Trang trong tổng số 18 trang (172 bài viết)
Trang đầu« Trang trước‹ ... [14] [15] [16] [17] [18] ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Poet Hansy

Kỳ 157

CHIÊM THÀNH CẦU HOÀ ĐẠI VIỆT
ĐỂ ĐẠI CHIẾN VỚI CHÂN LẠP


Các đợt tấn công liên tục của nước Chân Lạp trong kể từ khi vua Suryavarman II lên ngôi (năm 1113) đã khiến đất nước của người Chiêm bị tàn phá nặng nề. Thậm chí có khoảng thời gian Chiêm Thành bị xoá sổ khỏi bản đồ, trở thành thuộc địa của nước Chân Lạp. Năm 1150, vua Chiêm Thành là Jaya Harivarman I sau những nổ lực kháng chiến không ngừng nghỉ đã khôi phục lại được kinh thành Vijaya và góp phần gián tiếp khiến vua Suryavarman II thiệt mạng, nhưng mối hoạ xâm lăng đến từ nước Chân Lạp đối với Chiêm Thành vẫn còn tồn tại dai dẳng về sau. Và ở chiều ngược lại, nước Chiêm Thành cũng là một thế lực hiếu chiến khi họ trở nên hùng mạnh. Kể từ khi đất nước bị quân Chân Lạp tàn phá và chiếm đóng vào những năm 1145-1150, ý chí báo thù của người Chiêm quốc đã không còn nhắm vào nước Đại Việt mãnh liệt như trước mà chuyển sang căm thù người nước Chân Lạp. Ngoài ra, các đời vua Chiêm luôn phải bận tâm củng cố quyền lực trong nước, ngăn chặn xu hướng ly khai của các tiểu vương.

Từ hàng trăm năm trước, việc năm xứ của người Chiêm nắm giữ quyền tự trị quá cao luôn là một vấn đề nhạy cảm đối với bất cứ triều đại Chiêm Thành nào. Trải qua những nhiều biến cố, xứ Panduranga ở cực nam Chiêm Thành dần trở nên giàu mạnh, thách thức quyền lực của triều đình Vijaya. Cùng với đó, các xứ khác cũng chỉ phục tùng triều đình khi mà có chung lợi ích và nhà vua có đủ uy tín cũng như sức mạnh quân sự. Đến nửa cuối thế kỷ 12, nước Chiêm Thành là một quốc gia liên bang khá lỏng lẻo, và riêng xứ Panduranga gần như là một nước riêng biệt. Vua Jaya Harivarman I đối diện với nguy cơ đất nước của ông hoàn toàn bị phân rã.

Năm 1151, vua Jaya Harivarman I phải thân chinh đi đánh xứ Amaravati (thuộc Quảng Nam, Đà Nẵng ngày nay) vì chống đối lại uy quyền của triều đình Vijaya. Sau đó để được yên ổn mặt bắc, vua Jaya Harivarman I đã chủ động giao hảo với triều đình Thăng Long. Năm 1154, vua Jaya Harivarman I đã đem dâng con gái của mình cho vua Lý Anh Tông, một cử chỉ thể hiện sự thuần phục và kết thân. Vua Lý Anh Tông đã thu nhận người con gái nước Chiêm, qua đó cũng chấp nhận sự thuần phục về ngoại giao của Chiêm Thành. Sự kiện này là tiền đề quan trọng cho vua Jaya Harivarman I thực hiện kế hoạch phục hưng đất nước và báo thù nước Chân Lạp của mình. Khi đã yên mặt bắc, quân đội của triều đình Vijaya ồ ạt đánh xuống xứ Panduranga hòng buộc xứ này quay trở lại quỹ đạo của một đất nước Chiêm Thành thống nhất. Panduranga là một thế lực không dễ đối phó. Họ đã cầm cự với vua Jaya Harivarman I suốt hàng năm trời. Cho đến năm 1161, xứ này phải chịu khuất phục triều đình Chiêm Thành, công nhận vua Jaya Harivarman I là vua của toàn cõi Chiêm Thành. Panduranga vẫn giữ được nhiều quyền tự trị của mình và tiểu vương xứ này vẫn giữ được quyền thế tập.

Vua Jaya Harivarman I đã thành công trong việc tái thống nhất nước Chiêm Thành và củng cố quyền lực của Vijaya nhưng di sản của ông để lại không hề bền vững. Sau khi Jaya Harivarman I mất, con trai ông là vua Jaya Harivarman II không đủ năng lực để khuất phục các tiểu vương. Ở xứ Panduranga, Po Klong Garai trở thành tiểu vương mới một lần nữa nổi lên chống lại triều đình Vijaya. Là một nhân vật giỏi về quân sự và đầy tham vọng, Po Klong Garai đã cho thấy vua Jaya Harivarman II không phải là đối thủ của mình. Năm 1167, Po Klong Garai dẫn quân Panduranga đánh chiếm kinh thành Vijaya, lật đổ vua Jaya Harivarman II. Po Klong Garai trở thành vua của nước Chiêm Thành, lấy hiệu là Jaya Indravarman IV.

Vừa lên ngôi, vua Jaya Indravarman IV đã phải đối diện với nguy cơ bị nước Đại Việt tấn công, vì hành động không nhất quán của đời vua trước đó. Số là vào năm 1166 dưới thời vua Jaya Harivarman II, sứ giả nước Chiêm Thành tuy đến Thăng Long triều cống nhưng khi trở về lại tuỳ tiện cướp bóc dân ven biển ở hai châu Ô, Lý. Năm 1167, Thái uý Tô Hiến Thành lấy cớ đó đem đại quân vào đánh Chiêm Thành. Đại Việt dưới thời vua Lý Anh Tông vốn không còn hưng thịnh như các đời vua trước, nhưng binh uy so với Chiêm Thành vẫn mạnh hơn rất nhiều. Nhận thấy không thể đối địch được với láng giềng phương bắc, vua Jaya Indravarman IV đã đem lễ vật đến doanh của quân Đại Việt cầu hoà. Thái uý Tô Hiến Thành đã chấp nhận lời cầu hoà của nước Chiêm Thành, dùng lời phủ dụ răn vua Chiêm phải cư xử đúng mực nếu không muốn bị trừng phạt bằng vũ lực. Từ đó nước Chiêm theo định kỳ mà triều cống, luôn giữ lễ phiên thần với Đại Việt. Quan hệ hai nước lại tốt đẹp. Giải quyết xong những rắc rối với Đại Việt, Jaya Indravarman IV bắt tay ngay vào kế hoạch phục hưng nước Chiêm Thành.

Đồng thời với việc kết thân với Đại Việt, vua Chiêm cũng cố gắng kết bang giao với nước Tống để tranh thủ các lợi ích về thương mại. Các hoạt động buôn bán được mở rộng, thương cảng dọc bờ biển nước Chiêm Thành dần lấy lại vẻ thịnh vượng. Chiêm Thành dưới sự trị vì của Jaya Indravarman IV đã thực sự tái thống nhất. Các xứ Chiêm trở nên đoàn kết hơn, hứa hẹn đem tạo ra một sức mạnh to lớn.

Trên những nền tảng đó, vua Jaya Indravarman IV tập trung nguồn lực để xây dựng quân đội hùng mạnh, với mục đích là để báo thù nước Chân Lạp. Ban đầu, vua Chiêm có kế hoạch mua ngựa chiến từ nước Tống để xây dựng kỵ binh hùng mạnh, hòng giành ưu thế với Chân Lạp trong một cuộc chiến trên bộ. Nhưng kế hoạch đó đổ vỡ, bởi chính bản thân nước Tống cũng rất cần ngựa chiến nên đã không đáp ứng mong muốn mua ngựa của Chiêm Thành. Vả lại, Tống cũng rất kiêng dè khi giao thiệp với Chiêm quốc vì ái ngại sẽ đụng chạm đến nước Đại Việt. Thất bại trong kế hoạch mua ngựa từ nước Tống, vua Jaya Indravarman IV chuyển sang nổ lực xây dựng một hạm đội hùng mạnh để đột kích Chân Lạp bằng đường sông. Trong khoảng 10 năm trời, cả nước Chiêm Thành vừa khẩn trương xây dựng kinh tế, vừa hừng hực khí thế mài gươm báo thù.

Trong khi đó thì tại Chân Lạp, năm 1167 một viên quan trong triều đã làm chính biến lật đổ vua Yasovarman II và cướp ngôi, xưng là vua Tribhuvanadityavarman. Quân dân Chân Lạp nhiều người không phục mà nổi lên chống lại. Chân Lạp từ đó trải qua một thời kỳ rối loạn. Chớp lấy thời cơ, năm 1177 vua Jaya Indravarman IV thân chinh dẫn hạm đội Chiêm Thành theo dòng sông Mê Kong hành quân thần tốc tiến đánh Chân Lạp. Khi quân Chiêm Thành tiến đến hồ Tonle Sap (tức Biển Hồ), quân Chân Lạp đã hoàn toàn bị bất ngờ và bị kẻ địch đánh tan tác. Thừa thắng, Jaya Indravarman IV theo đường sông Siem Reap đánh chiếm kinh đô Angkor (bấy giờ gọi là thành Yasodharapura). Vua Tribhuvanadityavarman bị quân Chiêm Thành giết chết trong trận chiến, thành Angkor thất thủ. Nhân danh trả thù cho những gì người Chân Lạp đã gây ra trong những năm xâm lược và chiếm đóng Chiêm Thành xưa kia, vua Jaya Indravarman IV thả cho quân lính mặc sức cướp giết người Chân Lạp, đốt phá tan tành kinh thành Ankor.

Thế nhưng thắng lợi của quân Chiêm Thành dù to lớn thì vẫn chỉ là nhất thời. Từ vị thế kẻ bị xâm lược, người Chiêm lúc này đóng vai trò kẻ xâm lược cường bạo làm toàn thể người nước Chân Lạp căm phẫn và xích lại gần nhau hơn. Ngay sau khi tin tức thành Angkor bị tàn phá không thương tiếc, một hoàng thân nước Chân Lạp, con trai của vua Dharanindravarman II (vị vua trị vì Chân Lạp từ năm 1150 đến năm 1160) đã dấy binh khởi nghĩa và nhanh chóng tập họp được những lực lượng lớn mạnh, tiến hành kháng chiến chống quân Chiêm.

Trong bốn năm ròng chiến đấu, quân khởi nghĩa dần giành ưu thế và đánh bại quân Chiêm ngay tại hồ Tonle Sap. Một chiến thắng khác của người Chân Lạp tại đền Preah Khan thuộc Angkor vào năm 1181 buộc quân Chiêm Thành phải chịu rút lui. Lãnh tụ phong trào khởi nghĩa của người Chân Lạp bấy giờ lên ngôi vua, lấy hiệu là Jayavarman VII. Ông được xem là vị vua huyền thoại của nền văn minh Ankor, với chiến công giành lại độc lập cho đất nước là nhiều thành tựu lớn khác trong thời gian trị vì.

Đây là một giai đoạn đặc biệt khi mà cả hai nước Chiêm Thành và Chân Lạp đều xuất hiện vua chúa có tài năng kiệt xuất. Cuộc đối đầu giữa vua Jaya Indravarman IV nước Chiêm Thành và Jayavarman VII nước Chân Lạp là một mảnh lịch sử lớn được khá nhiều sử gia phương đông và phương tây nghiên cứu. Những trận đại thuỷ chiến trên hồ Tonle Sap được lưu giữ trong ký ức cả người Chiêm Thành, Chân Lạp bằng hàng loạt các phù điêu, văn bia và truyện kể. Cuộc đối đầu này vốn là tiếp nối những ân oán giữa hai nước từ thời vua Suryarvarman II xâm lược Chiêm Thành, và nó còn kéo dài sang tận thế kỷ 13 với những sự kiện lớn đẫm máu khác đã góp phần làm suy yếu cả hai nền văn minh…

Quốc Huy
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Kỳ 158

CẦU CỨU ĐẠI VIỆT BẤT THÀNH
CHIÊM THÀNH BỊ CHÂN LẠP THÔN TÍNH


Nửa cuối thế kỷ 12 chứng kiến một sự kiện chấn động ở khu vực Đông Nam Á là việc kinh thành Angkor của đế quốc Chân Lạp bị Chiêm Thành, một nước nhỏ hơn rất nhiều chiếm đóng và cướp phá tan hoang. Chiến công này là thành quả từ hơn một thập kỷ nỗ lực của vua Jaya Indravarman IV, chứng minh sức chiến đấu đáng gờm của người Chiêm Thành một khi họ có thể huy động sức mạnh tổng hợp của toàn thể các xứ Chiêm dưới một sự lãnh đạo thống nhất. Tuy nhiên thắng lợi của vua Jaya Indravarman IV chỉ là nhất thời. Chẳng những vậy, chiến thắng này dẫn đến một hệ quả vô cùng tai hại cho nước Chiêm Thành là nó đã gián tiếp khiến cuộc tranh giành quyền lực trong nội bộ giới quý tộc Chân Lạp kết thúc. Thay vào đó, người nước Chân Lạp đã có động lực để đoàn kết lại, cùng quay mũi giáo về nước Chiêm Thành. Với tiềm lực vượt trội cả về nhân lực lẫn tài nguyên, người Chân Lạp đã quật khởi ngay sau thất bại.

Sự xuất hiện của vua Jayavarman VII nước Chân Lạp kể từ năm 1177 đã làm gió đổi chiều trong cuộc đối đầu giữa Chiêm Thành và Chân Lạp. Năm 1181, vua Jayavarman VII lên ngôi sau khi đã đánh đuổi được quân Chiêm Thành, khôi phục lại kinh đô và nhiều vùng lãnh thổ. Sự trị vì của nhà vua mới đã giúp nước Chân Lạp phục hồi mạnh mẽ, trở lại vị thế của một đế quốc đương thời. Dưới thời vua Jayavarman VII, thành Angkor Thom bắt đầu được khởi công xây dựng, là sự tiếp nối của kinh thành Angkor Wat trước đó. Ở phía đối nghịch, vua Chiêm là Jaya Indravarman IV vẫn cố gắng duy trì thế tiến công của Chiêm Thành.

Nhưng cục diện dần bất lợi cho ông khi mà vua Jayavarman VII đã lãnh đạo quân Chân Lạp đứng vững, và dần chuyển sang phản công. Năm 1190, một hoàng thân người Chiêm quốc lưu vong tại Chân Lạp là Sri Vidyanandana đã được vua Jayavarman VII tin tưởng giao quyền lãnh đạo một đạo quân lớn tiến đánh nước Chiêm Thành. Sri Vidyanandana vốn là một hoàng tử Chiêm Thành nhưng từ năm 1182 đã sang sống ở Chân Lạp, được vua Jayavarman VII thu nhận làm tướng. Nhờ có công dẹp loạn xứ Malyan thuộc Chân Lạp, Vidyanandana được vua Jayavarman VII rất tin dùng, phong làm Phó vương.

Dưới sự lãnh đạo của Vidyanandana, quân Chân Lạp ồ ạt tiến sang Chiêm Thành, kinh đô Vijaya thất thủ ngay trong năm 1190 trước ưu thế vượt trội của kẻ địch. Vua huyền thoại Jaya Indravarman IV của nước Chiêm Thành bị bắt trong cuộc chiến. Vua Chân Lạp sau đó phong cho người anh rể của mình là In làm “vua Vijaya”, lấy hiệu là Surya Jayavarmadeva. Trên thực tế là một vị vua bù nhìn của đế quốc Chân Lạp.

Hoàng thân Sri Vidyanandana cùng các thuộc hạ thân tín tiến vào Panduranga, tự lập làm vua của xứ này, xưng hiệu là Sri Suryavarman. Nước Chiêm Thành bấy giờ bị chia làm hai phần. Các xứ miền bắc trên thực tế trở thành thuộc địa của nước Chân Lạp. Riêng xứ Panduranga vẫn giữ quyền tự chủ nhờ vào mối quan hệ tốt giữa Sri Suryavarman với vua Jayavarman VII, nhưng trên danh nghĩa vẫn phải nhận sắc phong và chịu phục tùng vua Chân Lạp.

Năm 1192, một hoàng tử xứ Vijaya là Rasupati phất cờ khởi nghĩa. Quân bù nhìn thân Chân Lạp của Surya Jayavarmadeva không chống nổi sự phản kháng mạnh mẽ của người Chiêm, buộc phải tháo chạy. Rasupati lên ngôi vua Chiêm Thành, xưng hiệu là Jaya Indravarman V. Khi biết tin Jaya Indravarman V lên ngôi, vua Jayavarman VII đã thả cựu vương Jaya Indravarman IV về nước, để tạo ra một cuộc tranh chấp vương quyền mới tại Chiêm Thành.

Cựu vương Jaya Indravarman IV khi trở về đã tập họp lại những người thân tín cũ và đề nghị liên minh với vua đương nhiệm của xứ này là Sri Suryavarman để chống lại vua Jaya Indravarman V. Vì kiêng nể uy tín của cựu vương, Sri Suryavarman đã chấp nhận liên minh. Chiêm Thành rơi vào cảnh một nước ba vua. Trong cuộc chiến tranh giành quyền lực này, phe của hai vua Jaya Indravarman IV và Sri Suryavarman cuối cùng đã chiến thắng. Quân Panduranga tiến vào chiếm đóng thành Vijaya. Vua Jaya Indravarman V bại trận bị giết.

Khi không còn thế lực đối địch từ Vijaya, vua Sri Suryavarman và Jaya Indravarman IV lập tức trở mặt với nhau. Vua Sri Suryavarman đã chiếm luôn thành thành Vijaya, với mong muốn làm vua toàn cõi Chiêm quốc. Jaya Indravarman IV với lực lượng ít ỏi của mình cố gắng chiếm lấy thành trì nhưng thất bại. Cuối cùng, Sri Suryavarman ra tay trừ khử luôn cả cựu vương Jaya Indravarman IV để lên ngôi vua Chiêm Thành vào năm 1192. Cái giá cho sự thống nhất trở lại của nước Chiêm Thành khá đắt khi mà toàn dân phải trải qua liên tiếp hàng loạt cuộc chiến tranh đẫm máu. Bên cạnh đó, sự chia rẽ giữa các xứ Chiêm càng thêm sâu sắc, khủng hoảng lòng tin giữa các tầng lớp nhân dân càng thêm trầm trọng.

Nắm giữ quyền lực sau thời kỳ đen tối, vua Sri Suryavarman không có nhiều thời gian hoà bình để khôi phục lại đất nước. Khi biết tin Sri Suryavarman tự lập làm vua toàn Chiêm Thành, vua Jayavarman VII tức giận cho rằng mình đã bị phản bội. Kể từ năm 1193 trở đi, quân Chân Lạp liên tiếp xâm lấn nước Chiêm Thành. Vua Sri Suryavarman một mặt lãnh đạo quân dân trường kỳ chiến đấu với địch mạnh, một mặt cố gắng tìm kiếm sự ủng hộ của Đại Việt để làm đối trọng. Năm 1194, quân Chiêm Thành đã đánh bại một cuộc xâm lược lớn của Chân Lạp. Nhận thấy vị trí Vijaya dễ bị quân Chân Lạp tấn công, Sri Suryavarman dời đô về xứ Amaravati (Quảng Nam) để tránh mũi nhọn của giặc.

Những năm tiếp theo, Chiêm Thành tích cực khôi phục lại sản xuất nông nghiệp, nhiều công trình thuỷ lợi được trú trọng thi công. Năm 1198, sứ giả Chiêm Thành đến Đại Việt để cầu phong và dâng cống phẩm. Đến năm 1199, sứ Đại Việt đã sang phong vương cho vua Sri Suryavarman. Tuy nhiên, Đại Việt dưới thời vua Lý Cao Tông đang đà suy sụp đã không có bất kỳ hành động thiết thực nào để giải cứu nước đã xưng thần khi họ gặp nguy nan. Vị vua thứ bảy của triều Lý chỉ lo vui chơi hưởng lạc, bỏ mặc chính sự. Rốt cuộc nước Chiêm Thành vẫn chỉ một mình chống đỡ sức mạnh của đế quốc Chân Lạp đang thời kỳ hưng thịnh nhất.

Năm 1203, một người chú của Sri Suryavarman là Dhanapatio Grama (Bố Điền) đã phản lại đất nước, dẫn quân Chân Lạp tiến đánh Amaravati, chiếm lấy ngôi vua. Dhanapatio Grama Sri sau đó trở thành “vua Chiêm Thành”, dưới quyền điều khiển của vua Jayavarman VII nước Chân Lạp. Suryavarman bại trận đã đem cả gia quyến và hạm đội của mình gồm 200 thuyền vượt biển bắc tiến, ghé vào cửa biển Cơ La để cầu cứu Đại Việt. Tri châu Nghệ An là Đỗ Thanh và châu mục Phạm Diên tâu bày về triều. Tại Thăng Long, vua Lý Cao Tông sai quan Thái phó Đàm Dĩ Mông cùng Đỗ An đem quân vào kinh lý. Đàm Dĩ Mông vào nam, cùng thân tín dò hỏi mọi việc. Đỗ An bàn rằng:

“Bố Trì [chỉ Sri Suryavarman] có đến 200 chiếc thuyền, cái thằng lang sói dã tâm ấy, ta không thể hoàn toàn tin nó được.
Ngạn ngữ có câu rằng :
Cái lỗ kiến mà làm vỡ đê,
Chút khói mà làm cháy nhà.
Nay bọn Bố Trì thì đông, chớ há có phải riêng cái lỗ kiến, cái chút khói mà ta nói ấy đâu. Xin ông hãy xét kỹ”

Đàm Dĩ Mông đem lời ấy bàn lại với bọn Đỗ Thanh, Phạm Diên và bảo nên phòng bị. Bọn Đỗ Thanh nghe qua cãi lại: “Kẻ kia gặp nạn mới sang cầu cứu ở ta, ta nên đem lòng thành thực mà cứu giúp nhau. Nay ngược lại ta ngờ vực họ hai lòng thì như vậy có đáng không?”
Đàm Dĩ Mông bấy giờ là một trong những trụ cột triều đình, công lao uy vọng rất lớn. Vì vậy mà ông cũng sinh ra tự cao. Khi nghe Đỗ Thanh, Phạm Diên nói trái ý mình, Đàm Dĩ Mông tức giận, dẫn quân bỏ về triều. Đỗ Thành và Phạm Diên bấy giờ mới sợ hãi, bàn nhau rằng : “Bọn ta đã trái ý quan Phụ quốc [tức Đàm Dĩ Mông], tất không thoát điều chẳng lành, chi bằng hãy bí mật đem quân đánh Bố Trì, lấy đó làm kế vẹn toàn.”

Đỗ Thanh, Phạm Diên ngoài mặt thân thiện với Sri Suryavarman nhưng tìm cơ hội đánh úp. Nhưng mưu ấy đã bị bại lộ, Sri Suryavarman nói với thuộc hạ rằng : “Bọn ta gặp nạn mới đến cầu cứu ở nước lớn. Nước lớn đã không có cái điều nghĩa thương xót mà trái lại còn muốn bắt tội làm tù nữa, đau đớn quá chừng.” Từ đó hai bên hẹn nhau liên thủ, nhưng chực nhau đánh úp nhau. Đỗ Thanh và Phạm Diên đề nghị đem thuyền chiến Đại Việt và Chiêm Thành buộc lại với nhau làm kế liên hoàn chiến thuyền.

Sri Suryavarman cũng vẫn theo lời mà buộc thuyền với quân Đại Việt. Đến đêm, lính giữ thuyền phía Đại Việt trễ nải, quân Chiêm phóng hoả đốt thuyền rồi đánh úp quân Đại Việt. Binh lính Đại Việt thuộc châu Nghệ An tan vỡ cả đội ngũ, nhảy xuống nước chết hơn 200 người. Đỗ Thanh, Phạm Diên cũng đều bị giết chết. Vua Sri Suryavarman nhân đó cướp bóc khắp nơi ở Nghệ An, giết hại nhân dân, vơ vét của cải rồi đem đoàn quân của mình lên thuyền phiêu bạt đi đâu không rõ. Kể từ sự kiện này trở đi, các vùng phía nam nước Đại Việt liên tục bị các toán cướp biển người Chiêm cướp bóc.

Sự việc quân Đại Việt bất hoà để cho tàn quân vong quốc của Chiêm Thành cướp phá Nghệ An thể hiện rõ bộ mặt yếu kém của cuối đời nhà Lý. Một khi tướng sĩ không đồng lòng thì ngay cả một đạo quân lánh nạn cũng khiến cả một xứ quan trọng như Nghệ An tan tác. Xét ra Đàm Dĩ Mông toan tính phòng bị khi quân đội nước ngoài vào lãnh thổ nước mình là kế hợp tình hợp lý, nhưng khi cấp dưới không nghe lời lại tự mình đem quân bỏ về là điều dở không nên làm. Còn bọn Đỗ Thanh, Phạm Diên trước thì không có sự đề phòng của kẻ làm tướng, sau lại hành xử gian trá và thiếu cẩn trọng. Hành động bất nhất của hai nhân vật này đã khiến cõi nam của nước Đại Việt gặp hoạ. Việc này càng góp phần khiến xã hội Đại Việt đầu thế kỷ 13 thêm khủng hoảng.

Sự thờ ơ của Đại Việt cũng khiến cho hy vọng phục quốc của Chiêm Thành tiêu tan. Nước Chiêm Thành kể từ năm 1203 đã bị xoá sổ, chính thức trở thành một tỉnh của Chân Lạp. Mặc dù Dhanapatio Grama được phong vương nhưng thực tế chỉ là một quan cai trị của Chân Lạp. Mọi hành động của Dhanapatio Grama đều theo chỉ thị của vua Jayavarman VII và quân đội Chân Lạp đã chiếm đóng toàn cõi đất đai của Chiêm quốc.

Quốc Huy
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

159

VUA TRẦN THÁI TÔNG
VÀ CHÍNH SÁCH CỨNG RẮN VỚI CHIÊM THÀNH


Đầu thế kỷ 13, cả hai nền văn minh trên lãnh thổ Việt Nam đều đang trong giai đoạn khủng hoảng. Ở phía bắc, vương triều Lý suy sụp bởi sự cai trị kém cỏi của vua Lý Cao Tông. Đất nước rơi vào cảnh loạn lạc. Năm 1207, Đoàn Thượng ở xứ Hồng Châu xưng vương, khởi binh chống triều đình. Lý Cao Tông phải phái nhiều tướng đi đánh mà vẫn chưa hạ được.
Năm 1209, Lý Cao Tông nghe lời gièm bắt giam cha con tướng Phạm Bỉnh Di. Bộ tướng của Di là Quách Bốc tức giận đem quân đánh vào kinh thành. Vua Lý Cao Tông và các hoàng tử mỗi người chạy một ngã. Họ Trần ở Hải Ấp lấy danh nghĩa phò tá thái tử Lý Sảm cũng nhân đó nổi lên, cùng các thế lực Quách Bốc, Đoàn Thượng tranh bá.

Năm 1210, Lý Cao Tông chết. Thái tử Lý Sảm lên ngôi, tức vua Lý Huệ Tông. Con gái họ Trần là Trần Thị Dung gả làm vợ vua Lý Huệ Tông, được phong làm Nguyên phi. Các quan tướng họ Trần có Trần Lý, Trần Tự Khánh, Trần Thừa, Trần Thủ Độ … cùng thao túng triều chính.

Năm 1220, gia tướng của họ Trần là Nguyễn Nộn khi cầm quân đi xa cũng thừa cơ chiếm cứ châu Nghệ An, xưng là Hoài Đạo vương. Nộn trên danh nghĩa thuần phục triều Lý nhưng chống lại thế lực họ Trần. Cục diện phân tranh liên tiếp, đan xen giữa nhiều thế lực như trên đã khiến sức đề kháng của đất nước suy yếu trầm trọng.

Lúc đó thì phương phía nam, tình hình nước Chiêm Thành có những chuyển biến lớn. Như kỳ trước đã nói, kể từ năm 1203 Chiêm Thành trở thành một tỉnh của Chân Lạp. Trên vùng lãnh thổ mới chiếm được, vua Chân Lạp dùng Dhanapatio Grama làm vua bù nhìn, cùng với hoàng tử người Chiêm là Ansaraja Turaivijaya, con của vua Jaya Harivarman II (1162-1167) làm tướng để thay mặt vua Jayavarman VII cai trị và chỉ huy thổ binh người Chiêm đàn áp các cuộc khởi nghĩa, trong khi quân đội Chân Lạp vẫn đồn trú tại Chiêm Thành để giám sát vua quan người Chiêm. Lúc này, hoàng tộc Chiêm Thành hầu như đã chịu khuất phục nước Chân Lạp để được yên ổn giữ địa vị. Đời sống nhân dân Chiêm quốc cơ cực với hai tầng áp bức của quý tộc bản xứ và quân đội nước ngoài đô hộ.

Trong thời kỳ nội thuộc Chân Lạp, Ansaraja Turaivijaya nhiều lần dẫn quân Chiêm cùng với quân Chân Lạp xâm lấn Đại Việt. Năm 1207, liên quân Chiêm Thành - Chân Lạp tiến vào cướp phá Nghệ An rồi rút về. Đến năm 1216, Ansaraja Turaivijaya lại kéo binh thuyền ra đánh Nghệ An. Dù triều chính bất ổn nhưng phía Đại Việt lúc bấy giờ vẫn có tướng giỏi đóng ngoài biên. Lần cướp phá này, quân Chiêm Thành - Chân Lạp bị Châu bá Lý Bất Nghiễm đánh lui. Năm 1218, một lần nữa Lý Bất Nghiễm đánh bại Ansaraja Turaivijaya. Chiến công này giúp ông được phong tước Hầu và được ban cho Thái ấp.

Thời cơ đến với Chiêm Thành một cách bất ngờ. Sau cuộc chinh phạt Chiêm Thành không lâu, vua Jayavarman VII chết. Con trai ông lên nối ngôi với vương hiệu Indravarman II. Dưới thời trị vì của Jayavarman VII, Chân Lạp đã đổ nhiều tiền của, công sức vào việc xây dựng các đền đài đồ sộ và những cuộc chiến bành trướng lãnh thổ. Việc chiếm đóng Chiêm Thành trên thực tế đã trở thành một gánh nặng lớn cho nước Chân Lạp. Trong bối cảnh đó, tại khu vực đồng bằng sông Mê Nam (miền trung Thái Lan ngày nay), những bộ tộc người Thái nhờ năng lực khai phá đất đai vượt trội của mình đã trở nên đông đúc và hùng mạnh. Sự nổi lên của thế lực mới này đã khiến triều đình Chân Lạp phải lo ngại. Những khó khăn và mối đe doạ trong nước cộng với sự tốn kém khi phải đóng quân ở xa lâu ngày đã dẫn đến một quyết định khó khăn đối với vua Indravarman II là rút quân từ Chiêm Thành về nước vào năm 1220, từ bỏ tham vọng bành trướng lãnh thổ để giữ vững căn cơ của đế chế.

Sau khi quân Chân Lạp rút đi, các quý tộc Chiêm Thành tôn Ansaraja Turaivijaya làm vua, lấy hiệu là Jaya Paramesvaravarman II. Thành Vijaya được chọn làm kinh đô trở lại. Thoát khỏi ách đô hộ của Chân Lạp, nước Chiêm Thành có cơ hội phục hưng. Vị vua mới đã chú trọng khôi phục lại nông nghiệp và thương mại, trùng tu lại những đền đài bị huỷ hoại trong chiến tranh. Đời sống của nhân dân Chiêm Thành dần khởi sắc. Jaya Paramesvaravarman II vẫn giữ thái độ thuần phục đối với Chân Lạp và thù địch với Đại Việt. Đến năm 1225, nhà Trần thay thế nhà Lý. Vua Trần Thái Tông nhân dịp mở mang triều đại mới đã sai sứ đến Chiêm Thành để nối lại bang giao, thuyết phục Chiêm Thành trở lại triều cống và xưng thần với Đại Việt như xưa.

Trước vị thế mới của Đại Việt, vua Jaya Paramesvaravarman II đã chấp nhận triều cống trở lại, nhưng thi thoảng vẫn cho quân dùng thuyền nhẹ cướp phá biên giới và bắt cóc cư dân Đại Việt ở các vùng ven biển. Hành động này khiến vua tôi Đại Việt rất bất bình, nhưng vì lúc đầu thời vua Trần Thái Tông thì thế lực của sứ quân Nguyễn Nộn, Đoàn Thượng vẫn còn hùng mạnh. Triều đình nhà Trần chưa đánh dẹp nổi, phải dùng tước vị để phong cho các sứ quân đổi lấy sự phục tùng. Quân đội chính quy Đại Việt luôn phải đóng giữ gần kinh đô để phòng giữ. Việc ngoài biên thuỳ vì thế phải tạm gác lại.

Năm 1228, Thái sư Trần Thủ Độ lập mưu cùng Nguyễn Nộn liên kết giết chết được sứ quân Đoàn Thượng. Sang năm sau, Nguyễn Nộn chết vì bệnh. Giang sơn từ đó mới tạm yên. Triều đình nhà Trần sau đó chuyên tâm vào việc khôi phục thuỷ lợi và nông nghiệp, vốn đã bị tàn phá nghiêm trọng trong cuộc nội chiến cuối thời Lý. Sự hồi sinh về nông nghiệp là nền tảng cho Đại Việt khôi phục lại sức mạnh quân sự. Trong khi đó thì vua Jaya Paramesvaravarman II nước Chiêm vẫn còn khinh nhờn Đại Việt. Năm 1244, nước Chiêm Thành động binh quy mô lớn. Vua Jaya Paramesvaravarman II tung quân chiếm đóng cả ba châu Minh Linh, Bố Chính, Lâm Bình ở cực nam nước Đại Việt. Quân Chiêm còn tiến đánh ra cả Nghệ An, Thanh Hoá trước khi rút lui.

Triều đình nhà Trần rất nóng lòng nam chinh nhưng vẫn chưa thể vội vàng. Lúc thế nước đã vững vàng, vua Trần Thái Tông mới bắt đầu thi hành chính sách đối ngoại cứng rắn. Năm 1252, sau thời gian dài chuẩn bị vua Trần Thái Tông đã cầm quân thân chinh tiến đánh Chiêm Thành, sai Khâm Thiên đại vương Trần Nhật Hiệu giữ chức lưu thủ thành Thăng Long.

Lần tiến quân này khá cam go khi mà Jaya Paramesvaravarman II cũng là một vị tướng giỏi dụng binh. Quân Đại Việt và quân Chiêm Thành giao tranh với nhau hàng tháng trời. Từ lúc tiến quân là mùa xuân, phải đến cuối đông năm 1252 quân Đại Việt mới đánh hạ được thành Vijaya. Vua Jaya Paramesvaravarman II bỏ thành rút lui. Quân Đại Việt vào thành bắt được vương phi Bố Gia La, cùng với nhiều cung phi và dân chúng người Chiêm đem về nước. Thừa thắng, vua Trần Thái Tông sai quân truy kích vua Chiêm trong khi ngài đem một bộ phận rút về nước trước. Đến năm 1254, vua Jaya Paramesvaravarman II tử trận. Các quý tộc Chiêm Thành đưa hoàng tử Sakan Vijaya lên ngôi, lấy hiệu là Jaya Indravarman VI. Không thể chống nổi sức mạnh của quân Đại Việt, vua Jaya Indravarman VI phải chấp nhận đầu hàng và xưng thần. Quân Đại Việt vẫn chiếm đóng Chiêm Thành. Chấp nhận sự tồn tại của nước Chiêm Thành nhưng với điều kiện phải cống nạp và chịu sự kiểm soát của Đại Việt.

Đến năm 1254, tình hình phương bắc xảy ra nhiều biến động. Nước Đại Lý bị nước Mông Cổ diệt vào năm 1253, dẫn đến việc lãnh thổ Đại Việt đã tiếp giáp với đế quốc Mông Cổ đang trên đà bành trướng dữ dội. Cuộc chiến giữa Nam Tống và Mông Cổ được triều đình Đại Việt theo dõi sát sao. Nhà Trần nhận thấy nguy cơ đến gần khi mà quân Mông Cổ đã có ý nhòm ngó nước Đại Việt, nên đã quyết định rút quân từ Chiêm Thành về nước vào năm 1257. Quả nhiên đến năm sau thì quân Mông Cổ đã sang đánh.

Làn sóng xâm lược từ phương bắc đã khiến hai nền văn minh Đại Việt, Chiêm Thành xích lại gần nhau hơn. Kể từ năm 1258 trở đi, hai nước đã cùng chung chiến tuyến ngăn chặn con đường bành trướng xuống Đông Nam Á của đế chế Nguyên Mông.

Quốc Huy
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Kỳ 160

ĐƯỢC ĐẠI VIỆT CỔ VŨ
CHIÊM THÀNH CỨNG RẮN VỚI NGUYÊN MÔNG


Giữa thế kỷ 13, khắp lục địa Á Âu chấn động bởi thế lực người Mông Cổ đến từ thảo nguyên Trung Á. Thoạt nhiên nhìn vào bản đồ địa lý thời bấy giờ, địa bàn Đông Nam Á ở cách xa người Mông Cổ vạn dặm. Nhưng rất nhanh chóng, lần lượt những quốc gia hùng mạnh là Tây Hạ và Kim bị tiêu diệt. Kế đó, quân Mông Cổ tấn công chiếm nhiều vùng rộng lớn của nước Tống, kiểm soát các vùng đất thuộc Tây Tạng và tiến chiếm nước Đại Lý. Sau khi Đại Lý diệt vong, nước Đại Việt tiếp giáp trực tiếp với đế quốc Mông Cổ. Trên đà bành trướng thuận lợi, gần như ngay sau khi chiếm xong Đại Lý thì quân Mông Cổ đã tính đến chuyện thôn tính nước Đại Việt, rồi dùng lãnh thổ Đại Việt làm một trong những bàn đạp tấn công nước Tống. Trước thử thách mới cam go, hai nền văn minh Đại Việt và Chiêm Thành thời bấy giờ đứng trước lựa chọn cùng nhau gạt bỏ bất đồng, đoàn kết lại để đối đầu với những kẻ địch bên ngoài hoặc thoả hiệp và trông chờ vào ân huệ của kẻ mạnh.

Cuộc chiến Việt - Chiêm từ năm 1252-1254 đã khiến thái độ của Chiêm Thành đối với Đại Việt thay đổi. Vị vua mới lên ngôi sau cuộc chiến là Jaya Indravarman VI đã nhận thấy được sức mạnh đáng gớm của nước Đại Việt. Nhưng hơn thế nữa, triều đình Chiêm Thành cũng nhận thấy thiện chí của kẻ chiến thắng. Nhà Trần tuy muốn kìm chế Chiêm Thành, những vẫn duy trì chủ quyền của nước này. Đối với người Chiêm, thái độ của Đại Việt thân thiện hơn hẳn những gì mà người Chân Lạp đã thể hiện trong những năm trước đó, dù cho Chiêm Thành là bên gây chuyện trước dẫn đến chiến tranh. Sự cân bằng trong việc thể hiện binh uy và đức độ của vua Trần Thái Tông là nền tảng hoà bình cho hai nước. Vua tôi Chiêm Thành lúc bấy giờ vừa nể vừa sợ Đại Việt. Đến khi quân Mông Cổ sang đánh, nước Chiêm Thành đã không thừa cơ gây hấn ở phía nam.

Đầu năm 1258, 5 vạn liên quân Mông Cổ - Đại Lý (thuộc Mông Cổ) dưới trướng của tướng Ngột Lương Hợp Thai tấn công nước Đại Việt. Vốn tự tin vào sức mạnh quân sự của mình, vua Trần Thái Tông quyết định thân chinh dẫn quân bày trận ở Bình Lệ Nguyên để đợi giặc. Một cuộc chiến quy ước đã diễn ra ác liệt. Trong trận này, kỵ cung Mông Cổ đã được dịp thể hiện những phẩm chất vượt trội của mình. Quân Đại Việt với tượng binh hùng mạnh cũng không thể địch nổi những kẻ chinh phục phương bắc. Vua Trần Thái Tông suýt bị tổn thương trong trận chiến. May nhờ có sự liều chết của tướng sĩ, quyết định rút lui kịp thời và khả năng cơ động cao của thuỷ quân, vua Trần Thái Tông mới thoát chết, cả nước có cơ hội chuyển sang trạng thái chiến tranh, thiết lập thế trận toàn dân đánh giặc.

Với kế sách vườn không nhà trống của người Việt, quân Mông Cổ dù chiếm đóng được kinh thành Thăng Long nhưng chỉ là một toà thành trống rỗng không có dân chúng, không có lương thực. Hạn chế của một đạo quân viễn chinh du mục lúc bấy giờ lập tức thể hiện rõ nét. Việc đem theo quá ít ỏi lương thực dự trữ nhằm đảm bảo tốc độ hành quân khiến quân Mông Cổ nhanh chóng rơi vào cảnh đói khát. Cuối tháng 1.1258, quân dân Đại Việt tổ chức phản công toàn tuyến. Quân Mông Cổ đại bại ở Đông Bộ Đầu, phải chạy dài. Đến trại Quy Hoá, đoàn quân của Ngột Lương Hợp Thai lại trúng mai phục của tù trưởng Hà Bổng nên tổn thất nặng. Khi đến hội quân ở Ngạc Châu (thuộc nước Tống) với cánh quân của Hốt Tất Liệt, Ngột Lương Hợp Thai chỉ còn chừng 5.000 kỵ binh.

Chiến thắng oanh liệt trong lần đầu tiên đọ sức với Mông Cổ đã giúp Đại Việt có được một quãng thời gian hoà bình để củng cố thêm sức mạnh trước mối đe doạ vẫn còn thường trực. Trong lúc Đại Việt chiến đấu với quân Mông Cổ thì tại Chiêm Thành lại có biến loạn. Vì cớ Jaya Indravarman VI là người đã thoả hiệp với quân Đại Việt chiếm đóng Chiêm Thành nên trong nước vẫn có những thế lực ngầm chống đối. Năm 1257, sau khi quân Đại Việt rút khỏi Chiêm Thành không lâu thì hoàng thân Chay Nuk, con trai của vua Jaya Paramesvaravarman II bị tử trận trong cuộc chiến với Đại Việt trước đó đã tổ chức ám sát vua Jaya Indravarman VI, đưa hoàng tử Pulyan Sri Yuvaraja, con trai của người chị vua Jaya Indravarman VI lên nối ngôi, lấy hiệu là Jaya Sinhavarman VI. Đến năm 1266, hoàng thân Chay Nuk lên kế vị lấy hiệu là Indravarman V. Các vua Chiêm Thành vẫn theo đường lối hoà hảo với Đại Việt, và đề phòng với thế lực người Mông Cổ.

Vua tôi Chiêm quốc khi theo dõi tình hình chiến sự Tống - Nguyên đã đưa ra quyết định cùng Đại Việt đoàn kết chống Nguyên Mông. Năm 1278, vua Indravarman V phái sứ giả là Bồ Tinh, Bồ Đột sang Đại Việt thoả thuận kết liên minh. Trong trường hợp Chiêm Thành bị tấn công, Đại Việt cam kết sẽ cử quân giúp đỡ. Đổi lại, Chiêm Thành cam kết chiến đấu với Nguyên Mông, không ngã theo Nguyên Mông chống Đại Việt. Thoả thuận này đóng vai trò khá quan trọng trong chiến lược giữ nước của cả hai phía, giúp cả Đại Việt và Chiêm Thành có thể yên tâm và chủ động hơn trước những yêu sách và đe doạ của Nguyên Mông sau đó.

Năm 1279, quân Nguyên thảm sát vua tôi nước Tống ở trận Nhai Môn, chính thức diệt Tống. Hốt Tất Liệt liên tục cho đòi vua Đại Việt phải đích thân sang chầu, đồng thời phải cho thân thích sang làm con tin. Bấy giờ ở Đại Việt, cuộc chiến ngoại giao giữa Thượng hoàng Trần Thánh Tông, vua Trần Nhân Tông với các sứ đoàn nước Nguyên diễn ra khá căng thẳng. Thực ra, song song với những chiêu bài ngoại giao, Nguyên chủ Hốt Tất Liệt cũng đã sớm chuẩn bị cho những cuộc nam chinh. Ngay từ khi lập nên triều Nguyên, Hốt Tất Liệt đã có mong muốn chiếm trọn Đông Nam Á, từ cả vùng lục địa ra các nước hải đảo. Tham vọng bành trướng của Nguyên Mông, thực sự là không hề có điểm dừng.

Tuy đánh giá vị trí của Đại Việt là cửa ngõ tiến xuống nam nhưng Nguyên triều vẫn còn chần chừng vì sức mạnh của Đại Việt khá đáng gờm. Nhìn sang nước Chiêm Thành, vua tôi nước Nguyên nhận thấy vị trí của Chiêm quốc nằm ở giữa vùng, khi chiếm được có thể dùng làm bàn đạp mà tấn công Đại Việt từ cả hai mặt bắc nam. Và điều quan trọng là Chiêm Thành yếu hơn Đại Việt nhiều. Vì thế, sau khi cân nhắc thì Nguyên Mông đã thiên về quyết định đánh Chiêm Thành trước.

Năm 1280, sứ giả Nguyên Mông sang Chiêm Thành phong cho vua Indravarman V làm “Chiêm Thành quận vương” và yêu cầu vua Chiêm phải sang chầu nước Nguyên. Vua Indravarman V cũng theo chính sách của Đại Việt, niềm nở tiếp đón sứ Nguyên nhưng nhất quyết không chấp nhận việc đích thân sang chầu Nguyên triều. Thái độ của cả hai nước đối với Nguyên Mông khá nhất quán, vừa mềm mỏng tránh đối đầu, nhưng cũng kiên quyết bảo vệ những giá trị cốt lõi của đất nước.

Năm 1281, lấy cớ Chiêm Thành chống lệnh, Hốt Tất Liệt ra lệnh lập Chiêm Thành hành trung thư tỉnh, phong Toa Đô (Sagatou) làm Hữu thừa, Lưu Thâm làm Tả thừa, Diệp Hắc Mê Thất (Yigmis) làm Tham tri chính sự lo việc chuẩn bị nam chinh. Đến cuối năm 1282, 10 vạn quân Nguyên Mông với 1.000 chiến thuyền giương buồm xuôi nam tiến đánh Chiêm Thành. Đây là một trong những đạo quân lớn nhất trong suốt chiều dài lịch sử nước Chiêm Thành. Cuộc chiến này không chỉ là việc của hai nước Nguyên - Chiêm Thành mà nó còn can hệ đến vận mệnh của một loạt các nước trong khu vực. Nhất là đối với Đại Việt thì việc thành bại của quân dân Chiêm Thành ảnh hưởng cực lớn đến thế trận chống Nguyên Mông.

Quốc Huy
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Kỳ 161

VUA TRẦN PHẢI 2 VẠN QUÂN
VIỆN CHIÊM KHANG NGUYÊN


Những cuộc xâm lược của đế chế Nguyên Mông vào nửa cuối thế kỷ 13 là thử thách ngặt nghèo đối với cả hai nền văn minh Đại Việt và Chiêm Thành. Sau khi tiến hành những bước gây hấn thì năm 1282, tại nước Nguyên việc chuẩn bị cho chuyến hải trình xâm lược Chiêm Thành diễn ra khẩn trương. Cùng với đó, quân Nguyên cũng tiến hành tập trung binh lực ở gần biên giới nước Đại Việt, nói phao là muốn mượn đường Đại Việt để đánh Chiêm Thành, kỳ thực là muốn đánh úp Đại Việt. Triều đình nhà Trần biết mưu của giặc, đêm ngày củng cố binh lực. Không thể thực hiện mưu giả cách mượn đường, vua tôi nước Nguyên chỉ còn có thể dùng đường biển để đánh Chiêm.

Cơn bão ngoại xâm đã được dự báo trước và người Chiêm Thành đã có nhiều bước chuẩn bị để đối đầu. Vua Indravarman V cùng hoàng thái tử Harijit đã chỉ huy quân dân dựng hành cung, xây thành gỗ, đặt Hồi Hồi pháo để phòng giữ. Nhưng khí thế và sức mạnh của quân Nguyên Mông vẫn quá vượt trội so với đất nước duyên hải này. Một ngày đầu năm 1283, 10 vạn quân với 1.000 chiến thuyền Nguyên Mông dày đặc tiến vào vịnh Cri-Banoi (vịnh Quy Nhơn ngày nay). Với lực lượng hùng mạnh áp đảo, Toa Đô hy vọng vua tôi Chiêm Thành thấy sợ mà chịu đầu hàng. Vì thế, tướng Nguyên không vội đánh gấp, mà trước tiên cho quân đổ bộ rồi sai sứ đến chỗ vua Chiêm để dụ hàng. Thế nhưng sau tám lần sai sứ đến hành cung vua Indravarman V, Toa Đô vẫn không thể thuyết phục vua Chiêm đầu hàng. Trái lại, vua Indravarman V còn gởi thư khiêu chiến.

Toa Đô quyết định tấn công khi mà kế hoạch dụ hàng thất bại. Trong lúc quân Nguyên đang sửa soạn thì một trận bão đã làm quá nửa thuyền bè của chúng bị hư hại. Nhưng vì quân Nguyên đóng trại trên bờ nên không bị hao hụt quân số cũng như trang bị. Trung tuần tháng 2.1283, quân Chiêm Thành cùng quân Nguyên Mông quyết chiến một trận tại thành gỗ. Thái tử Harijit cùng đội quân của mình dù cố gắng nhưng không thể cản nổi bước tiến của địch. Quân Chiêm Thành phải rút lui về giữ kinh thành Vijaya. Quân Nguyên thừa thắng đuổi dài, chẳng mấy chốt đã tiến gần đến thành Vijaya. Vua tôi Chiêm quốc theo cách của Đại Việt lúc trước, cho quân dân sơ tán khỏi kinh thành để làm kế Vườn không nhà trống. Chủ lực còn lại của Chiêm Thành theo vua rút lên vùng cao nguyên phía tây, xây dựng tuyến phòng thủ mới.

Đồng thời vua Indravarman V cử sứ giả đến điều đình với Toa Đô, giả bộ thuần phục để kéo dài thời gian. Kế hoãn binh của vua Chiêm đã diễn ra suôn sẻ, khiến Toa Đô tạm dừng quân trong khoảng 1 tháng trời. Tranh thủ thời gian này, quân Chiêm với sự hỗ trợ đắc lực của các sắc dân người Thượng đã dựng xong một thành gỗ mới ở núi Nha Hầu cùng hệ thống hào luỹ dọc đường vào, cố thủ chờ đón đánh quân Nguyên. Đồng thời, sứ giả Chiêm Thành tức tốc sang Đại Việt báo tin và xin quân tiếp viện. Vua Trần Nhân Tông đã phái 2 vạn quân, 500 chiến thuyền xuống cứu Chiêm Thành. Các xứ Amaravati, Indrapura cũng dẫn quân đến hỗ trợ vua Indravarman V. Thái tử Harijit hội quân người Thượng với binh lực các lãnh chúa gom lại được hơn 2 vạn quân. Tổng cộng, liên quân Việt - Chiêm đã có 4 vạn người. Số quân này đủ để đảm bảo cho người Chiêm giữ vững được những phần đồi núi phía tây và chiến đấu lâu dài với quân Nguyên.

Tuy nhiên, vì bại trận ở vùng duyên hải và phải chịu lép vế trước tướng giặc nên uy quyền của vua Indravarman V cũng bị suy giảm. Ở vùng đồng bằng xứ Vijaya, hàng loạt quý tộc Chiêm Thành thuộc các xứ đem quân dân hàng Nguyên Mông. Toa Đô trọng dụng đám quý tộc đầu hàng và bắt nguỵ quân người Chiêm sung vào đội ngũ quân Nguyên Mông để bù vào số quân đã tổn thất. Tháng 3.1283, Toa Đô dẫn quân chia đường thuỷ bộ tiến đánh căn cứ của quân Chiêm Thành. Vạn hộ Trương Ngung dẫn quân bộ đi đường núi, còn Toa Đô đem hàng trăm chiến thuyền ngược sông tiến lên cao nguyên. Dựa vào địa hình hiểm trở, quân Chiêm Thành đã giáng những đòn mạnh mẽ vào kẻ địch. Cả hai cánh quân Nguyên đều phải rút chạy. Riêng cánh quân của Trương Ngung bị tổn thất nặng vì trúng mai phục. Sau khi thua trận, Toa Đô phải rút quân về ven biển, dựng lại thành gỗ để cố thủ chờ viện binh từ nước Nguyên sang.

Vua Indravarman V thừa thắng tiến quân xuống đồng bằng, tổ chức đánh lớn với quân Nguyên. Thái tử Harijit dẫn quân tiến đánh thành gỗ, hòng giành thắng lợi hoàn toàn. Nhưng khi xuống vùng đồng bằng ven biển, quân Chiêm Thành lại mất đi ưu thế trước quân Nguyên. Trận chiến diễn ra ác liệt với tổn thất nặng cho cả hai phía. Rốt cuộc, Harijit phải lui binh về cao nguyên khi không địch nổi quân quân Nguyên vốn giỏi chiến đấu nơi bằng phẳng. Triều đình nước Chiêm chuyển sang chiến lược đánh lâu dài, lợi dụng việc ở xa hậu cần của quân Nguyên mà phát động chiến tranh tiêu hao. Ngày qua ngày, quân Nguyên dần thiếu thốn lương thực, tinh thần suy giảm khi phải đối phó với sự đánh phá liên tục của quân dân nước Chiêm. Toa Đô vẫn cố vơ vét, cướp bóc nuôi quân và gởi thư về nước xin tiếp viện. Nhưng ở trong nước Nguyên bấy giờ nhân dân chịu lao dịch, thuế khoá nặng nề để phục vụ chiến tranh trở nên cùng quẫn, nhiều nơi nổ ra khởi nghĩa buộc Nguyên triều phải cất quân đánh dẹp. Việc tiếp viện cho Chiêm Thành do đó bị gián đoạn. Vua Nguyên Hốt Tất Liệt không có kế gì hay, lại sai sứ giả sang Đại Việt yêu cầu mượn đường đánh Chiêm Thành. Hiển nhiên, triều đình nhà Trần tìm cớ thoái thác việc này.

Đến mùa xuân năm 1284, quân Nguyên ở Chiêm Thành gần như cùng quẫn, số chết và đào ngũ ngày một tăng. Toa Đô phải hạ lệnh bỏ thành lên thuyền tiến lên phía bắc Chiêm Thành. Quân Nguyên đóng tại hồ Đại Lãng, xứ Indrapura dựng thành gỗ mới, lập đồn điền tự túc. Khi đạo quân tiếp viện của A Tháp Hải với 3 vạn quân, hàng trăm thuyền đến vịnh Cri Banoi vào tháng 4.1284 thì Toa Đô đã đi khỏi đó rồi. A Tháp Hải dò la tin tức, dong thuyền ra bắc tìm Toa Đô thì gặp bão biển đánh tan tác. Đám tàn quân còn lại dong thuyền về nước, lại bị triều đình nước Nguyên bắt phải quay trở lại Chiêm Thành. Quá chán ngán với sóng gió phương nam, đám quân tướng Nguyên bị bắt đi đánh Chiêm bất tuân lệnh, rủ nhau làm thổ phỉ.

Không thể trông chờ vào tiếp viện từ trong nước, Toa Đô vẫn chưa chịu chấp nhận thất bại. Khi sứ giả nước Chiêm đến doanh điều đình xin Toa Đô rút quân về, hắn đã từ chối và gởi thư về cho vua Nguyên khuyên rằng: “Giao Chỉ liền đất với các nước Chân Lạp, Chiêm Thành, Vân Nam, Xiêm, Miến, có thể lập tỉnh ngay trên đất ấy và đóng quân trấn giữ ở ba đạo Việt Lý [tức Quảng Trị ngày nay], Trì Châu [Quảng Đông, Trung Quốc ngày nay], Tỳ Lan [đảo Hải Nam, Trung Quốc ngày nay], lấy lương hướng ở đấy cấp cho quân lính, tránh được việc khó nhọc chuyển vận bằng đường biển”.

Thực sự Hốt Tất Liệt đã có ý đánh Đại Việt từ lâu. Chỉ là ban đầu hắn cho rằng có thể thuận lợi thôn tính được Chiêm Thành trước rồi dùng làm bàn đạp tiến đánh Đại Việt. Đến nay khi tình hình ở Chiêm Thành bất lợi và xem qua lời tâu của Toa Đô, vua Nguyên củng cố lại quyết tâm đánh Đại Việt. Cánh quân của Toa Đô từ bắc Chiêm Thành tạm từ bỏ nhiệm vụ thôn tính Chiêm Thành mà đóng quân chờ phối hợp với cánh quân Nguyên từ bắc tiến đánh Đại Việt. Tháng 8.1284, vua Nguyên phong cho hoàng tử thứ 9 là Thoát Hoan là Nguyên soái, cùng A Lý Hải Nha làm phó soái, sửa soạn 50 vạn quân để tiến đánh Đại Việt.

Đến lượt mình, quân dân Đại Việt phải trực tiếp đương đầu với quân Nguyên Mông để bảo vệ nền độc lập, qua đó cũng góp phần bảo vệ đồng minh Chiêm Thành và những nước Đông Nam Á khác.

Quốc Huy
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Kỳ 162

NHỜ ĐẠI VIỆT ĐÁNH THẮNG QUÂN NGUYÊN
CHIÊM THÀNH HƯỞNG LỢI


Sự chống trả ngoan cường của quân dân Chiêm Thành đã khiến kế hoạch bành trướng xuống phương nam của vua tôi nước Nguyên không thể như dự kiến. Chiêm quốc đã không dễ bị khuất phục, trở thành công cụ cho đế quốc Nguyên Mông như toan tính ban đầu của Hốt Tất Liệt mà đã đáp trả quân xâm lược những đòn mạnh mẽ, khiến kẻ địch nhiều phen điêu đứng. Tuy vậy, cho đến năm 1284 việc quân Nguyên vẫn trụ được ở phía bắc Chiêm Thành và duy trì được quân số ngót gần 10 vạn (tính quân Nguyên và nguỵ binh người Chiêm Thành) dưới trướng Toa Đô vẫn là một mối hiểm hoạ cho cả hai nước Đại Việt và Chiêm Thành.

Bị sa lầy tại Chiêm Thành, Toa Đô đã khuyên vua Nguyên Hốt Tất Liệt thay đổi kế hoạch, chuyển hướng tấn công Đại Việt trước, mở thông con đường bộ tiến xuống phương nam. Trong suốt năm 1284, khắp các vùng phương nam nước Nguyên sôi sục việc chuẩn bị tiến đánh Đại Việt để thực hiện kế hoạch xâm lược mới. Đến năm 1285, 50 vạn quân Nguyên dưới trướng Thoát Hoan, A Lý Hải Nha đánh xuống, 10 vạn quân Toa Đô đánh lên. Nước Đại Việt bấy giờ dưới sự cai trị của vua Trần Nhân Tông và Thượng hoàng Trần Thánh Tông vốn đã nhiều năm quen cảnh thái bình, nay lâm vào thế lưỡng đầu thọ địch trong một cuộc chiến tưởng chừng như không cân sức. Nhưng với sức mạnh và ý chí chiến đấu tuyệt vời của các tầng lớp quân dân cùng với tài năng xuất chúng của các tướng lĩnh, sự đoàn kết trên dưới một lòng, dần dần những đòn vũ bão của quân Nguyên bị hoá giải.

Thoạt đầu, kế Vườn không nhà trống khiến cho khả năng tìm kiếm lương thực tại chỗ của quân Nguyên bị hạn chế tối đa, làm chúng sớm lâm vào cảnh thiếu thốn lương thực. Quân Đại Việt không giữ lấy cao nguyên như quân Chiêm, mà dùng thuỷ quân dựa vào sông nước, biển cả tiến hành chiến tranh. Quân Nguyên tuy đông nhưng dần bị kéo giãn ra, vừa phải chia quân giữ đường tiếp tế, vừa phải phân tán đi lùng sục cướp bóc lương ăn, chia quân đóng giữ những điểm xung yếu… Lực lượng cơ động còn lại của giặc thì sa vào những cuộc rượt đuổi với thuỷ quân nhà Trần mà phần thua thường thuộc về chúng bởi khả năng hành quân và nghi binh điêu luyện của quân nhà Trần. Đến khi quân giặc đã mỏi mệt, quân dân Đại Việt tiến hành phản công mạnh mẽ. Những chiến công Chương Dương, Hàm Tử, Tây Kết gắn liền với hàng loạt những tên tuổi Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật … đã nhấn chìm quân xâm lược cuồng bạo. Thoát Hoan phải chui ống đồng mà trốn chạy qua ải, Toa Đô thì bị bêu đầu. Trong khoảng thời gian trên dưới nửa năm, quân dân Đại Việt đã khiến cho hơn nửa triệu quân Nguyên Mông hùng mạnh tan tác. Đây quả thực là một trong những võ công lừng lẫy nhất thời đại bấy giờ.

Chiến thắng của Đại Việt đã tạo thời cơ vô cùng thuận lợi cho quân Chiêm Thành giải phóng toàn bộ đất nước. Trước đó khi Toa Đô đem quân bắc tiến phối hợp với Thoát Hoan thì đã chia quân cho Diệp Hắc Mê Thất (Yigmis) đóng giữ tại bắc Chiêm Thành. Số quân ít ỏi này vốn chỉ đủ cầm chừng chờ quân Nguyên thôn tính Đại Việt. Khi Thoát Hoan cùng Toa Đô thua tan nát ở chiến trường Đại Việt, Diệc Hắc Mê Thất cũng đành phải lên thuyền rút quân về nước, tránh nguy cơ bị tiêu diệt trong sớm chiều. Nước Chiêm Thành do đó thoát được hoạ Nguyên Mông. Những người Chiêm trước đó trót theo quân Nguyên đa phần cũng trốn theo đoàn quân của Diệp Hắc Mê Thất. Số nguỵ binh người Chiêm theo Toa Đô vào Đại Việt bị quân nhà Trần bắt sống được trả về của triều đình Chiêm Thành trị tội.

Năm 1288, vua Indravarman V mất, thái tử Harijit lên nối ngôi, lấy hiệu là Jaya Sinhavarman III (sử Việt gọi là Chế Mân). Chiêm Thành lúc này đã có được hoà bình để tái thiết đất nước. Trong khi đó, quân dân Đại Việt vẫn phải chịu thêm một cuộc xâm lược quy mô lớn nữa từ nước Nguyên. Cuối năm 1287, Nguyên triều huy động hơn 30 vạn quân, 600 chiến thuyền, 17 vạn thạch lương (có sách chép 70 vạn thạch) sang đánh Đại Việt, dưới quyền tổng chỉ huy của Thoát Hoan. Rút kinh nghiệm lần trước, lần ra quân này quân Nguyên đã xây dựng một hạm đội hùng mạnh hơn và có riêng một hạm đội tải lương. Chỉ huy đạo thuỷ quân là tướng Ô Mã Nhi, một tướng giỏi, có nhiều kinh nghiệm ở chiến trường Đại Việt và rất tàn bạo. Dù chuẩn bị kỹ lưỡng như vậy nhưng kết cuộc của kẻ xâm lược còn tệ hại hơn lần trước. Thoát Hoan mặc dù vẫn tiến quân như vũ bão nhưng không giành được lợi thế chiến lược nào đáng kể trước sự bố phòng tinh tế của quân Đại Việt. Quân Nguyên tiến chiếm được Thăng Long nhưng rồi lại phải rút về giữ Vạn Kiếp chứ không dám đóng quân trong kinh thành nước Đại Việt.

Tháng 2.1288, hạm đội tải lương của chúng lại bị Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư tiêu diệt ở trận Vân Đồn. Chẳng còn lương thực, Thoát Hoan không còn cách nào khác là chia quân làm hai đường thuỷ bộ mà rút về nước. Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đã tổ chức đón lõng địch trên cả hai hướng rút quân để giáng cho chúng thiệt hại nặng nề nhất có thể, không cho đạo quân xâm lược có cơ hội bảo toàn lực lượng. Cánh quân bộ của Thoát Hoan bị trúng kế nghi binh nên đi vào đường hẹp mà quân ta mai phục đợi sẵn, khiến quân tướng giặc phải bỏ xác trên đường và phải chạy dài. Cánh thuỷ quân dưới quyền Ô Mã Nhi là lực lượng được triều đình Đại Việt đánh giá là đặc biệt nguy hiểm nên đặt trọng tâm tiêu diệt. Ngày 9.4.1288, quân Đại Việt đã đánh một trận lớn ở cửa sông Bạch Đằng, diệt gọn và bắt sống toàn bộ đạo thuỷ quân của giặc với trên dưới 6 vạn quân, 600 chiến thuyền, khép lại cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ 3.

Ba lần chiến thắng quân Nguyên Mông đã khiến uy danh của nước Đại Việt lừng lẫy khắp các nước lân bang. Chiêm Thành sau khi chứng kiến sức mạnh của Đại Việt trong cuộc chiến càng thêm vị nể và tin tưởng vào liên minh hai nước. Bên cạnh đó, vua Jaya Sinhavarman III cũng kết thân với các nước Majapahit và Java (thuộc Indonesia ngày nay), Yavadvipa (thuộc Malaysia ngày nay) trong bối cảnh vua Nguyên là Hốt Tất Liệt vẫn chưa chịu từ bỏ dã tâm tiến chiếm vùng Đông Nam Á. Năm 1293, quân Nguyên đi đánh nước Java, Madjapahit. Tướng Nguyên đã trơ trẽn đề nghị vua Chiêm cho chúng vào bờ mua vật phẩm dự trữ. Tất nhiên, vua Jaya Sinhavarman III đã thẳng thừng từ chối. Rốt cuộc quân Nguyên lại thất bại trở về. Hốt Tất Liệt một lần nữa nhận ra rằng quân đội của hắn sẽ chẳng thể nào làm nên trò trống gì nếu cứ phải hành quân bằng đường biển xuống nam. Vua Nguyên khởi động trở lại kế hoạch xâm lược Đại Việt một lần nữa. Việc chuẩn bị xâm lược đang dang dở thì Hốt Tất Liệt bệnh chết, vua kế nhiệm là Nguyên Thành Tông nhận thấy rằng việc nam chinh quá hao người tốn của mà khả năng chiến thắng lại mong manh nên đã hạ lệnh bãi binh. Các nước phương nam từ đó mới được yên ổn.

Sau khi thoát được nạn Nguyên Mông, Đại Việt và Chiêm Thành cùng bước vào kỷ nguyên thịnh vượng. Đặc biệt là Chiêm Thành, vua Jaya Sinhavarman III là một vị vua anh minh và thương dân. Dưới sự cai trị của ông, cả việc đối nội và đối ngoại của Chiêm Thành đều được hoà mục, thuận lợi. Với nền tảng thương mại truyền thống và sự ổn định về chính trị, Chiêm Thành nhanh chóng trở nên hùng cường. Vua Jaya Sinhavarman III vẫn duy trì triều cống đối với Đại Việt, nhưng vị thế của Chiêm Thành đã không còn lép vế như trước. Sứ giả Đại Việt cũng thường sang Chiêm Thành.

Sau hàng trăm năm chiến tranh, đây là quãng thời gian hiếm hoi mà nước Chiêm Thành không thù địch và chịu sự thù địch với các nước láng giềng. Nhờ đó, vua Jaya Shinhavarman III được rảnh tay mở rộng lãnh thổ về hướng tây, chinh phục các bộ lạc trên cao nguyên bằng cả ngoại giao và răn đe vũ lực. Các vùng cao nguyên DakLak (tỉnh Đăk Lăk, Đăk Nông ngày nay), Langbiang (tỉnh Lâm Đồng ngày nay) từ chỗ là vùng ảnh hưởng không thường xuyên đã trở thành lãnh thổ chính thức của Chiêm Thành. Vùng cao nguyên rộng lớn này là một vùng đất quan trọng đối với nước Chiêm Thành, là vùng các vua chúa nước Chiêm có thể rút về thủ hiểm khi có chiến tranh lớn và cũng là nơi khai thác lâm sản, thổ sản.

Năm 1301, Thượng hoàng Trần Nhân Tông (1) sang thăm nước Chiêm Thành theo lời mời của vua Chiêm và đã ở lại cung điện Chiêm Thành đến 9 tháng. Triều đình Chiêm quốc đã tiếp đãi Thượng hoàng nước Đại Việt rất nồng hậu. Trong chuyến thăm này, Thượng hoàng Trần Nhân Tông đã hứa gả công chúa Huyền Trân cho vua Jaya Sinhavarman III. Đổi lại, vua Chiêm Thành xin dâng hai châu Ô (thuộc nam Quảng Trị ngày nay), châu Lý (tỉnh Thừa Thiên-Huế ngày nay) để làm sính lễ cưới Huyền Trân. Hôn ước này càng khiến quan hệ hai nước thêm thắm thiết.

Quốc Huy
(1): năm 1293 thượng hoàng Trần Thánh Tông mất, vua Trần Nhân Tông nhường ngôi cho thái tử Trần Thuyên, tức vua Trần Anh Tông và xưng là Thái thượng hoàng
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Kỳ 163

VÌ BỜ CÕI, CÔNG CHÚA HUYỀN TRÂN
PHẢI KẾT HÔN VỚI VUA CHIÊM GẦN 50


Có thể nói đức Phật hoàng Trần Nhân Tông và vua Jaya Sinhavarman III (Chế Mân) là hai nhân vật đã dày công vung đắp cho tình hữu nghị Việt-Chiêm vào đầu thế kỷ 14. Cả hai đều là anh hùng chống Nguyên Mông và đều là những nhà cai trị yêu chuộng hoà bình. Chuyến viếng thăm của Thượng hoàng Trần Nhân Tông đến đất nước Chiêm Thành vào năm 1301 đã dẫn đến một sự kiện lớn. Để đáp lại sự đón tiếp nồng hậu của vua Jaya Sinhavarman III và kết chặt liên minh hai nước, Thượng hoàng Trần Nhân Tông đã hứa gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm Thành.

Thoạt đầu, đây là một hôn ước mang tính chính trị hòng giải quyết những mâu thuẫn tiềm ẩn có nguy cơ phá vỡ liên minh Đại Việt - Chiêm Thành. Thời bấy giờ, Việt - Chiêm đang ở thế tựa lưng vào nhau. Nước Chiêm Thành đang trên đà hùng mạnh trở lại và là đối tượng mà đế chế Nguyên Mông muốn tranh thủ thuyết phục để thực hiện mưu đồ bành trướng xuống Đông Nam Á sau khi dùng vũ lực bất thành. Một mặt, triều đình Đại Việt vẫn muốn giữ vị thế nước lớn đối với Chiêm Thành, coi nước này là chư hầu của mình. Mặt khác, liên minh chặt chẽ với Chiêm Thành là vấn đề sống còn đối với Đại Việt, trong bối cảnh Nguyên Mông vẫn lăm le tổ chức những cuộc xâm lược mới.

Bên cạnh vấn đề vị thế cao thấp trong liên minh là vấn đề di dân người Việt. Kể từ thời vua Trần Thái Tông đánh Chiêm Thành, người Việt dựa vào ưu thế quân sự vượt trội của mình đã có nhiều đợt di dân xuống phía nam. Cho đến đầu thế kỷ 14, những vùng châu Ô, châu Lý của Chiêm Thành đã có đông người Việt đến cư trú, lập thành nhiều làng xã. Triều đình nhà Trần thời kỳ này cần có một giải pháp để giữ vừa đảm bảo chỗ đứng chân cho di dân người Việt, vừa không mất lòng triều đình Chiêm quốc. Một khi gả công chúa cho vua Jaya Sinhavarman III, vua Chiêm sẽ trở thành em vợ của vua Trần Anh Tông nước Đại Việt, nhiều vấn đề khúc mắc sẽ được giải quyết dễ dàng nhờ vào mối quan hệ thông gia. Còn đối với Chiêm Thành, Đại Việt xưa nay vừa là nước có thể bảo trợ, cũng vừa là thế lực nguy hiểm có thể đe doạ đến tồn vong của nước mình. Việc kết thân với Đại Việt gần như đảm bảo cho Chiêm Thành một láng giềng thân thiện phía bắc, gạt bỏ nguy cơ ngoại xâm để yên ổn xây dựng đất nước.

Mặc dù cả hai nước đều có động cơ chính trị rõ ràng, cuộc hôn nhân giữa công chúa nước Đại Việt và vị vua nước Chiêm Thành vẫn vấp phải trở ngại lớn. Cuối năm 1301, vua Jaya Sinhavarman III sai sứ mang sính lễ đến cầu hôn công chúa Huyền Trân theo như hôn ước trước đó. Trong triều đình Đại Việt đã diễn ra những cuộc tranh luận gay gắt. Hầu hết quần thần đều cho rằng không nên gả công chúa cho Chiêm Thành, vì khinh người Chiêm là man di. Duy chỉ có Văn Túc vương Trần Đạo Tái khuyên nên gả đi, và Trần Khắc Chung tán thành. Vua Trần Anh Tông vẫn chần chừ chưa quyết vì một đằng là hôn ước đã
định trước và tầm quan trọng của liên minh, một đằng là hạnh phúc của em gái mình và cả thể diện của hoàng tộc.

Cần biết rằng, lúc bấy giờ vua Jaya Sinhavarman III đã ở trạc tuổi gần 50, lại đã có ba người vợ chính thức. Còn công chúa Huyền Trân thì đang độ xuân sắc, là giai nhân nổi tiếng đất Việt. Hạnh phúc lứa đôi đối với vị công chúa trẻ trong cuộc hôn nhân này rất xa vời. Sau vua Jaya Sinhavarman III xin cắt đất châu Ô (nam Quảng Trị ngày nay), châu Lý (tỉnh Thừa Thiên-Huế ngày nay) làm sính lễ. Vua Trần Anh Tông muốn có được đất hai châu, mới chấp thuận gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm.

Mùa hạ năm 1306, một phái đoàn lớn đưa công chúa Huyền Trân sang Chiêm quốc để cử hành hôn lễ. Quan quân Đại Việt theo chân đoàn đưa dâu vào tiếp quản hai châu Ô, Lý. Kể từ đây, lãnh thổ Đại Việt lại được mở rộng về phía nam thêm một phần đáng kể. Nhà vua Jaya Sinhavarman III đã ra tận vùng biên thuỳ để đón rước người vợ mới của mình. Hôn lễ được cử hành long trọng tận ba ngày đêm, công chúa Huyền Trân được phong làm Hoàng hậu Paramecvari.

Việc cưới gả này đã đem về cho Đại Việt những điều lợi rất lớn là vừa có được vị thế chủ động trong liên minh, vừa có được những vùng đất mới. Thế nhưng việc một công chúa phải gả cho vua xứ “man di” theo thế giới quan Nho giáo vốn thịnh hành ở Đại Việt thời bấy giờ là một điều đáng chê trách. Do đó trong nước Đại Việt đã có nhiều người mượn điển tích Chiêu Quân Cống Hồ đời Hán để làm văn thơ châm biếm, chỉ trích.

Xét trong suốt chiều dài lịch sử, thời điểm vua Jaya Sinhavarman III cưới công chúa Huyền Trân có thể coi là cao trào của mối quan hệ Việt-Chiêm. Nhưng sau đó không lâu, những biến cố đã xảy ra liên tiếp khiến hai bên dần xa cách. Công chúa Huyền Trân về làm dâu nước Chiêm Thành chẳng bao lâu thì vua Jaya Sinhavarman III mất vào tháng 5.1307. Lúc này công chúa đã mang thai hoàng tử Chế Đa Da. Chẳng lâu sau, công chúa hạ sinh hoàng tử. Tháng 9.1307, sứ giả từ nước Chiêm Thành sang Đại Việt dưới danh nghĩa của hoàng tử Chế Đa Da để báo tang và dâng voi trắng. Vua Trần Anh Tông hay tin, sai Hành khiển Trần Khắc Chung dẫn đầu sứ bộ sang Chiêm Thành để đón công chúa và hoàng tử Chế Đa Da về Đại Việt vào mùa đông năm 1307. Vì rằng vua Jaya Sinhavarman III đã mất mà hoàng tử Chế Đa Da lại còn quá nhỏ nên cũng theo mẹ về Đại Việt, để tránh việc xung đột quyền lực về sau. Một hoàng hậu khác của vua Jaya Sinhavarman III là Tapasi người Java cũng trở về nước sau đó ít lâu. Có thể thấy rằng, việc những người vợ ngoại quốc của vua Chiêm Thành quay trở về nước sau khi chồng mình qua đời là một chuyện thường tình của Chiêm quốc.

Tuy nhiên, trong chính sử Việt lại có những ghi chép về việc công chúa Huyền Trân trở về khá ly kỳ. Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép: “Theo tục lệ Chiêm Thành, chúa chết thì bà hậu của chúa phải vào giàn thiêu để chết theo. Vua biết thế, sợ công chúa bị hại, sai bọn Khắc Chung, mượn cớ là sang viếng tang và nói với [người Chiêm]: “Nếu công chúa hoả táng thì việc làm chay không có người chủ trương, chi bằng ra bờ biển chiêu hồn ở ven trời, đón linh hồn cùng về, rồi sẽ vào giàn thiêu”. Người Chiêm nghe theo. Khắc Chung dùng thuyền nhẹ cướp lấy công chúa đem về, rồi tư thông với công chúa, đi đường biển loanh quanh chậm chạp, lâu ngày mới về đến kinh đô.”

Nhiều sách sử đời sau cũng chép theo sách Toàn thư, và theo đó hết lời miệt thị Trần Khắc Chung theo quan niệm Nho giáo. Một số luồng tư tưởng dân gian thì lấy việc của công chúa Huyền Trân và Hành khiển Trần Khắc Chung để làm chất liệu sáng tác nên một chuyện tình theo môtip tướng quân - công chúa. Ngày nay, khác nhiều nghiên cứu đã không đồng tình với sử liệu trong Toàn thư, bởi những manh mối mới đã được tìm ra.

Trước tiên, tục lệ tuẫn táng theo vua trong phong tục Chiêm Thành theo nghiên cứu của những học giả người Chăm hiện đại thực ra là hoàn toàn tự nguyện. Công chúa Huyền Trân không phải chết theo vua nếu nàng không muốn. Manh mối tiếp theo là việc hoàng hậu Tapasi cũng đã được yên ổn mà trở về nước nên chẳng việc gì công chúa Huyền Trân phải cần đến một cuộc giải cứu với nhiều trá thuật như chính sử Việt thời phong kiến ghi chép. Đây là những sử liệu mà có lẽ các sử gia thời phong kiến chưa có điều kiện tiếp cận. Khi viết Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Ngô Sĩ Liên đã phải dùng đến nguồn thông tin duy nhất mà ông có lúc đó là những ký ức dân gian.

Thời kỳ vua Jaya Sinhavarman III là thời thịnh trị của nước Chiêm Thành và cũng là giai đoạn mà Đại Việt và Chiêm Thành có được ngoại giao nồng ấm nhất. Sau khi vua Jaya Sinhavarman III mất, con trai ông với chính hậu Bhaskaradevi (người Java) là Chế Chí kế vị, lấy hiệu là Jaya Sinhavarman IV. Nhà vua mới không cùng chí hướng với cha mình, nuôi ý định lấy lại hai châu Ô, Lý. Trước đó, khi hai châu này trở thành đất của Đại Việt thì đã có nhiều người dân, điển hình là các thôn La Thuỷ, Tác Hồng, Đà Bồng không tuân phục.

Vua Trần Anh Tông phái Hành khiển Đoàn Nhữ Hài đến tuyên dụ, chọn người trao cho quan tước, cấp ruộng đất, miễn tô thuế 3 năm để vỗ về. Bấy giờ dân tình mới chịu phục tùng. Sau khi lên ngôi một thời gian, vua Jaya Sinhavarman IV bắt đầu cho người trà trộn và nhân dân hai châu Ô, Lý để xúi giục họ nổi lên chống lại triều đình Đại Việt, làm tiền đề cho sự can thiệp của Chiêm Thành về sau. Tình hữu nghị đã phải tốn nhiều công sức vun đắp, phải cùng trải qua thử thách của hai dân tộc Việt-Chiêm lại nhanh chóng bị rạn nứt bởi những việc làm này.

Quốc Huy
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Kỳ 164

TRẦN ANH TÔNG CHINH PHẠT PHƯƠNG NAM
VUA CHIỀM THÀNH ĐẦU HÀNG


Thời trị vì của vua Jaya Sinhavarman III (Chế Mân) là giai đoạn vàng son trong lịch sử Chiêm Thành và cũng là quãng thời gian mà Đại Việt và Chiêm Thành có quan hệ rất thân thiết. Từ đó trở về sau, Việt-Chiêm hiếm có giai đoạn nào thân thiện với nhau được như thế. Năm 1307, vua Jaya Sinhavarman III khi mới kết hôn với công chúa Huyền Trân chừng một năm. Đến năm 1308, Thượng hoàng Trần Nhân Tông nước Đại Việt mất ở Yên Tử. Thời kỳ của những nhà cai trị Việt-Chiêm cùng nhau sát cánh chống Nguyên Mông, những người dày công gây dựng hoà bình đã khép lại.

Khi Thượng hoàng Trần Nhân Tông còn tại thế, đường lối đối ngoại hoà bình của ngài đã góp phần áp chế những tư tưởng hiếu chiến trong triều đình Đại Việt. Tuy vậy, trong hàng ngũ quan lại Đại Việt và kể cả nhà vua Trần Anh Tông vẫn luôn mong muốn Đại Việt có được vị thế bề trên và tìm cách áp đặt tư tưởng lên nước Chiêm Thành. Đại biểu cho phái “diều hâu” trong triều đình Đại Việt trước tiên phải kể đến là Tri khu mật viện sự Đoàn Nhữ Hài. Ông là người chủ trương có thái độ cứng rắn với Chiêm Thành. Năm 1303, Đoàn Nhữ Hài được giao nhiệm vụ đi sứ nước Chiêm. Trong chuyến đi này, ông đã cố gắng khẳng định vị thế nước bảo hộ của Đại Việt trên phương diện ngoại giao. Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư có chép lại về chuyến đi sứ này như sau:

“Trước đây, sứ nước ta tới Chiêm Thành, đều lạy chúa Chiêm trước, rồi sau mới mở chiếu thư. Đến khi Nhữ Hài tới, liền bưng ngay chiếu thư để lên trên án và nói với chúa Chiêm: “Từ khi sứ thiên triều mang chiếu thư của thiên tử sang, xa cách ánh sáng lâu ngày, nay mở chiếu thư, thực như trông thấy mặt thiên tử, tôi phải lạy chiếu thư đã, rồi mới tuyên đọc sau”.

Rồi lập tức hướng vào tờ chiếu mà lạy. Lúc ấy, chúa Chiêm đứng bên cạnh, lạy thế không khỏi có chút chưa ổn, nhưng lấy cớ mà lạy chiếu thư thì về lý là thuận, mà sứ tiết cũng không phải khuất. Hôm sau, Nhữ Hài treo bảng cấm buôn bán ở Tỳ Ni (bến cảng của Chiêm Thành, nơi tụ tập các thuyền buôn), tuyên đọc xong, treo bảng lên, lại gọi viên coi cảng đến bảo: “Chỗ này người buôn bán tụ họp phức tạp, lại là bến tàu xung yếu, khó giữ gìn. Sứ thần về rồi, cất ngay bảng đi, đừng để mất”.

Ý ông cho rằng Chiêm Thành tuy đã thần phục, nhưng thực ra chưa chịu nội phụ, bảng cấm rốt cục cũng bị bỏ đi, cho nên nói trước như vậy, không để tự họ làm như thế. Sau này, đi sứ Chiêm Thành, không lạy chúa Chiêm là bắt đầu từ Nhữ Hài.”

Sau chuyến đi sứ này, vua Trần Anh Tông càng thêm tin dùng Đoàn Nhữ Hài, phong cho ông chức Tham tri chính sự. Điều này cho thấy rằng vị vua Đại Việt cũng muốn theo đuổi chính sách dùng uy nước lớn để áp chế Chiêm Thành. Hơn nữa, sự kể cả của Đại Việt cũng bắt nguồn từ việc trước đó nhà Trần đã từng cử quân giúp Chiêm Thành chống Nguyên Mông, cũng như từ chối cho Nguyên Mông mượn đường đánh Chiêm. Bấy giờ vua Jaya Sinhavarman III vẫn còn tại thế, dù Chiêm Thành chịu nhún nhường về ngoại giao, nhưng về nội trị họ vẫn giữ được độc lập. Là một nước có dân số ít hơn nhiều lần và phần nào chịu ơn Đại Việt, triều đình Chiêm quốc lúc này chấp nhận vị thế nước nhỏ để duy trì môi trường hoà bình, làm tiền đề cho thương mại phát triển.

Sau khi vua Jaya Sinhavarman III mất, vua kế nhiệm là Jaya Sinhavarman IV tuy vẫn duy trì triều cống nhưng trong lòng lại không phục. Ông nuôi chí đòi lại phần đất hai châu Ô, Lý mà cha mình đã cắt nhượng cho Đại Việt. Vua Chiêm cho người trà trộn vào nhân dân hai châu này để kích động nổi loạn. Dưới sự bảo trợ của vua Chiêm, các toán quân nhỏ người Chiêm Thành bắt đầu thực hiện các vụ cướp bóc, bắt cóc người vùng biên giới. Những sự việc này bị triều đình Đại Việt phát giác, khiến vua Jaya Sinhavarman IV bị xem như kẻ phản trắc trong mắt vua tôi nhà Trần. Nhận thấy rằng khả năng bùng phát xung đột sắp xảy ra, Đoàn Nhữ Hài đã ngầm bày mưu trước để giành sẵn lợi thế. Khi trại chủ Câu Chiêm nước Chiêm Thành đi sứ sang Đại Việt, Đoàn Nhữ Hài bấy giờ giữ chức Tri khu mật viện sự đã tranh thủ bắt liên lạc và mua chuộc người này làm nội ứng cho Đại Việt.

Rốt cuộc đến đầu năm 1312, vua Trần Anh Tông ngự giá thân chinh đi đánh Chiêm Thành sau nhiều toan tính và chuẩn bị. Hoàng thái tử Trần Mạnh được giao chức Giám quốc, cùng với Chiêu Văn đại vương Trần Nhật Duật chỉ huy quân tả hữu Thánh Dực ở lại trấn giữ kinh thành, trông coi việc nước. Khi quân đoàn quân viễn chinh đến châu Lâm Bình, vua chia quân làm ba đạo. Huệ Vũ vương Trần Quốc Chẩn dẫn quân theo đường núi. Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư chỉ huy thuỷ quân đi đường biển. Vua Trần Anh Tông dẫn trung quân theo đường ven biển hành quân bộ vào đất Chiêm Thành, có Thượng tướng quân Phạm Ngũ Lão đi cùng với vua. Đoàn Nhữ Hài được giao chức Thiên tử chiêu dụ sứ đi trước để lo việc địch vận. Cánh quân của vua Trần Anh Tông tiến nhanh, đến trại Câu Chiêm thì dừng quân lập ngự doanh. Ở trong quân, Minh Hiến vương Trần Uất khi trò chuyện với binh sĩ thì bày trò biện bác, làm ảnh hưởng đến lòng quân. Vua Trần Anh Tông biết chuyện, sai đuổi khỏi doanh trại và lệnh các quân không được thu nhận. Minh Hiến vương phải ngủ ngoài đồng cùng vài gia nô. Phạm Ngũ Lão biết được, bèn mời vào doanh của mình và nói với mọi người: “Thánh thượng vừa quở trách ân chúa và đuổi ra ngoài, lỡ ra bị giặc bắt được, thì chúng nói là bắt được hoàng tử, chứ biết đâu là bị vua quở trách ! Ngũ Lão thà chịu tội trái lệnh, chứ không nỡ làm lợi cho giặc”.

Do đã có giao ước từ trước, trại chủ Câu Chiêm đã không chống trả. Đoàn Nhữ Hài cho người đến truyền tin, yêu cầu người trại chủ ấy dụ hàng vua Chiêm. Người trại chủ vào kinh thành Vijaya báo lại với vua Jaya Sinhavarman IV về việc đó. Lúc này thế lực quân Đại Việt quá vượt trội. Vua Jaya Sinhavarman IV biết khó chống nổi, bèn thuận theo lời dụ và đem gia thuộc đi đường biển đến doanh của vua Trần Anh Tông để đầu hàng. Bấy giờ thuỷ quân của Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư tiến nhanh nên đã gần đến trung châu nước Chiêm Thành. Khi hay tin vua Chiêm đi thuyền ngược lên phía bắc đầu hàng, Khánh Dư bán tín bán nghi nên dẫn quân đuổi theo phía sau. Đoàn Nhữ Hài biết tin liền tức tốc chạy trạm báo tin cho vua Trần Anh Tông rằng: “Khánh Dư có ý chực cướp thiên công [tức cướp công vua] ”. Vua Trần Anh Tông cho rằng Trần Khánh Dư cố tình đuổi đánh kẻ đã đầu hàng nên rất tức giận, sai sứ bắt giám quân của Khánh Dư là Nguyễn Ngỗi đem chặt chân. Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư rất sợ hãi, tự mình đến ngự doanh tâu với vua: “Tôi sợ ở biển, chúa Chiêm lại có ý nghĩ gì thay đổi chăng, nên phải theo sát đằng sau.” Vua nghe lời tâu mới nguôi giận.

Trong cuộc hành binh đánh Chiêm Thành lần này, hai cánh quân đi đường ven biển và đường biển luôn tiến nhanh hơn cánh quân đi đường núi do địa hình thuận lợi. Khi vua Chiêm Thành đầu hàng rồi, Huệ Vũ vương Trần Quốc Chẩn vẫn đang dẫn quân tìm đến ngự doanh. Vua Trần Anh Tông muốn nhanh chóng xong việc, nên đã không chờ đợi Trần Quốc Chẩn đến hội quân mà sai chia quân đi tuần các xứ để chiêu dụ người Chiêm. Lực lượng quân Đại Việt do đó mà dàn mỏng ra. Lúc ấy mặc dù vua Jaya Sinhavarman IV đã ra hàng, những một bộ phận quân dân Chiêm Thành vẫn muốn tiếp tục chiến đấu. Họ đã tập họp lại, lập kế hoạch đánh úp cánh quân của vua Trần Anh Tông. Một hôm, quân Chiêm Thành với sự yểm hộ của tượng binh tiến đánh thẳng vào ngự doanh của vua Đại Việt. Khi nghe tiếng voi đến gần, quân của nhà vua có phần lo sợ, nao núng. Lúc ấy thì quân của Huệ Vũ vương Trần Quốc Chẩn kịp kéo đến hộ giá. Đoàn quân này có nòng cốt là gia binh từ Vạn Kiếp, kế thừa danh tiếng lừng lẫy và binh pháp của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn khi xưa. Quân Chiêm nhác thấy cờ hiệu của Huệ Vũ vương đã rất khiếp sợ, bỏ chạy tan tác cả.

Sau trận này, quân Đại Việt coi như đã toàn thắng. Nhưng với tiềm lực đương thời, Đại Việt vẫn chưa đủ sức áp đặt nền đô hộ trực trị lên Chiêm Thành mà không chịu nhiều rủi ro lớn. Vả lại, danh nghĩa xuất quân ban đầu là trừng phạt vua Jaya Sinhavarman IV đã “phản trắc” (chỉ việc nuôi chí đòi đất và cho quân đánh phá biên giới). Vua Đại Việt không thể bất chấp uy tín mà chiếm đóng Chiêm Thành, trong bối cảnh hai nước vừa mới kết thông gia ít lâu.

Rốt cuộc, vua Trần Anh Tông quyết định phong cho Chế Đà A Bà Niêm, người em cùng cha khác mẹ của Jaya Sinhavarman IV chức Á hầu. Việc phong tước này mang ý nghĩa khẳng định lại muốn quan hệ nước lớn - chư hầu giữa Đại Việt với Chiêm Thành, trong đó Chiêm quốc đã phải chịu lùi thêm một bước khi mà giờ đây vua của họ chỉ còn mang tước hầu. Nhưng điều tốt lành là vua Việt vẫn để cho vẫn cho Chế Đà A Bà Niêm tự cai quản lấy đất nước. Vị “Á hầu” này dù phải nhận tước của Đại Việt, nhưng thực tế vẫn duy trì được quyền tự chủ về đối nội cho Chiêm Thành. Còn vua Jaya Sinhavarman IV thì bị bắt phải sang sống lưu vong ở Đại Việt. Sau khi về nước, vua Trần Anh Tông phong cho ông là Hiệu Trung vương, rồi đổi thành Hiệu Thuận vương, bị giam lỏng ở cung Gia Lâm đến cuối đời.

Cuộc viễn chinh kết thúc với phần thắng giành cho quân Đại Việt. Nhưng khi đoàn quân chiến thắng của vua Trần Anh Tông trở về bằng đường thuỷ đã gặp việc không ngờ. Tháng 6.1312 (Âm lịch), khi đoàn chiến thuyền về đến sông Thâm Thị (đoạn sông Hồng gần Hà Nội ngày nay) thì thình lình gặp phải gió lốc mù trời. Thuyền ngự của vua Trần Anh Tông bị đứt quai chèo, dây buộc và chìm giữa dòng nước. Nhà vua cố trèo lên phía mũi thuyền, đưa chân cho các cung nữ, nữ quan bám lấy rồi tất cả cùng trèo lên mui thuyền. Nhờ vậy mà vua Trần Anh Tông thoát nạn và còn cứu được các nữ nhân kề cận. Những thuyền khác thì đều dạt sang bãi cát. Sau khi gió lốc qua đi, vua truyền sửa sang lại nghi trượng mà về. Đến kinh thành, giáp trụ và khí giới của nhà vua đều ướt sũng.

Lần thân chinh đánh Chiêm Thành này của vua Trần Anh Tông tính từ lúc xuất quân đến khi xa giá về kinh mất chừng nửa năm. Tính ra quân Đại Việt chỉ hành quân, chiêu dụ và thị uy mà khiến quân Chiêm Thành tan tác, từ đầu chí cuối không mất một mũi tên. Công đầu thuộc về Đoàn Nhữ Hài, với những kế sách ly gián, mua chuộc nội bộ đối thủ quá cao tay. Kể từ cuộc chiến này trở đi, nước Đại Việt tiến thêm một bước trong việc giữ vững những phần đất mới sáp nhập và có thêm tiền đề cho những đợt “tàm thực” (tằm ăn dâu) tiếp theo để mở mang bờ cõi.

Quốc Huy
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Kỳ 165

HẠ NHỤC ĐẠI TƯỚNG QUÂN
VUA TRẦN TỬ TRẬN
GIỮA KINH ĐÔ CHIÊM THÀNH


Không nghe lời đại tướng quân trung thành với mình, thậm chí còn hạ nhục bằng cách bắt mặc áo đàn bà, vị vua Trần này đã phải chết thảm giữa chiến trường.

Đại tướng quân Đỗ Lễ

Đỗ Lễ là người quê gốc ở Bồng Trung, xã Đông Biện (nay là xã Vĩnh Tân thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá). Dòng họ Đỗ nơi đây có nhiều người làm quan văn tướng võ dưới thời nhà Lý và nhà Trần.

Thuở nhỏ Đỗ Lễ đã có sức khoẻ hơn người, lớn lên rất giỏi võ nghệ. Ông cũng ham thích binh thư, và dũng lược. Đỗ Lễ tham gia trong một đợt tuyển quân của nhà Trần, nhờ tài năng mà được thăng dần lên chức tướng quân.

Tướng quân Đỗ Lễ là người có công lớn trong cuộc dẹp loạn Dương Nhật Lễ vào tháng 11 năm Canh Tuất (1370). Sách Đại Việt sử ký Tiền biên có ghi chép rằng:

Xét thấy ngoại kỷ chép: Trước đây Duệ Tông khởi nghĩa giết Nhật Lễ, có quan văn là Trần Thâm tính kế hoạch, có quan võ là Đỗ Lễ điều quân.

Nhờ nhiều chiến công dẹp loạn mà Đỗ Lễ được phong làm Đại tướng quân.

Bắt đại tướng quân mặc áo đàn bà

Năm 1372 vua Trần Duệ Tông lên ngôi, nhưng các vua Trần sau này không còn duy trì niềm tin tín ngưỡng như các đời Vua trước, không dùng đạo đức làm nền tảng để trị vì, vì thế mà nhà Trần càng ngày càng suy sụp. Trong triều tham quan lộng hành, không lo cho đời sống người dân, khiến dân chúng các nơi nổi lên, xã hội bất ổn.

Tại phía Nam, vua Chiêm là Chế Bồng Nga nhiều lần mang quân xâm phạm Đại Việt tiến đến tận thành Thăng Long.
https://trithucvn.net/wp-...018/04/che-bong-nga-1.jpg
Chế Bồng Nga từng đem quân đánh vào tận Thăng Long. (Ảnh từ Pháp Luật VN)
Tháng 12 năm 1376, vua Trần Duệ Tông huy động 12 vạn quân tiến đánh Chiêm Thành, đương nhiên cuộc chiến quan trọng này không thể vắng mặt Đại tướng quân Đỗ Lễ.

Ngay trước khi lên đường Hoàng phi Nguyễn Bích Châu đã dâng biểu lên nhà Vua rằng:

Xin nghỉ binh cho dân chúng được yên hàn, trị cái rắn nên dùng cái mềm, lấy đức để thu phục người phương xa như vua Hạ (Vũ) chỉ gảy đàn mà chẵn 1 tháng rợ Hồ quy phục, đó là thượng sách.
Theo Truyền kỳ Tân phả.

Các quan như Ngự sử trung tán Lê Tích và Ngự sử đại phu Trương Đỗ ba lần lên tiếng can ngăn, nhưng vua Trần Duệ Tông lại tin rằng với đại quân 12 vạn nhất định sẽ dễ dàng đánh tan Chiêm Thành. Vua bỏ ngoài tai những lời này.
https://trithucvn.net/wp-...8/04/Screenshot_12-11.jpg
Tranh minh hoạ của hoạ sĩ Đức Hoà trong bộ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh”
Đến tháng giêng năm 1377, quân nhà Trần tiến vào cửa biển Thị Nại (nay thuộc Quy Nhơn, tỉnh Bình Định) đánh tan quân Chiêm ở động Ỷ Mang và đóng quân ở đây. Sở dĩ quân nhà Trần tiến quân theo con đường này, vì kinh thành Đồ Bàn của Chiêm Thành nằm ngay ở vị trí tỉnh Bình Định ngày nay.

Quân Chiêm nơi đây thua trận đầu hàng rồi nói rằng vua Chiêm là Chế Bồng Nga đã bỏ kinh thành Đồ Bàn mà rút đi rồi. Nghe vua Chiêm đã bỏ Kinh thành mà rút đi, vua Trần Duệ Tông ra lệnh cho tiến quân luôn vào kinh thành Đồ Bàn.

Nhưng Đại tướng quân Đỗ Lễ đã nghi ngờ đây là mưu kế của quân Chiêm liền nói với Vua rằng:

Nó đã chịu hàng, là muốn bảo toàn đất nước làm đầu. Quan quân vào sâu đánh phá thành giặc là việc bất đắc dĩ. Xin hãy sai một biện sĩ cầm mảnh thư đến hỏi tội, để xem tình hình hư thực của giặc, như kế sách của Hàn Tín phá nước Yên ngày trước, không phải khó nhọc mà thành công. Cổ nhân có nói: “Lòng giặc khó lường”. Thần xin bệ hạ hãy xét kỹ lại.
Đại Việt Sử ký Toàn thư

Thế nhưng vua Trần Duệ Tông lại tin rằng mình dẫn 12 vạn quân đến khiên vua Chiêm khiếp vía mà đem quân chạy khỏi thành rồi nên nói rằng:

Ta mình mặc giáp cứng, tay mang gươm sắc, dãi gió dầm mưa, lội sông trèo núi, vào sâu trong đất giặc, không ai dám đương đầu với ta. Ấy là trời giúp cho ta đó.

Huống chi nay chúa giặc nghe tin đã chạy trốn, không còn lòng dạ đánh nhau. Cổ nhân nói: “Dùng binh quý thần tốc”. Nay nếu dừng lại không tiến thì thực là trời cho mà không lấy, để nó lại cơ mưu khác thì hối sao kịp. Ngươi chính là hạng đàn bà.
Đại Việt Sử ký Toàn thư

Rồi sai người mang áo đàn bà đến bắt Đại tướng quân Đỗ Lễ mặc vào nhằm hạ nhục trước mặt ba quân. Thời xưa đường đường là một Đại tướng quân mà phải mặc áo đàn bà giữa ba quân được coi là một nỗ ô nhục ghê gớm, không phải ai cũng vượt qua được.

Ấy vậy mà khi Vua ung dung dẫn quân vào trong Kinh thành Đồ Bàn, khuyên Vua không được Đỗ Lễ bất đắc dĩ phải tuân lệnh vào thành cùng Vua.  Từ đó có thể thấy Đỗ Lễ quả thật vô cùng nhẫn nhịn.

Vua Trần trả giá

Khi quân nhà Trần vừa vào trong thành thì quân Chiêm mai phục sẵn từ bốn mặt đổ ra đánh. Bị đánh bất ngờ, quân nhà Trần thua to, 10 phần thì chết 7, 8 phần.

Quân Chiêm bắn tên ra như mưa, vua Trần Duệ Tông bị trúng tên chết tại chỗ, các tướng Nguyễn Nạp Hoà, Hành khiển Phạm Huyền Linh cũng đều chết cả.
https://trithucvn.net/wp-...an-due-tong-tu-tran-1.jpg
Trong đám loạn quân, đại tướng Đỗ Lễ đã lường trước tình huống này, nên bình tĩnh thúc ngựa cầm thương tiến đánh với vua Chiêm là Chế Bồng Nga để đám ngự binh cướp xác Vua rút đi. Đối đầu với Đại Tướng quân của Đại Việt, vua Chiêm nhắm không địch nổi, nhưng lúc này quân nhà Trần đã hoàn toàn tan vỡ, nên quân tướng Chiêm Thành lớp lớp vây quanh tiến đánh Đỗ Lễ. Sau một thời gian giao tranh, Đại tướng Đỗ Lễ dần kiệt sức, cả người và ngựa cùng gục xuống.

Sách Đại Nam quốc sử diễn ca mô tả rằng:

Duệ Tông hăm hở phục thù,
Đánh Chiêm nào quản tri khu dặm trường.
Khinh mình vào động Ky Mang,
Tinh kỳ tan tác gió sương mịt mù.

Đánh giá sự kiện này “Việt sử Giai thoại” có lời rằng:

Đại tướng Đỗ Lễ cẩn trọng, ấy cũng là phép xử thường của kẻ quen xông pha trận mạc. Duệ Tông bất chấp lời can ngăn, lại còn coi khinh mà hạ nhục, bắt Đại tướng phải mặc áo đàn bà trước mặt ba quân, chủ quan háo thắng mà vô mưu đến thế, bảo không thảm bại làm sao được.

Cổ nhân dạy rằng, dụng binh mà khinh tướng, ấy là nguy. Duệ Tông hạ nhục Đại tướng Đỗ Lễ, có biết đâu là đã tự hạ nhục mình, mà xem ra, cái nhục của Duệ Tông mới thực là nỗi nhục lớn hơn cả.

Nhớ lại, thời “Tam quốc” để dụ Tư Mã Ý đem quân ra khỏi thành giao chiến, Gia Cát Lượng cũng từng cho tặng Tư Mã Ý bộ đồ đàn bà để hạ nhục. Nhưng Tư Mã Ý là người có tâm đại nhẫn, biết đem quân ra khỏi thành là trúng kế Gia Cát Lượng, nhưng không sao thuyết phục được quân tướng, phải nhờ Nguỵ Chủ ra chiếu thư lệnh phải thủ thành, không được đánh. Nhờ đó quân Nguỵ mới không ra khỏi thành.

Nhắc chuyện xưa để thấy rằng đại tướng Đỗ Lễ cũng là người có tâm đại nhẫn, bị bắt mặc áo đàn bà giữa ba quân mà không đem lòng ghi hận, lại có thể theo Vua vào hang cọp, rồi lại hy sinh thân mình để bảo toàn xác Vua. Chỉ tiếc rằng nhà Trần đã mạt…

Trần Hưng
15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Kỳ 166

LÊ THÁNH TÔNG NAM TIẾN


Chiêm thành tiến đánh Đại Việt

Năm 1460 vua Chiêm là Trà Duyệt mất, em là Trà Toàn lên ngôi. Đại Việt sử ký toàn thư của Đại Việt mô tả Trà Toàn là “hung bạo làm càn, dối thần ngược dân, ngạo mạn kiêu căng”.

Trà Toàn lăng nhục cả sứ thần Đại Việt do vua Lê gửi đến, cho quân gây hấn biên giới với Đại Việt rồi sai người tâu với vua nhà Minh rằng Đại Việt xâm lấn và cầu viện binh giúp đỡ.

Tháng 8 âm lịch năm 1470, Trà Toàn cho 10 vạn quân tiến đánh Đại Việt, sự kiện này Đại Việt sử ký toàn thư ghi chép như sau:

Tháng 8, quốc vương Chiêm Thành Bàn La Trà Toàn thân hành đem hơn 10 vạn quân thuỷ bộ cùng voi ngựa đánh úp châu Hoá. Tướng trấn giữ biên thuỳ ở châu Hoá là bọn Phạm Văn Hiển đánh không nổi, phải dồn cả dân vào thành, rồi cho chạy thư cáo cấp.

Đại Việt nam tiến

Nhận được tin báo, vua Lê Thánh Tông cấp tốc chuẩn bị 26 vạn quân tiến đánh Chiêm Thành, trước khi xuất quân Vua soạn tờ chiếu kể tội Trà Toàn cùng những việc làm sai trái của quân Chiêm.

Ngày 6 tháng 11 âm lịch, Vua cho hơn 10 vạn quân xuất phát trước. Đến 16 nhà Vua cùng hơn 15 vạn quân còn lại lên đường đánh Chiêm.

Quân Đại Việt theo đường thuỷ tiến đến vùng biển thuộc tỉnh Bình Định ngày nay, nhằm đưa quân tiến đánh Kinh thành Chà Bàn của Chiêm.
https://trithucvn.net/wp-...ads/2018/11/cha-ban-1.jpg
Thành Chà Bàn, Kinh đô chủa Chiêm Thành. (Ảnh từ vietlandmarks.com)
Ngày 5 tháng 2 âm lịch năm 1471, Trà Toàn sai em của mình cùng 6 tướng dẫn 5 vạn quân đến đánh doanh trại Đại Việt. Ngày 6 vua Lê sai 3 vạn quân bí mật vào cửa biển Sa Kỳ để chặn đường quân Chiêm rút về; đồng thời sai tướng Nguyễn Đức Trung đưa quân đến chân núi mai phục.

Khi 5 vạn quân Chiêm tiến đến, vua Lê Thánh Tông cho 1.000 thuyền ở cửa biển Tân Áp và Cựu Toa đánh trống reo hò rất khí thế. Quân Chiêm thấy quân Việt đông đúc thì bỏ chạy vào thành Chà Bàn, nhưng bị quân Đại Việt chờ sẵn tiến đánh, khiến quân Chiêm tử trận rất nhiều.

Trà Toàn sợ hãi vội dâng biểu xin hàng. Ngày 27 vua Lê cho quân tiến đánh tan quân Chiêm ở thành Thi Nại. Ngày 28 quân Đại Việt tiến đến Kinh thành Chà Bàn, bao vây nhiều vòng. Dù Trà Toàn nhiều lần đem lễ vật xin hàng, nhưng vua Lê Thánh Tông quyết phải bắt sống Trà Toàn.

Quân Đại Việt đóng thang để vượt tường thành, đồng thời cũng phá được cửa đông và tiến vào thành. 4 vạn quân Chiêm bị tiêu diệt, 3 vạn quân cùng vua Trà Toàn bị bắt. Hậu nhân có người nhận xét đây là một cuộc thảm sát do quân Chiêm đã xin hàng và đã ở vào đường cùng.

Trà Toàn bị bắt và quy hàng, bị giải về Đại Việt, nhưng trên đường đi đến Nghệ An thì lo lắng thành bệnh mà qua đời.

Giữ yên biên giới, mở mang bờ cõi, lân bang e sợ

Tướng Chiêm Thành là Bô Trì Trì chạy đến Phan Lung, tự xưng Chúa chiếm giữ 1/5 đất Chiêm, rồi cho người mang lễ vật cống nạp và xin được thần phục Đại Việt. Vua Lê Thánh Tông đồng ý phong Bô Trì Trì làm vương vùng đất thuộc Phan Rang, Thuận Hải ngày nay.
https://trithucvn.net/wp-...oads/2018/11/ban-do-1.jpg
Bản đồ trước khi đánh Chiêm Thành. (Ảnh từ lichsunuocvietnam.com)
Đồng thời vua Lê Thánh Tông cũng phong Vương cho người Ê Đê ở xứ Hoa Anh (Phú Yên và Khánh Hoà ngày nay), và phong Vương cho người Jarai ở Nam Bàn (gồm tỉnh Gia Lai, Kon Tum và Đăk Lăk ngày nay).
https://trithucvn.net/wp-...oads/2018/11/ban-do-2.jpg
Bản đồ sau khi đánh Chiêm Thành. (Ảnh từ lichsunuocvietnam.com
Cuộc tiến quân toàn thắng của Đại Việt không chỉ giữ yên vùng biên giới phía nam, mà còn giúp mở mang bờ cõi. Lãnh thổ phía bắc của Chiêm Thành từ đèo Hải Vân – Đà Nẵng đến đèo Cù Mông – Phú Yên (gồm Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định ngày nay) được sáp nhập vào Đại Việt.
https://trithucvn.net/wp-...ads/2018/11/ban-do-33.png
Các nước lân bang lúc đó cũng e ngại cũng mạnh Đại Việt. (Ảnh từ wikipedia.org)
Không chỉ thế, các nước láng giềng khác cũng e ngại sức mạnh Đại Việt như Lan xang (Lào ngày nay), Ayutthaya, Campuchia, Lan Na (Thái Lan ngày nay), Ava (Miến Điện ngày nay).

Trần Hưng
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook

Trang trong tổng số 18 trang (172 bài viết)
Trang đầu« Trang trước‹ ... [14] [15] [16] [17] [18] ›Trang sau »Trang cuối