời bố trí phòng thủ ở trong nước, chuẩn bị đón đại quân Tống sắp tiến sang. Bởi nếu không hạ được thành Ung Châu mà sớm rút quân, mục tiêu chiến lược của cuộc Bắc phạt coi như không hoàn thành trọn vẹn và từ Ung Châu quân Tống sẽ có một bàn đạp thuận lợi để xâm lược. Còn nếu tốn quá nhiều thời gian hay quân lực cho chiến sự Ung Châu, Đại Việt sẽ bị hở sườn và nguy cơ bị đánh úp trong lúc quân chủ lực không có mặt trong nước, nguy cơ mất nước lại càng lớn hơn.

Quốc Huy

https://4.bp.blogspot.com/-dL5gogAPkbk/WcslC8ZGSxI/AAAAAAABIIM/0RQMnSpR8NQc4a31ZeEU9WFNCtQOQpSiwCLcBGAs/s640/6.jpg

15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Hansy

Kỳ 8

LÝ THƯỜNG KIỆT HẠ THÀNH UNG CHÂU
XÁC QUÂN TỐNG CHẤT CAO NHƯ NÚI


Dù bị bất ngờ và tổn thất nặng nề ở vùng biên thuỳ phía nam bởi cuộc tấn công của Lý Thường Kiệt, nước Tống vẫn còn tiềm lực rất lớn. Vua Tống và Vương An Thạch bàn nhau dựa vào sự kiên cố của thành Ung Châu để cầm chân quân Đại Việt, rồi cho một đạo quân lớn đi đường khác đánh thẳng vào lãnh thổ Đại Việt. Vương An Thạch thay vua Tống soạn tờ thư chiêu hàng gọi là Thảo Giao Chỉ Chiếu để dùng cho việc khuất phục tinh thần quân dân Đại Việt, cũng là đối đáp lại những lời lẽ của các văn bản Phạt Tống Lộ Bố Văn mà Lý Thường Kiệt đã cho yết bảng dọc đường tiến quân. “Thảo Giao Chỉ Chiếu” có những lời lẽ thể hiện rõ tư tưởng hống hách của nước lớn, ra vẻ bề trên vừa xoa dịu dụ dỗ, vừa đe doạ vũ lực đối với quân dân Việt. Lời chiếu như sau:

“Xét lại nước An Nam đời đời hưởng vương tước, các triều trước đối đãi khoan hậu, khi nào cũng bao dung tha thứ, mãi đến ngày nay. Nay lại xâm phạm thành ấp, sát hại quân dân, đã phạm pháp kỷ thì không thể tha thứ được. Vâng mệnh trời mà chinh phạt, tức là có danh nghĩa. Vậy sai Triệu Tiết sung làm chức An Nam đạo hành dinh, Mã Bộ Quân Đô Tổng Quản Kinh Lược Chiêu Thảo Sứ, Lý Hiến sung làm chức Phó Sứ, Yên Đạt sung làm chức Mã Bộ Phó Sứ Đô Tổng Quản , thuận theo thời lệnh mà dấy binh đường thuỷ và đường bộ tiến quân. Ý trời tỏ ra giúp thuận, hiện ra những điểm chỉ vẽ rõ ràng. Người nào biết hối hận, đều giữ khí khái đối địch quân thù, những nơi nào quân vua tới sẽ không tổn hại đến thường dân và tàn sát kẻ bại trận.

Hỡi nhân dân đã lâu ngày sống trong cảnh lầm than, nếu biết khuyên dụ chủ mình nội phụ, xuất chúng qui phục, bắt giặc hiến cống, đem mình hiếu thuận, thì sẽ được thưởng tứ tước lộc, vinh hiển bội phần, những tội lỗi trước đây đều được ân xá. Càn Đức đương còn ấu trĩ, chính lệnh không do y mà ra, khi nào lai triều cũng sẽ được tiếp đãi trọng hậu như trước. Lời ta không sai, chớ có nghe lầm. Gần đây, ta nghe nhân dân bị bóc lột cực khổ, ta đã căn dặn sứ thần truyền đạt ân chiếu của ta, sự tàn bạo và thuế nặng đều được tẩy trừ. Mong rằng một nước chư hầu của ta luôn được yên vui.”

Thành Ung Châu kiên cố và có nhiều quân lương, khí giới do đây là nơi tập kết của cải của nước Tống để đánh Đại Việt. Tô Giám lại là một tướng lão luyện của Tống. Y dùng tài sản phân phát cho dân chúng trong thành, dùng lời khích lệ tinh thần khiến cho cả thành đồng lòng cố thủ. Lý Thường Kiệt vây thành ngót hơn một tháng không thể hạ nổi. Quân Đại Việt nghĩ cách đào hầm xuyên qua hào sâu và tường thành để đột nhập vào trong thành. Quân Ung Châu phát hiện được hầm, Tô Giám cho phóng hoả đốt ngay miệng hầm khiến quân Đại Việt lại bị thương vong. Quân Đại Việt dùng hoả công, bắn các loại đạn gây cháy từ máy bắn đá và hoả tiễn vào trong thành gây nhiều thương vong cho dân chúng và binh lính Tống. Thành Ung Châu bị cháy nhiều nơi, không đủ nước dập lửa.

Trong thành lại bị thiếu nước uống, dân chúng phải uống nước dơ bẩn, dịch bệnh do đó mà bùng phát khiến rất nhiều dân chúng bị chết. Dù vậy tường thành vẫn không hạ được. Đạn từ máy bắn đá thời kỳ này tỏ ra không đủ sức đánh thủng tường thành Ung Châu . Cuối cùng, Lý Thường Kiệt dùng kế thổ công. Ông sai quân lấy đất xúc vào bao, làm đến hàng vạn bao đất rồi bắt tù binh người Tống liều mạng vượt qua mưa tên khiên bao đất xếp dưới chân thành để tạo thành bực thềm. Chẳng mấy chốc đã làm được một đường dốc cao tới mặt thành. Quân Đại Việt theo đó tràn vào thành như nước vỡ bờ, thế không ai địch nổi. Tô Giám vẫn liều chết lãnh đạo quân và dân chúng thành Ung Châu chống cự, khi thấy không còn hy vọng bèn quay về nhà giết hết người nhà tổng cộng 36 người, chôn xác xuống hố rồi tự thiêu chết. Tô Giám liều mình như vậy khiến dân chúng thành Ung Châu cảm kích mà không chịu đầu hàng, họ đã chiến đấu đến cùng trong tuyệt vọng. Tai ương đã ập lên tất cả họ, một cuộc thảm sát đã diễn ra.

Lý Thường Kiệt để hoàn thành cuộc chiến tiêu hao đã hạ lệnh giết tất cả người trong thành. Ngày 1.3.1076, thành Ung Châu bị hạ sau 42 ngày cố thủ. Số người thành Ung Châu bị giết đến 58.000 người. Về phía quân Đại Việt cũng có tổng thiệt hại đến hơn vạn người và một số voi chiến trong chiến cuộc Ung Châu. Trước đây, Tô Giám là người đã từng khuyên Lưu Di, Thẩm Khởi không nên khiêu khích Đại Việt vì sợ quân Đại Việt sẽ tràn sang đánh Tống trước nhưng bị gạt bỏ ngoài tai, lại còn bị khiển trách. Nay quả thật quân ta chủ động tấn công trước, căn cứ chiến lược dùng cho việc xâm lăng là thành Ung Châu phút chốc bị đập tan, hàng vạn quân dân Tống bị giết. Với việc thành Ung Châu bị hạ, ta sẽ thấy mọi toan tính chiến lược của nước Tống về sau đều bị đảo lộn. Dù cuộc tấn công này đối với quân Đại Việt mang mục đích tự vệ chính đáng, cũng phải nói rằng trong số những người nước Tống bị giết có nhiều người oan uổng. Họ cũng như quân dân Đại Việt, là nạn nhân trong tham vọng bá quyền của Tống triều.

Lý Thường Kiệt hay tin quân Tống sắp đưa quân sang đánh Đại Việt, liền chuẩn bị một kế hoạch rút quân hoàn mỹ. Ông sai lấy đá lấp sông Ung Giang, một tuyến đường thuỷ huyết mạch ở phía nam nước Tống. Để đánh lạc hướng quân Tống trước khi rút về nước, Lý Thường Kiệt phao tin là sắp đem quân đánh Tân Châu. Quan giữ thành Tân Châu là Cổ Cắn Lặc nghe tin bỏ cả ấn tín mà chạy trốn. Quân Đại Việt chủ động rút lui về nước lo chuẩn bị về phòng thủ một cách nhanh gọn. Một số thám tử Đại Việt được phái cải trang thành nhà sư, nạn dân, lái buôn người Tống, đi khắp nơi do thám. Quân Đại Việt đốt trại, thiêu huỷ lương thực, phá thành, phá các đồn luỹ, mang theo nhiều của cải và tù binh rút về nước. Không một đội quân Tống nào dám đuổi đánh do trúng kế của Lý Thường Kiệt, lo quân ta tiếp tục đánh Tân Châu nên các đội quân chính quy vẫn ở thế thủ. Những của cải không đem theo hết được đều bị quân Đại Việt thiêu huỷ. Những tù binh không đem theo được cũng bị giết. Đó cốt là để tàn phá bàn đạp mà nước Tống định dùng cho cuộc xâm lược Đại Việt. Cả một vùng rộng lớn thuộc lộ Quảng Tây tiêu điều. Tổng cộng trong toàn bộ chiến dịch đánh Tống, quân Đại Việt đã giết hơn 10 vạn quân dân Tống.

Khoảng cuối tháng 3.1076 Lý Thường Kiệt đã an toàn rút hết quân về nước. Đội quân thiện chiến đã theo ông bắc phạt không có nhiều thời gian để nghỉ ngơi hay mừng chiến thắng. Bởi mọi người hiểu rằng cuộc chiến sắp tới sẽ còn rất cam go. Triều đình nhà Lý bắt tay ngay vào việc điều động quân dân Đại Việt chuẩn bị bước vào giai đoạn chiến đấu mới mang ý nghĩa quyết định vận mệnh dân tộc – đón đánh đội quân viễn chinh Tống trên lãnh thổ Đại Việt.

Quốc Huy

https://3.bp.blogspot.com/-RsuTVgoQnlY/Wc81ac6ffBI/AAAAAAABIbE/cWCWpllNGksVZCv4Q7QuQNPsOJtB7f0ZwCLcBGAs/s640/7.jpg

15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Hansy

Kỳ 9

BỊ LÝ THƯỜNG KIỆT PHÁ UNG CHÂU
TRIỀU TỐNG MANG VŨ KHÍ TỐI TÂN NHẤT
ĐỐI PHÓ VỚI ĐẠI VIỆT


Khi Lý Thường Kiệt và Tông Đản vây thành Ung Châu, vua Tống nghe theo lời tâu của Vương An Thạch muốn dùng Ung Châu cầm chân quân chủ lực Đại Việt rồi cho một đạo quân khác do Triệu Tiết chỉ huy theo đường khác mà đánh úp Đại Việt. Tiết tiến cử tướng Quách Quỳ, là một danh tướng vùng biên cương Liêu – Hạ tăng cường vào bộ chỉ huy. Khi về kinh nghị sự, vua Tống Thần Tông cho Quách Quỳ làm chánh tướng, chức danh đầy đủ là Tuyên huy nam viện sử, An Nam đạo hành doanh mã bộ quân đô tổng quản chiêu thảo sứ. Triệu Tiết được phong làm Phó sứ. Yên Đạt được phong Mã bộ phó sứ đô tổng quản. Vua Tống theo lời tâu của Quách Quỳ, điều quân ở vùng Hà Đông (Thiểm Tây) giáp nước Hạ làm quân nòng cốt cho cuộc xâm lược. Trước đó, vua Tống định cho Lý Hiến làm phó tướng, đồng thời giữ nhiệm vụ giám quân nhưng bị quần thần phản đối do Lý Hiến là hoạn quan, Lý Hiến lại tranh cãi xích mích với Triệu Tiết nên bị bãi chức. Khi dặn dò công việc với Quách Quỳ, vua Tống đã tỏ rõ ý định thôn tính: “Sau khi bình Giao Châu, sẽ đặt châu huyện như nội địa”.

Rốt cuộc thành Ung Châu bị hạ, Lý Thường Kiệt chủ động rút quân an toàn về nước, kế đánh úp Đại Việt thành ra phá sản. Nhưng Tống là một nước lớn mạnh, đông đúc gấp hàng chục lần Đại Việt, tự nhận là thiên triều thì dễ gì bỏ qua được.

Được tin Ung Châu thất thủ, quyết tâm xâm lược của vua Tống vẫn không đổi. Vua Tống Thần Tông và Vương An Thạch bàn nhau tiếc nuối rằng xưa kia đã không đánh Đại Việt sớm mà để bị đánh trước. Vương An Thạch than với vua Tống:“Đáng lẽ, ta phải đánh khi Càn Đức mới lập. Bấy giờ, các khê động đều muốn nội phụ. Nếu lúc ấy ta muốn đánh Giao Chỉ, thì chỉ cần mộ 2 vạn tinh binh, chọn 5 - 6 tướng vừa, là có thể làm xong chuyện. Tôi trộm nghĩ rằng nếu bấy giờ ta đoán được sự ngày nay chúng không tuân lệnh, thì ta đã có tiếc gì mà không cử binh. Thế mới biết rằng việc bốn cõi biên thuỳ, nếu không lo sự lớn hơn sự bé, làm việc khó trước việc dễ, thì đến nhọc quân tốn của.”

Lời tâu trên thể hiện sự mù mờ về tin tức ở Đại Việt của Vương An Thạch và vua tôi nước Tống. Họ thứ nhất là đã đánh giá quá thấp sức mạnh Đại Việt, thứ hai là không hiểu rằng nước Tống bị Đại Việt tấn công cũng chính vì âm mưu xâm lược Đại Việt của Tống. Vua tôi Tống vẫn không hiểu được bản chất của cuộc tấn công mang tính đánh phủ đầu mà Lý Thường Kiệt đã vạch ra. Họ vẫn tưởng tượng về một cuộc cướp phá, diễu võ giương oai, hay thừa cơ chiếm cứ lãnh thổ. Tuy mù mờ như thế, nhưng khi thấy rõ sức mạnh kinh hồn của quân Đại Việt trong cuộc tấn công do Lý Thường Kiệt chỉ huy thì Tống triều tỏ ra rất thận trọng. Chính vì vậy mà bất chấp việc cả một vùng tiền đồn rộng lớn miền nam nước Tống bị tàn phá nghiêm trọng, Tống vẫn cố gắng ở mức cao nhất để huy động một đạo quân thiện chiến đông đảo, với trang bị mạnh và hậu cần quy mô lớn.

4,5 vạn quân đã từng theo Quách Quỳ chinh chiến nhiều năm ở biên thuỳ Tống – Hạ được điều động. Số quân này là những quân lính tinh nhuệ bậc nhất trong toàn quân đội nước Tống bấy giờ, được biên chế làm 9 Tướng (Tướng ở đây là một đơn vị quân đội của nước Tống thời bấy giờ, mỗi Tướng gồm 5.000 quân). Trong số này có 1 vạn kỵ binh, là tinh tuý của Tống cũng như nhiều quốc gia trung đại khác. Theo cách tính toán phổ biến đương thời thì khi chiến đấu theo đội ngũ, một đơn vị kỵ binh có thể đánh trực diện với số bộ binh đông hơn 5 – 7 lần. Các vùng khác của nước Tống cung cấp chừng 6,5 vạn bộ binh, phần lớn là từ các lộ nằm trên dọc đường tiến quân từ Biện Kinh tới biên giới Tống – Việt. Số quân này gộp với 4,5 vạn quân nòng cốt lấy từ biên thuỳ Tống – Hạ tạo thành một đội quân đông 10 vạn lính chiến đấu.

Ngoài lính chiến đấu, còn có khoảng 20 vạn dân phu được điều động. Những dân phu khoẻ mạnh ngoài nhiệm vụ phục dịch, còn là lực lượng dự phòng dùng cho chiến đấu. Để phối hợp, nước Tống còn huy động một đạo thuỷ quân với hàng trăm thuyền chiến chủ yếu là thuyền buôn trưng thu trong dân hoán cải lại thành chiến thuyền, cùng với một số chiến thuyền đóng một cách vội vàng. Binh lính của đạo thuỷ quân này được tuyển mộ từ những dân thuyền chài ven biển. Đạo thuỷ quân này có tổng quân số chừng 5 vạn quân, do tướng Dương Tùng Tiên làm tổng chỉ huy. Nhiệm vụ được đặt ra cho đạo thuỷ quân là tiến vào nội địa nước Đại Việt đúng hẹn để phối hợp với bộ binh Tống vượt sông chiếm kinh thành Thăng Long.

Vua tôi Tống bàn nhau: “Trên đường bộ, tiến binh đến kinh thành giặc còn bị cách sông lớn. Người Giao lại giỏi thuỷ chiến. Sợ rằng thuyền giặc giữ các chỗ hiểm, đại binh ta khó lòng qua được. Rồi đêm đến, giặc xông tới đánh thì việc ta hỏng mất… Vậy xin hạ lệnh cho các ty kinh lược, chuyển vận Quảng Đông phải tuyển thuỷ binh, chọn những người dũng cảm rồi dạy thuỷ chiến cho chúng. Sau này sẽ từ Quảng Châu theo bờ bể, chỉ tiến tới Liêm, Khâm, rồi đậu thuyền ở đó đợi. Lúc nào đại binh tiến sẽ hẹn ngày sai thuỷ quân cùng vào Giao Châu đánh giặc. Thuỷ quân sẽ tách ra một phần thuyền ghé vào bờ bắc sông để chở đại quân sang”.

Nước Tống thời kỳ này là một nước chú trọng về quân kỵ bộ để phục vụ cho các cuộc chiến tranh liên miên ở biên cương phía tây và phía bắc chống lại các đạo quân du mục và bán du mục Liêu, Hạ nên quân kỵ, quân bộ rất mạnh. Trái lại, thuỷ quân rất kém cỏi. Thậm chí, Tống không có một lực lượng thuỷ quân thường trực đúng nghĩa mà phải huy động trong dân khi có sự cần. Vì vậy mà mặc dù đã rất cố gắng gây dựng một cánh quân thuỷ để phục vụ cuộc xâm lược Đại Việt, thuỷ quân Tống vẫn kém xa thuỷ quân Đại Việt về chất lượng. Việc chuẩn bị chiến thuyền chậm trễ so với tiến độ hành quân. Khi đạo bộ binh của Quách Quỳ đã tiến đến Quế Châu (thủ phủ lộ Quảng Tây) vào giữa năm 1076, thuỷ quân của Dương Tùng Tiên vẫn chưa tập hợp được chiếc thuyền nào. Phải đến cuối năm 1076 thì Dương Tùng Tiên mới tập hợp được thành thuyền bè và quân lính thành đội ngũ.

Song song với việc xây dựng thuỷ quân, vua Tống còn sai sứ đem của cải và chiếu thư theo thuyền buôn vượt biển cấp tốc sang Chiêm Thành, Chân Lạp (hay còn gọi là đế chế Khmer) để xúi giục hai nước này liên thủ với Tống cùng tấn công Đại Việt. Chiếu thư như sau : “Chiêm Thành, Chân Lạp từ lâu nay bị Giao Chỉ cướp. Nay vương sư sang đánh Giao Chỉ để phạt tội. Các nước ấy nên thừa cơ hội, hiệp lực mà trừ nó. Ngày nào đánh dẹp xong, Trẫm sẽ ban thưởng cho. Trẫm lại nghe nói rằng nhiều dân nước ấy đã bị Giao Chỉ bắt về. Trong số ấy có cựu vương Chiêm Thành, khó lòng trở về nước. Nên triệu y sang chầu. Trẫm sẽ gia ân cho”. Cựu vương mà trong thư nhắc tới, chính là vua Rudravarman III (Chế Củ) thuở trước, vì bại trận và cắt đất cho Đại Việt mà bị quý tộc nước Chiêm Thành lật đổ, chạy sang Đại Việt ẩn náu. Vốn có dã tâm từ trước, hai nước lại lập tức đồng ý liên minh. Như vậy, Đại Việt không chỉ phải đánh nhau với nước Tống mà phải chiến đấu với cả liên minh Tống – Chiêm – Chân Lạp. Vua Harshavarman III của Chân Lạp gởi sang Chiêm Thành một đạo quân kết hợp với quân Chiêm Thành do vua Harivarman IV đích thân chỉ huy, chuẩn bị dùng thuyền chở quân vượt biển tấn công Đại Việt từ phía nam.

Để chuẩn bị lương thực, hậu cần cho cuộc chiến, vua Tống Thần Tông đã không hề tiếc của. Chỉ trong thời gian quân Tống tập hợp thành đội ngũ và tiến sang biên giới nước Đại Việt, Tống triều đã chi hàng trăm vạn quan tiền để mua lương thực trong dân. Con số hao tốn còn đội lên nhiều lần trong suốt cuộc chiến. Để đảm bảo những yêu cầu mà triều đình đề ra, các quan lại địa phương ra sức vơ vét trong dân chúng.

Vua Tống sai Hàn lâm y quân viện bào chế 57 bài thuốc hoàn trị lam chướng, bệnh tật để mang theo trong quân. Thái y cục cũng được lệnh bào chế 30 bài thuốc trị lam chướng. Ngoài việc lo thuốc thang, vua Tống còn lập đàn cúng bái khi thấy quân lính chưa ra khỏi địa giới nước Tống đã bắt đầu có một số bị bệnh tật. Nhiều chỉ dụ được ban xuống cho tướng lĩnh và quân lính thực hiện các phép vệ sinh trong sinh hoạt. Sở dĩ mặt sức khoẻ quân lính được quan tâm kỹ như vậy là bởi quân tinh nhuệ nước Tống chủ yếu ở miền tây và miền bắc nhưng những quân lính này lại không quen thuỷ thổ phương nam. Còn những dân phía nam nước Tống thì quen thuỷ thổ hơn nhưng không giỏi chiến trận, lại kém trung thành nên không được tin dùng.

Nước Tống thời kỳ này không quen việc vận chuyển bằng đường biển, chỉ dùng thuyền bè men theo các sông trong nội địa là chính. Khi quân Đại Việt tiến sang tàn phá những cầu đường, lấp sông, phá kho tàng khiến cho việc vận chuyển phục vụ cho chiến tranh của Tống rất khó khăn. Chính điều này làm cho tiến độ chuẩn bị của Tống cho cuộc xâm lược bị chậm trễ rất nhiều. Trong năm 1076, nước Tống đã phải điều động hàng vạn người đắp lại thành Ung Châu, sửa sang lại cầu đường, khai thông lại sông Ung Giang bị quân ta lấp trước đó. Đây có thể coi là một kỳ công của nước Tống để phục vụ cuộc chiến. Những xe cộ, thuyền bè trong nước dọc đường tiến quân được huy động tối đa. Hàng chục vạn phu phải gồng mình khuân vác hàng hoá ở vùng biên giới Tống – Việt. Những vũ khí tối tân nhất của Tống, thậm chí có thể nói là tối tân nhất thế giới thời bấy giờ đều được đưa sang đánh Đại Việt. Trong đó có thể kể đến hoả tiễn, máy bắn đá, nỏ lớn, pháo thăng thiên…

Công cuộc chuẩn bị và hành quân được tiến hành song song một cách khẩn trương. Khi quân đi xa kinh thành rồi, vua Tống vẫn dùng thư từ theo dịch trạm để theo dõi và chỉ đạo từ xa. Quách Quỳ dẫn quân gần đến biên giới còn nhận được chiếu của vua Tống như sau: “Nghe nói vùng khê động có nhiều của quý. Sau khi Giao Chỉ thua, hãy đặt thành quận, huyện mà cai trị và hãy sung công của cải”. Lời đó lộ rõ mục đích cốt lõi của cuộc chiến không phải là báo thù rửa hận mà chính là để cướp bóc, bành trướng lãnh thổ. Khoảng tháng 8/1076, đạo quân 10 vạn lính với trang bị mạnh, cùng 20 vạn phu dưới trướng của tướng Quách Quỳ đã tiến tới gần biên giới nước ta, quân tiên phong do tướng Nhâm Khởi chỉ huy đã bắt đầu tiến sát các tiền đồn Đại Việt. Đồng thời cánh thuỷ quân của Dương Tùng Tiên cũng được lệnh tập trung ở cảng Khâm Châu sẵn sàng xuất phát, chính thức mở màn cuộc chiến tranh xâm lược.

Quốc Huy

https://1.bp.blogspot.com/-TU99m2BWS5U/WdSMO0gyz6I/AAAAAAABIu0/Rhm6thJPsagoyKf-B5CVt500da5AZM_GQCLcBGAs/s640/9.jpg

15.00
Chia sẻ trên Facebook

Trang trong tổng số 7 trang (65 bài viết)
[1] [2] [3] [4] ... ›Trang sau »Trang cuối