Trang trong tổng số 31 trang (306 bài viết)
Trang đầu« Trang trước‹ ... [9] [10] [11] [12] [13] [14] [15] ... ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Poet Hansy

Kỳ 108

AI LAO “VIỆN TRỢ” VŨ KHÍ
LÊ LỢI HỒI SỨC CHỐNG MINH


Xét về thân phận, Lê Lợi tuy xuất thân nhà giàu sang, quyền thế nhưng chức tước thấp, theo quan niệm phong kiến xưa là chưa đủ danh phận để hiệu triệu quần hùng như những quý tộc Trần là vua Giản Định, vua Trùng Quang. Để có được sức hút chính trị đủ lớn phục vụ cho sự nghiệp đánh đuổi giặc Minh, Bình Định vương Lê Lợi cùng nghĩa quân Lam Sơn chỉ còn cách chứng tỏ phẩm chất vượt trội của mình so với các cuộc khởi nghĩa còn lại. Họ đã làm được điều đó. Sự can trường, sự bền bỉ của nghĩa quân Lam Sơn trước sức tấn công mãnh liệt, dồn dập của quân Minh là điều mà chưa từng có một phong trào kháng Minh nào làm được trước đó.

Trong năm 1418, nghĩa quân Lam Sơn chỉ có vài ngàn người. Sau hai lần phải rút lên núi Chí Linh, binh lực lại suy giảm. Lê Lai cùng 500 tử sĩ đã đánh đổi sinh mạng cứu lấy cuộc khởi nghĩa, và sự hy sinh đó đã được tận dụng triệt để. Sau khi quân Minh rút về thành Tây Đô, Lê Lợi liền âm thầm dẫn quân về Lam Sơn, đắp thành tích lương, chiêu mộ thêm quân, gửi hịch cho các phong trào yêu nước khác trong nước cùng liên kết lại chống kẻ thù chung. Trong năm 1419, quân Lam Sơn tạm ngưng các kế hoạch chiến đấu, chỉ chuyên tâm lo việc gây dựng lực lượng. Được sự đồng lòng che chở của nhân dân, nghĩa quân lớn mạnh lên từng ngày.

Tháng 5.1419, quân Minh lại đánh hơi được việc quân Lam Sơn vẫn chưa tan rã. Tướng giặc là Phương Chính, Sư Hữu liền đem lực lượng đông đúc trở lại Lam Sơn, quyết tiêu diệt cuộc khởi nghĩa. Quân Lam Sơn lại phải rút lui khỏi căn cứ, Lê Lợi đem quân đến đóng ở Mường Thôi (biên giới Việt Lào ngày nay, ở tây bắc Thanh Hoá) tránh giặc. Quân Minh lần này không rút đi nữa, tướng Hoàng Thành, Chu Quảng đóng quân dựng đồn Khả Lam để kìm toả nhân dân, toan tách dân khỏi nghĩa quân Lam Sơn.

Lê Lợi ở Mường Thôi, dùng mưu sai Trịnh Khả, Lê Lôi đi sứ Ai Lao, đưa thư nói rằng: “Quốc gia tôi phụng tờ thông điệp của triều Đại Minh ban cho nhà vua. Vậy nhà vua hãy đem số lương thực đủ quân sĩ dùng trong 5 tháng, và khí giới cùng voi trận tới yết kiến, rồi nhận tờ điệp văn về thi hành, để khỏi phải bắt giải. Nếu không tuân mệnh, lập tức sai nước Xa Lý và Lão Qua hợp quân 6 nước tiến đánh”. Trước sự mưu trí của Trịnh Khả và Lê Lôi, vua Ai Lao tưởng thật, vội vãi đem quân nhu, lương thực, khí giới và voi chiến gửi cho Bình Định vương Lê Lợi.

Vậy là quân ta có được nguồn lực lớn trong lúc nguy khó nhờ mưu kế tài tình. Có được nguồn quân lương, khí giới dồi dào, thế quân Lam Sơn phấn chấn lên hẳn. Lê Lợi âm thầm dẫn quân về Lam Sơn, tập kích đồn Khả Lam. Quân Minh bị bất ngờ vì cuộc hành quân bí mật của quân ta, chết mất hai tướng là Vương Cục, Lương Hướng. Quân Lam Sơn sau khi gây cho địch một số thiệt hại liền nhanh chóng rút lui. Tướng giặc là Hoàng Thành muốn đem quân truy kích, nhưng ngại rừng thiêng nước độc, dâng thư lên cấp trên xin đợi đến mùa thu mới xuất quân. Chốn núi rừng tây Thanh Hoá là hiểm địa đối với quân Minh, nhưng lại là cái nôi che chở nghĩa quân Lam Sơn thời kỳ đầu. Lê Lợi lúc này giữ quan hệ tốt với Ai Lao, dựa vào rừng núi mà phát triển thực lực.

Trong khi quân Minh tại Thanh Hoá dù đã rất quyết tâm nhưng không tiêu diệt được quân Lam Sơn, thì trên khắp cả nước, quân Minh lại phải đương đầu với một làn sóng phản kháng mới. Tại Nghệ An tháng 7.1419, nguỵ quan Phan Liêu nổi dậy chống lại người Minh. Trước đây, Phan Liêu cùng cha mình là Phan Quý Hữu vì muốn yên thân nên phản lại nhà Hậu Trần, nhận chức tước của giặc. Phan Liêu được quân Minh phong tước tri phủ Nghệ An. Thế nhưng sau mấy năm làm quan cho giặc, Liêu thường bị tướng Minh là Mã Kỳ hạch sách đồ cống phẩm, chèn ép đủ điều nên đã mật ước cùng nguỵ quan Trần Đài làm binh biến, giết chết quan lại người Minh, dẫn quân đánh thành Nghĩa Liệt là nơi chủ lực quân Minh ở Nghệ An đóng giữ.

Tổng binh Lý Bân từ Đông Quan biết tin, tức tốc dẫn quân ứng cứu. Khi Bân đến Nghệ An, thành đã sắp vỡ, bèn sai nguỵ quan Lộ Văn Luật làm tiên phong tiến đánh Liêu. Lộ Văn Luật sợ phải làm tiên phong nên bỏ cùng thuộc hạ bỏ trốn, chiếm lấy huyện Thạch Thất. Lý Bân phải tự mình dẫn quân đánh Phan Liêu, và đánh cả Lộ Văn Luật. Quân Minh mạnh vượt trội, lần lượt đánh bại cả Phan Liêu và Lộ Văn Luật dễ dàng. Liêu và Luật đều chạy sang Ai Lao nương nhờ. Mặc dù cuộc binh biến của Phan Liêu và Lộ Văn Luật là một sự kiện chống Minh nổi bật trong giai đoạn này, nhưng không xếp vào trong phong trào kháng Minh cứu nước mà chỉ được xem là một cuộc xung đột lợi ích giữa bọn tay sai và chính quyền đô hộ. Lộ Văn Luật sang Ai Lao, vẫn ghen ghét Bình Định vương Lê Lợi được hào kiệt mến mộ và được lòng vua Ai Lao nên thường dùng lời ly gián. Vua Ai Lao vì thế dần sinh lòng nghi ngại Lê Lợi, quan hệ giữa quân Lam Sơn và Ai Lao không còn tốt đẹp nữa.

Ngoài các cuộc binh biến ở Nghệ An, quân Minh còn phải vất vả đối phó với một loạt cuộc khởi nghĩa nổ ra trong thời gian gian ngắn. Quân khởi nghĩa xuất hiện dày đặc ở vùng đồng bằng sông Hồng. Trịnh Công Chứng và Lê Hành nổi lên ở Hạ Hồng, Phạm Thiện ở Tân Minh, Nguyễn Đặc ở Khoái Châu, Nguyễn Đa Cấu và Trần Nhuế ở Hoàng Giang… Lúc Lý Bân đem quân vào đánh Phan Liêu ở Nghệ An, các thủ lĩnh nghĩa quân đã chớp thời cơ, táo bạo hẹn nhau đem quân tiến đánh thành Đông Quan – thủ phủ của chính quyền đô hộ. Quân Minh ở đây còn rất ít ỏi, nhưng đã đóng chặt cửa thành, dựa vào thành luỹ mà cố thủ. Lý Bân vừa dẹp xong Phan Liêu và Lộ Văn Luật lại phải quay trở về đánh giải vây cho Đông Quan. Quân khởi nghĩa không hạ được thành Đông Quan, khi Lý Bân kịp trở về cứu viện thì nhanh chóng bị quân Minh phản kích đánh tan.

Tại Lạng Sơn, có người nô lệ tên là Lê Ngạ xưng là cháu của Trần Duệ Tông, đổi tên là Trần Dương Cung, liên kết với thổ tù Bế Thuấn khởi binh chống Minh. Lê Ngạ xưng là Thiên Thượng hoàng đế, nhờ oai danh của nhà Trần mà chỉ trong độ hơn 1 tháng đã quy tụ được hàng vạn quân. Lê Ngạ đem quân đánh phá thành Xương Giang, rồi đánh Bình Than, thanh thế rất lớn. Bấy giờ có Trần Thiên Lại, trước là chủ nhân của Lê Ngạ, thấy gia nô cũ của mình mượn tiếng quý tộc khởi nghĩa thì sinh lòng bất phục, bèn tự xưng là Hưng Vận quốc thượng hầu, mộ binh đánh nhau cả với Lê Ngạ và quân Minh. Trần Thiên Lại rất tích cực viết hịch kể rõ xuất thân nô lệ của Lê Ngạ với mọi người, và chỉ trích việc Lê Ngạ giả danh quý tộc.

Những việc làm của Trần Thiên Lại đã khiến cho cuộc khởi nghĩa của Lê Ngạ tổn hại trầm trọng, thuộc hạ của Ngạ dần bỏ đi gần hết. Lý Bân đợi lúc Lê Ngạ và Trần Thiên Lại đánh nhau đuối sức rồi mới tung quân đánh, dẹp được cả hai. Đây là một sự kiện khá hy hữu trong lịch sử, trong khí thế chống quân Minh, Trần Thiên Lại chỉ vì việc cá nhân mà khởi binh đánh lại một phong trào kháng Minh.

Những cuộc khởi nghĩa liên tiếp diễn ra khiến cho Lý Bân phải vất vả đánh dẹp liên tục. Quân Minh vẫn tạm thời chiếm ưu thế trên các mặt trận nhờ luôn duy trì một lực lượng viễn chinh trên dưới 10 vạn quân và hàng vạn nguỵ quân. Nhưng giặc không thể nào rảnh tay để triệt để giữ yên một vùng nào, chỉ giữ được trị an ở trong các thành trì lớn, các phủ huyện, đồn quân. Còn tại những nơi hẻo lánh, rừng núi, sự kiểm soát của quân Minh không ngăn được việc khai sinh các phong trào khởi nghĩa. Trong bối cảnh đó, quân Lam Sơn càng có thêm nhiều thời gian để củng cố lực lượng. Nghĩa quân Lam Sơn không đơn độc. Cuộc chiến của họ là cuộc chiến chung của cả dân tộc Việt.

Quốc Huy

https://1.bp.blogspot.com/-grC8kJ5X7Gw/XkEm2wGfaSI/AAAAAAACNYQ/wpMmlT_7eDAmGKrbb_H5mOl4H-X77L4vQCLcBGAsYHQ/s640/108.JPG

15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Kỳ 109

LÊ LỢI GIĂNG THIÊN LA ĐỊA VÕNG
ĐẠI PHÁ 10 VẠN QUÂN MINH


Do vấp phải sự phản kháng của nhân dân cả nước ta, quân Minh đã có quãng thời gian vất vả, buộc phải tạm ngưng các chiến dịch quyết định để tiêu diệt cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Nhưng vẫn lượng quân thường trực đông đảo, chính quyền đô hộ lại một lần nữa giành lại được quyền kiểm soát toàn lãnh thổ. Phong trào khởi nghĩa bùng phát mạnh trong năm 1419 nhưng manh mún không có điểm tựa chung, dần đi đến chỗ tàn lụi. Cho đến nửa cuối năm 1420, Tổng binh Lý Bân vừa rảnh tay sau những cuộc hành quân đánh dẹp liên tục các cuộc khởi nghĩa, đã bắt đầu chiến dịch tấn công đội quân của Bình Định vương Lê Lợi.

Tháng 11.1420, Lý Bân sai Chỉ huy sứ Phương Chính đem quân tiến vào rừng núi tìm diệt quân Lam Sơn. Lúc này quân ta đã đông mạnh hơn hẳn thời gian đầu, nhân dân trong vùng đã chủ động cho con em mình vào rừng tìm đến chỗ Lê Lợi để xin gia nhập nghĩa quân. Ước chừng thời điểm này, quân Lam Sơn đã có số lượng lên đến hơn 1 vạn người. Tất nhiên là quân ta vẫn không thể so sánh với quân Minh về số lượng và trang bị, nên phải lựa chọn cách đánh thích hợp theo phương châm lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh. Lê Lợi cho quân mai phục ở bến Bổng Tân, thượng lưu sông Chu đợi giặc.

Phương Chính vẫn ỷ rằng quân mình đông mạnh, cứ men theo dọc sông Chu tiến quân, nhằm hướng căn cứ của quân Lam Sơn mà chúng mới do thám được tin tức. Ngày 30.11.1420, Phương Chính dẫn quân lọt vào đúng trận địa mai phục của quân ta. Lê Lợi chờ cho giặc tiến sâu vào giữa trận địa mai phục rồi mới phát lệnh tấn công. Quân mai phục từ bốn phía vùng dậy vây lấy giặc mà đánh giết. Quân Minh bị bất ngờ không kịp trở tay, phút chốc đã bị tổn thất nặng nề, số quân còn lại mặc dù còn đông nhưng nhanh chóng vỡ trận bỏ chạy tứ tán trước khí thế tấn công của nghĩa quân Lam Sơn. Quân ta toàn thắng, thu được hơn trăm con ngựa chiến.

Sau trận đại thắng, thanh thế nghĩa quân Lam Sơn rất lớn, nhân dân trong vùng nô nức đến tòng quân. Phương Chính thua trận lại rút về tuyến sau, đóng trại phòng thủ. Lê Lợi thắng được một trận quan trọng, nhưng biết rằng gian nan vẫn còn rất lớn. Ngài nói với các tướng : “Quân địch vừa mới thua trận, tất nhiên chúng để tâm đề phòng cẩn mật. Vậy ta không nên giao chiến”. Thế nhưng các tướng Lam Sơn vừa mới đại thắng, đem lòng khinh địch. Có người dẫn quân đến phá trại giặc, bị Phương Chính đánh bại, tổn thất nặng nề. Lê Lợi biết quân Minh vẫn còn rất đông, bèn dời quân đến Nang Ninh để tránh. Quân Minh lại mở đợt hành quân tiến đánh Nang Ninh, Lê Lợi dẫn quân tránh đến Mường Thôi (tây bắc Thanh Hoá, chưa rõ địa điểm cụ thể).

Lý Bân từ nhận thấy Phương Chính đánh không dứt điểm được, tự mình dẫn thêm quân đến tiếp viện. Lý Bân cùng Phương Chính dùng tên Cầm Lạn là phụ đạo Quỳ Châu (thuộc Nghệ An ngày nay) làm kẻ dẫn đường, từ hướng Quỳ Châu tiến đánh quân Lam Sơn, quân đông đến 10 vạn. Quân số lần này cho thấy được rằng quân Minh đánh giá nghĩa quân Lam Sơn rất cao và cũng rất quyết tâm tiêu diệt cuộc khởi nghĩa. Lý Bân dự định rằng dẫn quân tấn công từ hướng Quỳ Châu sẽ khiến quân ta bị bất ngờ, lại thêm số lượng áp đảo hoàn toàn sẽ đảm bảo chắc chắn một chiến thắng cho quân Minh. Nhưng nhờ vào tai mắt của nhân dân trong vùng, mọi đường đi nước bước của quân Minh đều được bộ chỉ huy nghĩa quân nắm được. Dựa vào đó, Lê Lợi xếp đặt thế trậnđón đánh giặc.

Khoảng vài trăm quân tinh nhuệ dưới sự chỉ huy của tướng Phạm Vấn, Lê Triệu chuẩn bị trận địa mai phục ở Bồ Mộng để đón lõng quân Minh. Quân chủ lực Lam Sơn thì chia làm nhiều hướng bố trí mai phục ở Bồ Thi Lang, nằm trên đường mà quân Minh phải đi qua để đến đại doanh của Lê Lợi đóng ở Mường Thôi. Khi giặc từ Quỳ Châu kéo đến, Lê Lợi sai hai tướng Lê Lý, Lê Hướng dẫn vài ngàn khinh binh ra đón đánh, rồi giả thua dụ địch vào trận địa mai phục ở Bồ Mộng. Quân Minh ban đầu chiếm được lợi thế, hăm hở đuổi theo quân của hai tướng Lê Lý, Lê Hướng.

Giặc đuổi đến Bồ Mộng, gặp phục binh quân ta nổi lên cùng số quân đang rút lui quay lại quyết trận sống mái với chúng. Bốn mãnh tướng Lam Sơn là Phạm Vấn, Lê Triệu, Lê Lý, Lê Hướng cùng các quân lấy ít đánh nhiều, bẻ gãy mũi tiên phong của giặc, chém được hơn ba trăm thủ cấp tại trận. Quân Minh núng thế, nhưng vẫn còn rất đông. Các tướng Minh cứ bất chấp tổn thất nhân mạng của binh lính mà tiến. Phạm Vấn cùng các tướng ít quân phải lui, mở đường cho quân Minh càng tiến sâu vào rừng núi.

Lý Bân, Phương Chính vượt qua được ải Bồ Mộng, cứ nhằm hướng đại doanh Lê Lợi hùng hổ tiến lên. Đến Bồ Thi Lang, lại trúng mai phục lớn. Lần này, quân giặc không còn đối mặt với vài trăm quân, mà là hàng vạn quân mai phục, dưới sự chỉ huy trực tiếp của Bình Định vương Lê Lợi. Giặc lấy tốc chiến làm lợi thế, cứ tiến gấp mà thiếu dò xét, trong khi quân tướng Lam Sơn đều lấy chiến thuật mai phục làm sở trường. Chờ cho phần đông quân Minh lọt vào trận địa đã chuẩn bị sẵn, Lê Lợi phát lệnh tấn công. Tên đạn như mưa trút vào quân Minh, kế đến là lớp lớp quân Lam Sơn từ các hướng xông thẳng vào chia cắt đội hình giặc mà giáp chiến.

Quân Minh ban đầu cố sức chống trả, nhưng trước tinh thần chiến đấu xả thân của quân ta, giặc nhanh chóng chịu tổn thất nặng đến hơn 3.000 quân, dẫn đến vỡ trận, quân tướng tranh nhau chạy dài. Lê Lợi thừa thắng thúc toàn quân đuổi gấp, không cho quân Minh có thời gian tái tổ chức lại lực lượng. Quân ta đuổi liên tục 3 ngày đêm không ngừng nghỉ, dọc đường chém giết quân Minh nhiều vô kể. Chủ tướng quân Minh là Lý Bân, Phương Chính hoảng hốt không đoái hoài đến sĩ tốt, mạnh ai nấy chạy thoát thân.

Đến sách Ba Lẫm, huyện Lỗi Giang (Vĩnh Lộc, Thanh Hoá ngày nay), Lê Lợi cho dừng quân nghỉ ngơi, sửa sang khí giới, chỉnh đốn lại hàng ngũ. Quân Minh tại các đồn vốn đóng quanh vùng rừng núi tây Thanh Hoá để kìm kẹp quân dân ta, nay trước thế mạnh của quân Lam Sơn đều phải bỏ đồn rút lui. Các tướng giặc là Tạ Phượng, Hoàng Thành dồn quân về đóng giữ trại Quan Du (thuộc huyện Quan Hoá, Thanh Hoá), che chắn cho thành Tây Đô bấy giờ là thủ phủ Thanh Hoá, cũng là một thành trì tối quan trọng trong hệ thống quân sự của giặc Minh tại vùng lãnh thổ phía nam Đại Việt.

Lê Lợi sai quân khiêu chiến, quân Minh cố thủ trong trại không ra đánh. Quân ta bèn chia quân làm nhiều toán, luân phiên nhau đánh phá trại Quan Du bất kể đêm ngày. Hễ toán quân này đánh giặc, thì các toán quân khác ở trong trại nghỉ ngơi dưỡng sức. Cứ thế ngày qua ngày, quân ta càng đánh càng hăng, mà giặc ở trại Quan Du thì luôn căng thẳng chống đỡ rất mệt mỏi. Thấy thế giặc đã mệt mỏi, Lê Lợi một mặt vẫn cho quân tấn công hướng chính diện, đồng thời sai hai tướng Lê Sát, Lê Hào cầm kỳ binh đánh úp vào trại giặc ở một hướng khác. Quân Minh thế đã suy, lại bị bất ngờ nên không thể chống nổi. Trại Quan Du vỡ, quân Lam Sơn tràn vào tàn sát quân Minh, chém giặc hơn 1 vạn tên, khí giới thu được rất nhiều.

Sau những trận đại thắng liên tiếp, oai danh của Bình Định vương Lê Lợi lừng lẫy khắp cả nước. Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn bấy giờ vẫn chưa ra khỏi địa phương Thanh Hoá, nhưng sức hút của nó thực sự đã mang tính toàn quốc. Quân Minh từ sau trận Quan Du, thế ngày một suy. Còn nghĩa quân Lam Sơn càng đánh càng mạnh, nhân dân khắp nơi luôn chực chờ giúp sức cùng đoàn quân dưới trướng Lê Lợi giải phóng non sông.

Quốc Huy

https://1.bp.blogspot.com/-EmfzfBNEuGY/XkLXMEcHUUI/AAAAAAACNYg/Wo-ooc2zkyoSd9-GuTwqblPhCiCI74dyACLcBGAsYHQ/s640/109.jpg

15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Kỳ 110

LÊ LỢI ĐÁNH BẠI QUÂN TRẦN TRÍ
TRỪNG PHẠT QUÂN AI LAO


1.
Đánh bại 10 vạn quân của Tham tướng Trần Trí

Sau những trận thắng giòn giã trong năm 1420, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã khẳng định chỗ đứng của mình như một lá cờ đầu trong phong trào kháng chiến chống Minh. Với việc đánh tan tác hơn 10 vạn quân của Lý Bân và đánh hạ trại Quan Du, quân Lam Sơn đã giáng những đòn mạnh vào quân đô hộ. Càng đánh, quân Lam Sơn lại càng hùng mạnh hơn nhờ vào sự hưởng ứng nhiệt tình của nhân dân. Lê Lợi vừa đánh giặc, vừa tuyển mộ thêm quân lính. Lương thực, khí giới cướp được của quân Minh trở thành nguồn trang bị cho quân ta.

Sang năm 1421, nghĩa quân Lam Sơn tiếp tục thừa thắng đánh tràn ra khắp xứ Thanh Hoá, tiến quân giải phóng các châu huyện, giành quyền kiểm soát nhân dân và đất đai. Quân Minh thế yếu, rút quân vào thành Tây Đô cố thủ không dám manh động, có ý chờ quân từ Đông Quan đến cứu. Lê Lợi lúc này theo sách lược “công tâm” (đánh vào lòng người), chứ không chú trọng chiếm đóng thành trì. Đó là một tư tưởng quân sự tiến bộ vào thời kỳ bấy giờ. Đánh vào lòng người thực chất là chú trọng vào kiểm soát nhân dân và đất đai, dựa vào việc tranh thủ sự ủng hộ của số đông nhân dân. Có được lòng dân, quân Lam Sơn không cần chiếm thành Tây Đô mà vẫn ngang nhiên kiểm soát được hầu hết đất đai Thanh Hoá, sử dụng nhân lực, vật lực nơi này để phát triển lực lượng.

Trước tình hình lớn mạnh nhanh chóng của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, quân tướng nước Minh đã ráo riết tìm biện pháp mạnh để đối phó. Do tổn thất nặng nề trong các trận Bồ Mộng, Bồ Thi Lang, Quan Du nên tướng lĩnh nước Minh phải mất thời gian để gom quân, mất gần 1 năm trời. Đến cuối năm 1421, tham tướng Minh là Trần Trí cất quân 10 vạn, bao gồm cả quân viễn chinh người Minh và nguỵ binh, từ Đông Quan tiến vào Thanh Hoá đánh quân Lam Sơn. Trần Trí tiến đóng ở ải Kính Lộng (thuộc Cẩm Thuỷ, Thanh Hoá ngày nay), cách đại doanh của Bình Định vương Lê Lợi chừng 50 dặm. Nhận được tin báo về, Lê Lợi họp các tướng nói rằng: “Quân giặc nhiều, quân ta ít, nhưng quân giặc mệt, quân ta nhàn. Binh pháp có nói được hay thua là ở tướng chứ không phải ở quân nhiều hay ít, nay quân giặc tuy nhiều, nhưng ta đem quân nhàn đợi đánh quân mệt mỏi, chắc chắn sẽ đánh bại chúng”(theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư).

Nghe theo lời của Bình Định vương, quân tướng Lam Sơn đều phấn chấn tinh thần. Đêm đến, Lê Lợi chia quân đánh úp vào trại quân Minh bất chấp quân số chênh lệch. Quân ta âm thầm tiếp cận trại giặc bỗng chốc giương cờ gióng trống, hò reo dậy đất xông vào đánh mạnh. Quân Minh vừa mới tới, chưa kịp nghỉ ngơi lại bị đánh bất ngờ, bị hạ mất bốn trại, hơn 1.000 tên bị giết. Sau một hồi đánh phá, quân Lam Sơn chủ động rút nhanh bảo toàn lực lượng, mang theo nhiều khí giới. Trần Trí chưa kịp tổ chức phản kích thì quân ta đã rút êm rồi, vô cùng tức tối.

Đến ngày hôm sau, Trần Trí đem hết quân men đường núi tiến đánh trại quân ta. Lê Lợi ngầm đặt phục binh ở Úng Ải đợi chúng. Nơi đây địa hình hiểm trở, rất khó hành quân, thuận lợi cho mai phục. Trần Trí cậy đông cứ cho quân tiến tới, nối nhau trèo núi đông như kiến. Giữa trưa, quân Minh lọt vào trận địa, phục binh bốn phía nổi lên liều chết mà đánh. Quân Lam Sơn tấn công mạnh vào hai bên cánh đội hình giặc. Trần Trí thua to, phải dẫn quân rút chạy khỏi núi.
2.
Đánh tan quân Ai Lao

Trong lúc quân Minh vừa rút chạy thì Lê Lợi được tin tướng nước Ai Lao là Mãn Sát đem 3 vạn quân, 100 thớt voi tiến đến, nói là để giúp ta cùng đánh quân Minh. Nhưng sự thực là quân Ai Lao lập mưu đánh lén quân Lam Sơn.

Nước Ai Lao mà sử Việt ghi chép thời kỳ này có tên chính thức là vương quốc Lang Xang, được Pa Ngừm sáng lập từ cơ sở sáp nhập các mường Ai Lao vào giữa thế kỷ 14. Trước kia, Lê Lợi và vua Ai Lao thời bấy giờ là Lan Kham Dengvẫn giữ quan hệ thân thiện. Nhiều lần nghĩa quân Lam Sơn đánh nhau với quân Minh bị thất thế vẫn thường rút sang đất Ai Lao để tránh. Ai Lao cũng từng giúp Lê Lợi quân lương, khí giới trong lúc khó khăn. Nhưng lập trường của Lan Kham Deng đã thay đổi nhanh kể từ sau khi nguỵ quan Lộ Văn Luật khởi binh chống Minh không thành, trốn sang nương nhờ Ai Lao. Lộ Văn Luật ở Ai Lao, vì ghen ghét nên thường hay nói lời ly gián Lê Lợi và Lan Kham Deng. Vua Ai Lao từ đó dần sinh lòng nghi kỵ, rồi ủ mưu phản bội đồng minh.

Vì mối quan hệ thân thiện trước đó, Bình Định vương Lê Lợi và tướng sĩ Lam Sơn vẫn tin tưởng quân Ai Lao. Quân Lam Sơn và quân Ai Lao đóng trại gần nhau. Đêm đến, Mãn Sát đem quân đánh úp vào doanh trại quân ta. Ban đầu quân Lam Sơn bị bất ngờ và chịu thiệt hại khá nhiều. Nhưng quân Ai Lao không tinh nhuệ, không giành được lợi thế quyết định. Quân Lam Sơn sau hồi đầu bất ngờ, đã chiến đấu vô cùng quả cảm. Lê Lợi tự mình đốc chiến, cổ vũ tướng sĩ phản kích lại địch, tướng sĩ tranh nhau tiến lên trước mà đánh. Hai bên đánh nhau từ nửa đêm đến hừng sáng, quân Ai Lao thiệt hại vỡ chạy trước sức chiến đấu ngoan cường của quân Lam Sơn.

Theo các nguồn sử liệu Việt, trận này quân ta chém địch đến 1 vạn đầu, thu 14 thớt voi, hàng vạn khí giới. Quân Lam Sơn thừa thắng đuổi theo quân Ai Lao 4 ngày đêm, sang tận đất địch. Tướng Ai Lao là Mãn Sát sợ hãi, xin hoà. Lê Lợi đoán rằng Mãn Sát muốn dùng kế hoãn binh để đợi quân tiếp viện nên không muốn cho hoà. Nhưng bấy giờ quân tướng ai nấy đều mệt mỏi, đồng loạt xin Bình Định vương tạm hoà với Ai Lao để nghỉ ngơi. Trong số các tướng, chỉ có mình Lê Thạch không đồng tình việc giảng hoà, xin dẫn quân tiến đánh. Lê Lợi cho Lê Thạch làm tiên phong tiếp tục đánh Ai Lao. Lê Thạch đi đầu dẫn quân xông pha phá trại quân Ai Lao, đánh hăng quá, giẫm phải chông của địch tử trận.

Lê Thạch là con trai của Lê Học - người anh cả của Lê Lợi. Thạch từ nhỏ được Lê Lợi nuôi nấng như con, rất tin yêu. Lớn lên, Lê Thạch theo Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa, được phong chức Bình chương. Thạch có võ nghệ cao cường, sức địch được muôn người, nức tiếng trong quân là hổ tướng hàng đầu. Ông lại có lòng thương yêu sĩ tốt nên rất được lòng quân. Lê Lợi thường cho Lê Thạch làm tướng tiên phong, đánh đâu thắng đó. Nay Lê Thạch vì hăng hái phá giặc mà tử trận, Lê Lợi vô cùng thương xót.

Mặc dù chịu tổn thất lực lượng và mất đi một tướng giỏi, Bình Định vương Lê Lợi cùng đội quân của mình đã thoát được mối nguy lớn để từ đồng minh phản bội. Liên tiếp những trận đánh oanh liệt càng khẳng định sức mạnh to lớn của nghĩa quân Lam Sơn. Hàng loạt danh tướng trưởng thành và thành danh từ phong trào đã đi vào sử sách. Bên cạnh đó là những chiến binh thầm lặng không rõ sự tích nhưng đã cùng đóng góp vào vinh quang chung của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Có thể nói rằng, kể từ khi nhà Lý phá Tống, nhà Trần phá Mông Nguyên thì phải đến khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn diễn ra, lịch sử mới chứng kiến đông đảo anh hùng hào kiệt nước Việt tụ hội lại một nơi như thế.

Quốc Huy

https://1.bp.blogspot.com/-jjFUafC07tM/XkltLdwu_rI/AAAAAAACNY4/ZAIbFtB1xbUmACyiFCHc4FyEFZjMo9dDgCLcBGAsYHQ/s640/110.jpg

15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Kỳ 111

QUÂN MINH – AI LẠO TẠO GỌNG KÌM
LÊ LỢI MỞ CON ĐƯỜNG MÁU


Việc Ai Lao trở giáo theo quân Minh là một mối nguy rất lớn cho cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Mặc dù trong năm 1421, quân ta liên tục đánh bại quân Minh và quân Ai Lao nhưng cũng chịu tổn thất không nhỏ. Thời điểm bấy giờ cả ta và địch đều cần thời gian nghỉ ngơi, bổ sung lại lực lượng. Năm 1422, Lê Lợi thu quân từ Ai Lao về đóng ở trại Quan Du để giữ thế kìm toả quân Minh trong thành Tây Đô, đồng thời tích cực dưỡng quân tích lương, chuẩn bị cho những chiến dịch lớn.

Về phía địch, cả quân Ai Lao và quân Minh cũng đều tranh thủ gom quân thành lập các mũi tấn công mới. Tháng 3.1422, thành phần tướng lĩnh quân Minh ở nước ta có thay đổi. Tổng binh Lý Bân chết. Tham tướng Trần Trí lên thay Bân giữ chức Tổng binh, nắm quyền cao nhất trong lực lượng quân Minh tại Đại Việt. Bằng việc nắm giữ nguồn tài lực dồi dào hơn quân Lam Sơn rất nhiều, quân Minh và quân Ai Lao đều có sự phục hồi sức mạnh nhanh. Đến cuối năm 1422, liên quân Minh – Ai Lao bắt đầu lập kế hoạch tấn công mới. Từ Đông Quan, các tướng Minh là Trần Trí, Mã Kỳ đem đại quân xuống Thanh Hoá, nhằm hướng trại Quan Du là nơi Lê Lợi đóng đại doanh. Ai Lao cũng đem lực lượng tiến đóng ở Kiệt Mang, chờ phối hợp với quân Minh tấn công quân Lam Sơn từ hướng tây nam. Quân Minh có chiến kỵ mạnh, quân Ai Lao có tượng binh mạnh, tạo thành thế 2 gọng kìm kẹp quân Lam Sơn vào giữa. Địch đã đông lại đánh quân ta từ cả hai phía trước sau, thế rất hung hiểm.

Trước tình hình đó, Lê Lợi quyết định sai tướng Nguyễn Chích dẫn quân đánh vào cánh quân Ai Lao trước khi quân Minh kịp tới để phá thế gọng kìm. Nguyễn Chích trước kia dựng căn cứ Hoàng Nghiêu, phất cờ khởi nghĩa từ những năm 1413, cũng là một thế lực nghĩa quân có tiếng trong vùng Thanh Hoá. Nhiều lần quân Minh đem quân tiến đánh, Nguyễn Chích vẫn cùng đội quân của mình đứng vững, giữ quyền kiểm soát ba huyện Đông Sơn, Nông Cống, Ngọc Sơn. Sau khi Lê Lợi xưng vương, khởi nghĩa đánh quân Minh, lập được nhiều chiến công, Nguyễn Chích cảm phục dẫn quân mình đến xin gia nhập. Sự tham gia của Nguyễn Chích thể hiện tinh thần đoàn kết vì lợi ích chung.

Được Lê Lợi giao trọng trách đánh quân Ai Lao, Nguyễn Chích hết lòng chiến đấu. Quân Ai Lao đánh với Nguyễn Chích không chống nổi phải rút lui, nhưng chúng vẫn còn lực lượng khá đông. Chỉ 3 ngày sau, quân Minh lại cùng quân Ai Lao hai mặt cùng tiến đánh Quan Du. Nghĩa quân Lam Sơn cũng chia quân làm 2 mặt đánh trả lại. Trận chiến diễn ra ác liệt và dai dẳng, quân ta chết và bị thương nhiều. Lê Lợi nhận thấy tình hình bất lợi, muốn dẫn quân rút lui. Nhưng lúc này quân Ai Lao đã chắn mất lối đi về căn cứ địa, còn quân Minh thì bủa vây trước mặt. Lê Lợi nhân đêm tối đem quân lặng lẽ bỏ trại rút lui về hướng bắc, kéo đến đóng ở Khôi Huyện (thuộc Nho Quan, Ninh Bình ngày nay). Việc quân Lam Sơn lui về hướng bắc khiến cho quân Minh và quân Ai Lao không lường được, cho nên quân ta có thời gian thoát khỏi vòng vây. Nhưng chẳng lâu sau, liên quân Minh – Ai Lao đã phát hiện ra và nhanh chóng đuổi theo.

Nghĩa quân Lam Sơn đóng ở Khôi Huyện dưỡng thương, nghỉ ngơi vàgấp rút sửa chữa vũ khí. Lê Lợi đoán rằng quân giặc sẽ sớm đến, cố gắng an ủi sĩ tốt, sẵn sàng chờ đánh giặc. Quả nhiên chỉ sau 7 ngày, quân Minh và quân Ai Lao đã hùng hổ tiến đến. Giặc không dồn quân đánh thẳng ngay mà chia binh làm 4 đạo, đi vòng bủa vây quân ta từ 4 hướng, quyết không cho nghĩa quân một con đường thoát nào. Trong tình thế nguy cấp, Bình Định vương Lê Lợi cho tụ họp tướng sĩ, nói rằng: “Giặc vây ta bốn mặt, có muốn chạy cũng không có lối nào. Đây chính là tử địa mà binh pháp đã nói, đánh nhanh thì sống, không đánh nhanh thì chết”.(theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư)

Dứt lời, ngài sa hai hàng lệ. Tướng sĩ đều cảm khái, quyết liều chết với giặc. Với tinh thần chiến đấu quên mình, quân Lam Sơn đã tạo nên một trận đánh huyền thoại. Các tướng Lam Sơn là Lý Triện, Lê Hướng, Lê Lĩnh, Lê Hào, Phạm Vấn… dẫn quân xông ra phá vòng vây, tướng sĩ người người tranh nhau tiến lên trước, thế mạnh như bão táp. Tham tướng nước Minh là Phùng Quý bị chém chết tại trận, cùng với hơn 1.000 quân Minh bỏ mạng trong chốc lát, 100 con ngựa chiến rơi vào tay nghĩa quân Lam Sơn. Quân ta nhằm thẳng vào hướng hai đại tướng nước Minh là Tổng binh Trần Trí, Nội quan Mã Kỳ mà đánh gấp, ai chống là chết. Tướng giặc không chống nổi cách đánhquyết tử của binh tướng Lam Sơn, cắm đầu bỏ chạy về hướng thành Đông Quan. Các hướng quân Minh do đó mà nối nhau tan vỡ, dù rằng vẫn còn rất đông. Tướng Ai Lao là Mãn Sát thấy quân Minh tan chạy, rất khiếp sợ quân ta nên cũng lệnh cho quân Ai Lao rút nhanh.

Quân Lam Sơn làm nên một chiến tích phi thường với tổn thất cũng khá nặng nề. Khôi Huyện bấy giờ cũng là nơi không tiện đóng giữ vì nằm giữa tuyến đường từ thành Đông Quan đến thành Tây Đô, đóng quân tại đây rất dễ bị vây. Bình Định vương Lê Lợi sau trận đánh đẫm máu đã dẫn quân rút về núi Chí Linh, dựa vào núi rừng hiểm trở mà cố thủ. Đây là lần thứ ba quân Lam Sơn rút lên núi Chí Linh. Nơi này là nơi thiện hiểm, dễ thủ khó công, giúp đảm bảo an toàn cho nghĩa quân nếu quân Minh ỷ đông tiến đánh. Nhưng núi Chí Linh cũng là nơi dân cư thưa thớt, rừng thiêng nước độc. Sau liên tiếp những trận chiến ác liệt với giặc mạnh, giờ đây nghĩa quân Lam Sơn lại phải đương đầu với những ngày tháng gian khổ thiếu thốn. Sự gian khổ và tinh thần vượt khó để đi đến thắng lợi của binh tướng Lam Sơn đã được Nguyễn Trãi mô tả lại trong Bình Ngô Đại Cáo:

Cái thiên dục khốn ngã dĩ giáng quyết nhiệm
Cố dữ ích lệ chí dĩ tế vu nan

Tạm dịch :
Trời thử lòng người trao cho mệnh lớn
Ta đấy gắng chí khắc phục gian nan

Quốc Huy

https://1.bp.blogspot.com/-57OPDXtnYQ8/XkzV8-cMTzI/AAAAAAACNZQ/czylYhgQv5Agg0R7u9PGCniwmEwV12MkgCLcBGAsYHQ/s640/111.jpg

15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Kỳ 112

NGUYỄN TRÃI VUNG BÚT LỪA GIẶC
LÊ LỢI MÀI GƯƠM CHỜ THỜI


Đầu năm 1423, Lê Lợi đem quân về núi Chí Linh thủ hiểm. Nghĩa quân Lam Sơn sau những trận đánh ác liệt, mặc dù liên tục chiến thắng oanh liệt những đã chịu nhiều tổn thất. Tiếp đó, tướng sĩ lại phải chịu đựng sự cùng cực do sống trong núi rừng thưa thớt. Lúc này việc tiếp tế gặp khó khăn, nghĩa quân dần rơi vào cảnh thiếu thốn lương thực. Suốt hai tháng liền, trong quân chỉ ra rau dưa cầm hơi, rồi đến ăn cả cỏ cây, măng tre. Lê Lợi trong lúc khốn khó, phải lệnh giết 4 con voi trận của mình và một số ngựa chiến để nuôi quân. Tình hình đói khổ quá mức, một số người không chịu đựng nổi bắt đầu kéo nhau đào ngũ.

Lê Lợi phải dùng nghiêm lệnh, bắt được viên tướng đào ngũ tên là Khanh, liền cho chém rao. Nhờ dùng biện pháp mạnh, kỷ luật quân Lam Sơn lại được giữ vững, không còn người đào ngũ nữa. Nhưng tướng sĩ khổ sở đã lâu, muốn nghỉ ngơi, đồng loạt khuyên Bình Định vương tạm hoà hoãn với quân Minh. Lê Lợi bất đắt dĩ phải thuận theo, sai hai người thân cận là Lê Vận, Lê Trăn đem thư sang trại Sơn Thọ, Mã Kỳ cầu hoà. Thư do Thừa chỉ Nguyễn Trãi soạn thay lời Bình Định vương, lời lẽ tỏ ra rất nhún nhường :

Tôi nghe nói: “Sinh đời thái bình, ai chẳng được ở yên; gặp đời thánh minh, ai chẳng được thoả sống”. Nay tôi sinh đời bình, gặp thời thịnh, mà lại thường phải than là mất chỗ ở yên là cớ làm sao? Trước vì tri huyện Đỗ Phú là người đồng hương, cùng tôi có hiềm khích, nó đút lót tham chính Lương Nhữ Hốt, nói vu cho tôi khinh mạn quan trên, cậy mạnh mà chống lại mệnh trên, nếu không trị trước, tất có lo sau. Nhữ Hốt báo với quan quản binh cùng nội quan Mã Kỳ nhân đó cho quan quân đến đánh úp bộ chúng tôi, không kể trẻ già, đều bị chém giết bắt bớ, họ hàng tôi đều tan tác, vợ con tôi đều chia lìa. Lại khai quật mồ mả tổ phụ tôi phơi bày hài cốt.

Tôi không biết kêu đâu, tiến thoái đều khó, bèn sai thân nhân đến Tam ty tạ tội, thì hai ba lần sứ đi đều bị giết, không ai được về. Tôi không biết tính sao, đành phải chạy đi núp náu cho qua năm tháng, để đợi quan trên xét soi. Sống tạm nơi rừng núi đã sáu năm trời, ngày cơm hai bữa, chưa từng có bữa nào no. Song chim tinh vệ lấp biển, há quản gian lao, kẻ oan ức trả thù, cũng liều sống thác. Nên tôi đem bộ chúng đến vây quê nhà Đỗ Phú, bắt họ hàng làng xóm nó để hả lòng căm giận mà thôi, đâu dám có chí khác.
Nay nghe quan tổng binh là bực đức lớn ân rộng, tâm như Đặng Vũ dụ địch, chính như Hoàng Bá dạy dân, thực là dịp cho tôi được đổi lỗi sửa mình. Vậy xin kính sai bọn anh họ là Lê Vận dâng thư đến viên môn, giải bày oan khổ, cúi xin đại nhân tha cho lỗi đã qua, mở cho đường đổi mới. Nếu được rủ lòng khoan thứ, thật là ơn tạo hoá của trời đất vậy. (trích Quân Trung Từ Mệnh Tập)

Nguyễn Trãi đã dùng lời văn của mình lèo lái các sự kiện theo một hướng khác, làm thay đổi tính chất thực của sự việc và không quên khoét sâu vào tâm lý kiêu ngạo của kẻ địch. Sứ giả Lê Trăn, Lê Vận đưa thư cầu hoà được thuận lợi. Thông qua Sơn Thọ và Mã Kỳ, Tổng binh Trần Trí chấp nhận giảng hoà với Bình Định vương Lê Lợi. Quân ta trở về căn cứ Lam Sơn nghỉ ngơi, bồi dưỡng lực lượng.

Việc giảng hoà thành công có công lao rất lớn của văn thần Nguyễn Trãi và hai sứ giả Lê Trăn, Lê Vận. Tuy nhiên văn chương của Nguyễn Trãi có hoa mỹ đến đâu, tài ăn nói của sứ giả có lưu loát đến đâu cũng không thể nói suông với quan tướng nước Minh mà khiến chúng giảng hoà được. Thực ra, phía giặc Minh chấp nhận hoà hoãn cũng là vì chúng đang gặp những khó khăn nghiêm trọng, và đã sẵn có ý muốn chiêu dụ Lê Lợi.

Bởi vì Trần Trí đánh nhau với quân Lam Sơn đã lâu ngày, điều động mấy lần lên đến hàng chục vạn quân mà vẫn thường bại trận, đã sợ uy thế của Lê Lợi. Trong khi đó, tình hình phương bắc cũng không cho phép Chu Đệ tiếp tục gửi thêm quân tăng viện cho chiến trường Đại Việt. Trước đây, Chu Đệ vừa muốn đánh Mông Cổ, vừa muốn nam chinh nên áp dụng chính sách chia rẽ, mua chuộc các bộ tộc Mông Cổ, lợi dụng bộ tộc này đánh bộ tộc kia. Chính sách này ban đầu đem lại tác dụng lớn, nhưng dần dần các thế lực Mông Cổ đều nhận ra sự gian trá của Chu Đệ, bắt đầu liên kết nhau đồng loạt tấn công nước Minh còn mạnh mẽ hơn trước. Bộ tộc Ngoã Lạt, thế lực Mông Cổ hùng mạnh nhất lúc bấy giờ đã liên tiếp uy hiếp biên thuỳ phía bắc nước Minh.

Chu Đệ phải mấy lần thân chinh, động binh mỗi lần hàng chục vạn quân, quốc khố nước Minh trở nên trống rỗng, dân chúng điêu đứng vì chiến tranh. Năm 1423, Chu Đệ dẫn quân tiến sâu vào đất Mông Cổ, nhưng quân Ngoã Lạt lại tránh giao chiến, dẫn dụ quân Minh sa lầy giữ thảo nguyên mà không thu được thành quả nào. Nhân lực, vật lực đổ vào cuộc chiến dai dẳng với Mông Cổ đã khiến nước Minh hụt hơi, không còn đủ tiềm lực mà tăng viện cho quân Minh ở Đại Việt. Bọn tướng lĩnh giặc Minh trên lãnh thổ nước ta phải tự liệu lấy đường tiến thủ dựa trên lực lượng hiện có trong tay.

Cục diện trên toàn lãnh thổ nước ta lúc này là quân Minh vẫn đủ sức dồn quân đã bại bất kỳ cuộc khởi nghĩa nào, kể cả khởi nghĩa Lam Sơn. Nhưng mặt khác chúng không còn khả năng duy trì sự kiểm soát trên toàn lãnh thổ như trước nữa. Tướng lĩnh nước Minh chắc hẳn đã tính toán ra điều này, một cuộc chiến tổng lực để tiêu diệt quân Lam Sơn ắt sẽ khiến chúng mất thêm một phần binh lực lớn. Và một khi hào kiệt khắp nơi lại một phen nổi lên, quân Minh chung cuộc vẫn khó tránh khỏi bại vong. Hoà hoãn với Lê Lợi là một giải pháp tháo gỡ tình thế khó khăn của quân Minh, nhất là các tướng giặc đã bắt đầu lo sợ phải chịu trách nhiệm về những thất bại liên tiếp trước quân ta.

Trong thời gian hoà hoãn, Trần Trí, Sơn Thọ vừa cố gắng chỉnh đốn lại lực lượng, vừa tìm cách dụ dỗ Lê Lợi bằng vật chất. Quân Minh thường đem tặng Lê Lợi trâu bò, cá muối, nông cụ, thóc giống… Vì khiếp oai quân ta, lúc này tướng giặc thực sự đã chấp nhận để cho Lê Lợi được yên ổn làm một sứ quân cát cứ, có quyền tự trị trong một vùng nhỏ, miễn sao lợi ích của nước Minh trên toàn quốc vẫn được duy trì. Thế nhưng Bình Định vương Lê Lợi mang hoài bão lớn, muốn khôi phục lại giang sơn nước Việt, đâu chỉ mong làm chúa một phương để mà thôi. Tranh thủ thời cơ, quân ta tích cực rèn thêm nhiều chiến cụ, tăng cường phòng bị nơi hiểm yếu và trù tính các kế hoạch để đánh úp quân Minh. Để có thêm lực lượng, nghĩa quân kêu gọi nhân dân quyên góp tiền của, mộ thêm quân lính. Khi tướng giặc đem tặng các vật phẩm, Lê Lợi cũng sai người đem vàng bạc tặng lại để đáp lễ.

Trái với toan tính ban đầu của quân Minh khi chấp nhận giảng hoà, Tổng binh Trần Trí chứng kiến thực lực của quân Lam Sơn ngày một hùng mạnh lên. Khi biết rằng Bình Định vương Lê Lợi ngoài mặt hoà hảo nhưng bên trong vẫn không từ bỏ chí hướng đánh đuổi quân Minh, Trần Trí bèn toan trở mặt. Khoảng mùa thu năm 1424, Quân Minh bắt giam sứ giả Lê Trăn không cho về, và sửa soạn lực lượng chuẩn bị tiến đánh. Biết tin giặc giam sứ giả, Bình Định vương Lê Lợi rất tức giận, cho họp tướng sĩ, tuyệt giao với quân Minh. Các tướng đều đồng lòng xin quyết chiến. Sau hơn một năm trời hoà hoãn với quân Minh, một giai đoạn chiến đấu mới của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn lại mở ra.

Quốc Huy

https://1.bp.blogspot.com/-LAXJR1VAzFQ/XlAKDGDr76I/AAAAAAACNik/ppUXka8bxhMLrqDxNce1lzAre-B8dBnBgCLcBGAsYHQ/s640/112.jpg

15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Kỳ 113

LÊ LỢI BẤT NGỜ NAM TIẾN
BẤT TRỌN Ổ GIẶC MINH


Thành quả của việc tạm hoà với giặc được đề cập trong kỳ trước là rất lớn. Sau hơn một năm hoà hoãn, quân Lam Sơn từ chỗ bị vây khốn nơi núi Chí Linh, chịu cảnh đói khát nay đã trở lại với một khí thế mạnh mẽ hơn. Giờ đây quân ta không chỉ có nhiều lương thực, khí cụ mà còn đông đảo hơn trước. Bằng sự tự tin và tinh thần quyết chiến cao độ, quân Lam Sơn tiếp tục con đường chiến đấu của mình.

Bấy giờ là năm 1424, tại nước Minh có sự thay đổi lớn. Minh Thành Tổ Chu Đệ trong lần thứ 5 thân chinh đánh Mông Cổ, đã không thể hoá giải được chiến lược của quân Ngoã Lạt Mông Cổ dưới sự chỉ huy của thủ lĩnh Arughtai. Quân Ngoã Lạt luôn tích cực tấn công biên giới nước Minh, cướp bóc và tiêu hao lực lượng nước Minh dần dần. Nhưng khi quân Minh điều động lực lượng lớn tấn công, quân Ngoã Lạt lại rút lui về thảo nguyên, tránh giao chiến, chờ cho quân Minh kiệt sức trong cuộc rượt đuổi phải tự lui binh. Với lực lượng hầu như thuần kỵ binh, quân Ngoã Lạt luôn giành lợi thế tuyệt đối trong các cuộc rượt đuổi trên thảo nguyên bao la. Chu Đệ lúc này đã già yếu, mệt mỏi vì cuộc hành quân bắc tiến cực nhọc và vô vọng, chết ở sông Du Mộc. Quân tướng nước Minh giữ kín tin Chu Đệ chết, rút về đến Bắc Kinh mới cho phát tang. Thái tử Chu Cao Sí lên nối ngôi, tức vua Minh Nhân Tông.

Trước đây, vì sự độc đoán của Chu Đệ, quan tướng nước Minh chỉ dám răm rắp theo lệnh. Nước Minh càng lúc càng sa lầy tại Đại Việt. Nay bạo chúa đã chết, nhà vua mới lên ngôi, trong triều đình nước Minh liền có những bàn luận sôi nổi việc nên bỏ hay cố thực hiện cái gọi là “giữ đất An Nam” (cách gọi nước ta của phương bắc thời xưa). Rõ ràng tình hình nước Minh thời bấy giờ không hề dư dả binh lực và các nguồn lực khác nữa cho cùng lúc hai mặt bắc phía bắc và phía nam. Thêm nữa, mặt trận phía bắc chống Mông Cổ đối với nước Minh là mặt trận có tầm quan trọng hơn việc đàn áp các cuộc khởi nghĩa ở Đại Việt rất nhiều, nó có thể can hệ đến sự tồn vong của đế chế Minh.

Minh Nhân Tông Chu Cao Sí phân vân không quyết định được, vì ngoài vấn đề cân nhắc lợi hại, việc rút quân khỏi nước ta sẽ là một sự thừa nhận thất bại, một đòn giáng mạnh vào thể diện của Minh triều. Vua Minh cho triệu Công bộ thượng thư Hoàng Phúc bấy giờ kiêm chức Bố chính, Án sát ti tại An Nam về hỏi ý kiến. Hoàng Phúc tâu rằng: “Nếu được người giỏi phủ ngự An Nam, thì có thể giữ được vô sự”. Vua Minh cho lời ấy là phải. Hoàng Phúc được cho lưu lại nước Minh, tham mưu bên cạnh vua mới. Binh bộ thượng thư Trần Hiệp lên thay Phúc nắm quyền hai ti Bố chính, Án sát trong bộ máy đô độ giặc Minh tại nước ta.
Nước Minh vẫn chưa từ bỏ việc chiếm đóng Đại Việt, nhưng bắt đầu có thái độ mong muốn hoà hợp dân tộc, nới lỏng sự bóc lột, đồng hoá dân tộc một cách dần dần, ôn hoà hơn.

Tuy nhiên lúc này vua Minh lại được tin Trần Trí đã thất bại trong kế hoạch chiêu dụ Lê Lợi, bèn xuống chiếu trách hỏi. Trí tâu lên rằng: “Giặc Lê Lợi chạy trốn sang Lão Qua, bị Lão Qua đuổi bèn quay về huyện Côi, châu Ninh Hoá [tức Ninh Bình ngày nay]. Quan quân tiến đánh, viên Đầu mục nguỵ là bọn Phạm Ngưỡng đem trai, gái 1.600 người ra hàng. Lê Lợi tuy nói rằng sẽ đưa hơn 480 nam nữ ra hàng, nhưng rồi dừng lại tại huyện Nga Lạc, phủ Thanh Hoá; lại nghe rằng vẫn không ngừng tiếp tục tạo khí giới. Dối trá như vậy, đáng mang quân đánh dẹp.”

Minh Nhân Tông nhận được thư tâu, lại xuống chiếu căn dặn bọn Trần Trí: “Ngươi hãy ước tính mưu kế giặc, trù hoạch đúng nên tiến hay chưa? Nhưng ta nghe rằng nguyên nhân gây ra bọn giặc này, do quan ty nhũng nhiễu áp bức, bọn chúng cùng quẫn bất đắc dĩ gây ra như vậy. Nay dùng phép đại xá để thiên hạ cùng đổi mới, đối với Giao Chỉ lại càng tăng thêm sự khoan tuất. Nếu trong muôn một, lương tâm bọn giặc này chưa mất hết, chúng có thể suy nghĩ sửa đổi. Nay nếu quan quân chưa tiến, thì mang thư đến chiêu dụ, sẽ không hỏi đến lỗi xưa, lệnh cho về đất cũ an cư lạc nghiệp. Nếu bọn này chấp mê không chịu ra, vẫn tiếp tục hành động như trước, thì hãy tâu đầy đủ sự thực, để có cách khu xử khác. Nếu quan quân đã tiến, thế không thể dừng lại, phải hết sức cẩn thận. Giặc âm mưu quỷ quyệt, dựa vào chổ hiểm đặt phục binh, hãy sử dụng thám thính đằng xa để không lầm vào kế giặc. Lúc hành quân, phải ước thúc quân lính, đừng nhiễu hại nhân dân.”(theo Minh Thực Lục)

Vua mới của nước Minh vẫn nuôi hy vọng chiêu dụ Lê Lợi, bất đắc dĩ mới dùng binh tiến đánh. Trong chiếu chỉ, Minh Nhân Tông đã có ý trách móc bọn quan lại đô hộ hà hiếp dân ta nên dẫn đến việc phản kháng. Vua Minh lại hạ lệnh cho đình chỉ việc khai thác vàng bạc ở nước ta chuyển về nước, mong rằng có thể thu phục được nhân tâm. Thái độ của vua Minh Nhân Tông đối với người Việt so với Minh Thành Tổ Chu Đệ rõ ràng là nhân đạo hơn.

Nhưng vì đứng ở vị thế một vị vua phương bắc, Minh Nhân Tông không thể nào có được sự thấu hiểu với nhân dân ta, càng không thể hành động vì nguyện vọng, lợi ích của dân Việt. Vua Minh vẫn có mục tiêu là duy trì sự thống trị của nước Minh đối với nước ta, và sẵn sàng dùng vũ lực để đàn áp các cuộc khởi nghĩa.

Tháng 10.1424, trong lúc tướng lĩnh nước Minh còn đang do dự thì Bình Định vương Lê Lợi đã chủ động ra tay đánh trước. Lê Lợi cho họp tướng sĩ, thảo luận về sách lược tiến thủ. Tướng Nguyễn Chích, bấy giờ giữ chức Thiếu uý, thưa rằng: “Nghệ An là nơi hiểm yếu, đất rộng người đông. Tôi đã từng qua lại Nghệ An, nên rất thông thuộc đường đất. Nay ta nên trước hãy nên đánh lấy Trà Long, chiếm giữ bình định cho được Nghệ An để làm chỗ đất đứng chân, rồi dựa vào đấy mà lấy tiền tài sức lực. Sau sẽ quay cờ trẩy ra Đông Đô thì có thể tính xong được việc dẹp yên thiên hạ”.

Nghệ An thời bấy giờ ở xa thủ phủ Đông Quan hơn Thanh Hoá, binh lực quân Minh ở đây mỏng và yếu hơn. Người Minh chỉ mới thành lập lại được bộ máy đô độ từ năm 1414. Dân xứ Nghệ trước theo nhà Hậu Trần rất đông đảo, bị quân Minh đàn áp đẫm máu. Những người dân còn lại vẫn mang nặng lòng thù hận quân Minh tàn ngược, lại khổ sở cùng cực vì ách đô hộ, ngày ngày cầu mong có dịp đứng lên đánh đuổi giặc. Lê Lợi nghe qua lời Nguyễn Chích, khen là phải. Trước tiên muốn tiến xuống Nghệ An, Bình Định vương cho quân đánh thành Đa Căng (thuộc xã Thọ Nguyên, Thọ Xuân, Thanh Hoá) để đẩy chiến tuyến giữa ta và địch lùi về phía đông, khai thông đường tiến quân xuống phía nam, giúp hạn chế nguy cơ bị đánh tập hậu khi chuyển quân.

Thành Đa Căng do nguỵ quan Lương Nhữ Hốt, giữ chức Tham chính chỉ huy. Với chiến thuật hành quân bí mật quen thuộc, Lê Lợi đem tượng binh, bộ binh tập kích thành Đa Căng dữ dội, Lương Nhữ Hốt thua trận chớp nhoáng, một thân bỏ chạy. Quân Lam Sơn giết và bắt được gần như toàn bộ lực lượng giặc tại Đa Căng, thu được khí giới, lương thực rất nhiều. Lê Lợi cho đốt hết thành luỹ của giặc. Tướng Minh là Đô chỉ huy sứ Nguyễn Hoa Anh đem quân đến cứu viện cho Lương Nhữ Hốt, đến nơi thì thành đã bị quân Lam Sơn đánh hạ rồi. Quân ta thừa thế tiến đánh luôn Nguyễn Hoa Anh, cả phá được giặc. Hoa Anh thua chạy về thành Tây Đô. Hai trận thắng liên tiếp, quân Lam Sơn bắt được vợ con của quân Minh rất nhiều, Lê Lợi đều cho thả hết.

Nghĩa quân Lam Sơn theo kế hoạch đã định trước, tiến quân về hướng châu Trà Lân, phủ Nghệ An. Tin tức thành Đa Căng bị hạ, quân Lam Sơn nam tiến khiến cho tướng lĩnh nước Minh rất lo lắng và gấp rút tìm biện pháp đối phó lại.

Quốc Huy

https://1.bp.blogspot.com/-_Z-GYeD5RLI/XlSMEiRGTqI/AAAAAAACNqY/7jR3AKmx4iojxq3z9QYbigoC8JaD7I6mQCLcBGAsYHQ/s640/113.jpg

15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Kỳ 114

TRẬN BỒ ĐẰNG SẤM VANG CHỚP GIẬT
MIỀN TRÀ LÂN TRÚC CHẺ TRO BAY


Theo sách lược mà Nguyễn Chích đề ra, cuối năm 1424 nghĩa quân Lam Sơn bắt đầu tiến hành kế hoạch tiến vào Nghệ An. Việc đánh hạ thành Đa Căng đã giúp nghĩa quân mở toang con đường tiến về nam. Lê Lợi ngay sau đó đã nhanh chóng tuyển thêm tráng đinh từ trong dân, chỉnh tề đội ngũ, sẵn sàng khí giới, chuẩn bị sẵn lương khô cho đoàn quân nam tiến.

Mục tiêu đầu tiên thuộc Nghệ An mà quân Lam Sơn nhắm đến là châu Trà Lân (hai huyện Con Cuông, Tương Dương, tỉnh Nghệ An ngày nay). Sở dĩ Bình Định vương Lê Lợi và các tướng lĩnh Lam Sơn lựa chọn nơi này là do nó vừa có vị trí từ trên cao đánh xuống đồng bằng, vừa có thể giúp nghĩa quân kiểm soát toàn bộ vùng rừng núi tây Nghệ An khi chiếm đóng được. Lực lượng địch đóng giữ tại châu Trà Lân khá mỏng, chỉ có khoảng hơn 3.000 nguỵ quân dưới quyền chỉ huy của thổ tù Cầm Bành.

Hay tin quân Lam Sơn tiến đánh châu Trà Lân, Cầm Bành lập tức đem quân chặn đánh. Đồng thời quân Minh trong khắp vùng Thanh Nghệ cũng kéo nhau vây đánh để giải cứu Cầm Bành và tiêu diệt nghĩa quân. Từ thành Tây Đô, Tổng binh Trần Trí cùng các tướng Minh là Lý An, Phương Chính, Thái Phúcmở cửa thành đem hàng vạn quân đuổi theo sau đoàn quân Lam Sơn. Đô chỉ huy đồng tri nước Minh là Sư Hựu lúc này ở Nghệ An cũng đem trên dưới 2.000 quân đến hội với Cầm Bành chặn đánh quân ta. Bình Định vương dẫn quân đến núi Bồ Đằng (thuộc xã Châu Nga, huyện Quỳ Châu, Nghệ An ngày nay) thì thám binh báo về trước mặt, sau lưng đều có giặc. Quân Lam Sơn lại một lần nữa rơi vào thế lưỡng đầu thọ địch, nhưng bấy giờ lực lượng của quân ta đã khác trước, binh lính từng trải nhiều trận, kinh nghiệm trận mạc cũng đã dày dặn. Phía quân Minh thì cũng không hoàn toàn nắm lợi thế. Giặc tuy trước sau hai mặt tiến đánh nhưng hành quân gấp gáp bị động, quân lính dưới trướng Trần Trí nhiều lần bại trận dưới tay quân Lam Sơn nên cũng đã sinh lòng nhác sợ.

Dù giặc hai mặt tiến đánh nhưng hành tung đã bị quân ta sớm biết được. Lúc này trời đã xế chiều, Bình Định vương Lê Lợi bình tĩnh dàn quân cùng voi ngựa chia đường mai phục đợi sẵn. Bọn Phương Chính tiến trước, trúng vào ổ mai phục. Quân Lam Sơn nhất tề từ các ngã xông ra đánh phá, voi trận giẫm bừa vào hàng ngũ quân Minh. Giặc nối nhau tan vỡ lớn. Quân Lam Sơn chém được các tướng giặc là Đô ty Trần Trung, Chỉ huy vệ Xương Giang Ngũ Vân và hơn 2.000 tên, thu chiến lợi phẩm hơn 100 cỗ ngựa. Trần Trí cùng quân tướng Minh tháo chạy ra thật xa mới định thần lại, thu thập quân binh. Quân Minh từ tướng tới lính càng khiến sợ lối đánh mai phục lợi hại của quân Lam Sơn hơn nữa.

Thắng được trận Bồ Đằng, quân Lam Sơn tạm thời cắt đuôi được Trần Trí và gây cho địch thiệt hại nặng. Kế đến Lê Lợi tiếp tục dẫn quân tiến vào đất của châu Trà Lân, đụng trận với quân của Sư Hựu tại Trịnh Sơn Trang (xã Thạch Ngàn, huyện Con Cuông, Nghệ An). Vừa thắng trận trước đội quân đông đảo của Trần Trí, quân Lam Sơn không ngán ngại gì đội quân của Sư Hựu, cứ vỗ mặt đánh trực diện. Quân của Sư Hựu không cầm cự nổi được bao lâu đã thiệt hại hơn 1.000 quân, Thiên hộ Trương Bản bị chém tại trận, chỉ còn số ít bỏ trốn. Sư Hựu một mình đào thoát khỏi chiến địa. Vì hành quân gấp không thể thu mang theo nhiều quân nhu, Lê Lợi cho quân đốt hết lương thảo, khí giới bắt được từ cánh quân của Sư Hựu. Quân Lam Sơn vượt Trịnh Sơn Trang tiến đóng ở sách Mộc. Trần Trí sau trận thua ở Bồ Đằng lại thu thập quân lính bám đuôi quân Lam Sơn. Trí tiến quân đến núi Trạm Hoàng, được tin quân ta vừa diệt gọn cánh quân của Sư Hựu, khiếp vía không dám giao chiến nữa, lui binh về giữ thành Nghệ An.

Điều đó có nghĩa là quân Minh hầu như đã chấp nhận thí mất châu Trà Lân cùng đám nguỵ quân của Cầm Bành, để đổi lấy một sự an toàn cho quân Minh và tăng cường phòng thủ thành Nghệ An. Các trận thắng liên tiếp dài từ xứ Thanh sang xứ Nghệ của quân Lam Sơn đã tạo nên một bước ngoặc mới về chiến lược của hai bên. Quân Minh dù vẫn còn đông đảo hơn quân Lam Sơn nhiều, nhưng đã phải chuyển từ chiến lược chủ động tấn công sang chiến lược phòng thủ. Tướng lĩnh giặc giờ đây muốn nhử quân ta chủ động đánh đồn, công thành để chúng có thể dựa vào thành trì, nguồn lương thực dồi dào đã tích luỹ thời gian dài để thủ thắng trước quân Lam Sơn. Bởi vì nghĩa quân tuy giỏi đánh nơi rừng núi, giỏi mai phục nhưng chưa quen đánh thành, lương thực khí giới cũng không so bằng quân Minh.
Bình Định vương bấy giờ rất tranh thủ thời gian, tiến lên vây đánh quân của Cầm Bành ở châu Trà Long. Cầm Bành ít quân nhưng nắm giữ địa lợi, rút lên sơn trại cố thủ. Bấy giờ vào tháng Giêng năm 1425, Phương Chính dẫn quân Minh từ thành Nghệ An đến châu Trà Lân, phô trương thanh thế với quân Lam Sơn nhưng không dám tiến đánh vì sợ địa hình đồi núi dễ trúng mai phục, chỉ viết hịch kể tội. Lê Lợi thấy địa hình sơn trại của Cầm Bành khó tấn công, Phương Chính lại đóng quân rình phía sau, bèn chia quân vừa vây chặt Cầm Bành, vừa ghìm nhau với Phương Chính. Lê Lợi lại cùng tướng sĩ ra sức tuyên truyền chính nghĩa, phủ dụ nhân dân trong vùng. Kể cả những người trước theo Cầm Bành, đều được khuyên bảo vỗ về trở lại nghiệp cũ. Nhân dân nô nức theo về, cùng góp quân lương tiếp sức cho nghĩa quân Lam Sơn vây đánh giặc.

Trong thời gian quân ta vây Cầm Bành, đã có nhiều thư từ qua lại giữa ta và quân Minh. Bình Định vương muốn thăm dò ý định của Phương Chính, sai Hàn lâm viện Thừa chỉ Nguyễn Trãi viết thư trả lời Phương Chính và khiêu chiến. Thư viết rằng:

“Bảo cho mày nghịch tặc Phương Chính: Kể đạo làm tướng, lấy nhân nghĩa làm gốc, trí dũng làm của. Nay bọn mày chỉ chuộng lừa dối, giết hại kẻ vô tội, hãm người vào chỗ chết mà không xót thương, việc ấy trời đất không dung, người mà đều giận, cho nên liền năm chinh phạt, hằng đánh hằng thua. Thế mà không biết trước tự cải quá, lại còn bới bẩn cho thêm thối, hối sao cho kịp được! Huống chi bây giờ nước mùa xuân mới sinh, lam chướng bốc độc, thế không thể chịu lâu được. Nay mày chỉ nắm đại binh mà nấn ná không tiến, khiến quân lính nhiễm lam chướng dịch lệ mà chết, đó là tội ai? Binh pháp có nói: “Kẻ nhân giả lấy yếu chế mạnh, kẻ nghĩa giả lấy ít địch nhiều”. Nay mày muốn đánh, thì nên tiến quân giao chiến, để quyết sống mái, đừng làm khổ cho quân sĩ hai nước làm gì.”(trích Quân Trung Từ Mệnh Tập)

Phương Chính là tên tướng thất phu, đọc thư của Nguyễn Trãi rất tức tối nhưng vẫn không dám tiến quân. Chỉ trả lời rằng: “Mày nếu muốn đánh nhau thì hãy ra chỗ đồng bằng đất phẳng”.

Nguyễn Trãi lại viết thư đáp: “Bảo cho mày nghịch tặc Phương Chính: Kể người dùng binh giỏi thì không có đâu là hiểm, đâu là không hiểm, không có đâu là dễ, đâu là không dễ. Thắng hay phụ ở tướng, chứ không ở đất hiểm hay dễ. Vào chỗ hiểm mà dánh nhau không khác gì hai con hổ đánh nhau ở trong thung lũng, giỏi thì được, vụng thì thua. Bởi vậy, đất không có bình thưởng nhất định, trận không có thế thưởng nhất định. Mày nếu không lui, thì phải đem binh ra mà quyết chiến thôi.”(trích Quân Trung Từ Mệnh Tập)

Liên tiếp hai thư khiêu chiến mà quân Minh vẫn chưa dám giao chiến, chỉ chực ở phía sau quân ta. Sơn Thọ lại đem chiếu thư của vua Minh Nhân Tông đến gặp Lê Lợi để chiêu hàng, chiếu viết rằng:

“Ngươi vốn là kẻ lương thiện, từ lâu có lòng thành quy phụ. Nhưng quan ty cai trị không đúng cách, sinh ra nghi sợ rồi ẩn trốn nơi núi rừng, không toại chí nguyện. Nay sau khi đại xá, bỏ hết sai lầm quá khứ, hàm chứa sự canh tân. Đặc cách sai người mang sắc dụ ban cho ngươi chức Tri phủ Thanh Hoá, cai trị dân một quận. Hãy đến nhận chức ngay, để đáp lại sự cứu xét đến lòng thành và bao dung đãi người của Trẫm”(theo Minh Thực Lục)

Lê Lợi nhận chiếu, họp các tướng lại bàn rằng: “Hiện Cầm Bành bị vây khốn đốn, lẽ ra bọn tên Chính phải cấp cứu ngay mới phải, thế mà đến nay vẫn còn dùng dằng quanh co. Đó tất là có ý nhát sợ. Chi bằng ta hãy cứ vờ bằng lòng hoà, để xem tình thế. Trong khi thư từ qua lại độ một tháng, thì ta đã bắt được Cầm Bành rồi”.(theo Đại Việt Thông Sử)

Bàn định xong, Lê Lợi tương kế tựu kế viết thư để vào trong bè, thả xuôi dòng cho Phương Chính và Sơn Thọ: “Chúng tôi muốn trở về Thanh Hoá, nhưng bị Cầm Bành ngăn chặn. Vậy ông cho người tới giải hoà để thông lối về, rất mong”(theo Đại Việt Thông Sử).

Phương Chính xem thư tưởng thật, bèn sai người đưa thư đến cho Cầm Bành, khuyên hoà giải với Lê Lợi. Vậy là giặc đã trúng kế của quân ta. Cầm Bành thủ hiểm hơn 2 tháng trời, lương hết binh mỏi, chỉ còn cầu mong quân Minh đến cứu viện. Đến khi nhận thư của Phương Chính hắn mới biết chắc rằng viện binh sẽ không đến.Quân lính của Cầm Bành lúc này rất bất mãn, tự ý kéo nhau ra hàng. Cầm Bành cùng kế cũng phải mở cổng trại ra hàng. Lê Lợi chấp nhận cho Cầm Bành đầu hàng, lệnh cho quân sĩ: “Tướng giặc đã hàng, mảy may cũng không được xâm phạm. Bất cứ tội to, tội nhỏ, đều xá cho hết.”(theo Lam Sơn Thực Lục)

Quân Lam Sơn bình định được châu Trà Lân, quân dân càng thêm phấn chấn, thế quân càng mạnh. Về sau, Cầm Bành lại sinh lòng khác, cùng thuộc hạ đang đêm trốn đi. Quân ta bắt lại được, Lê Lợi sai đem chém Cầm Bành. Chiến công tại châu Trà Lân đánh dấu một bước phát triển mới của nghĩa quân Lam Sơn. Quân ta đã đủ sức mạnh để đánh lớn với giặc, và có thể hoàn toàn chiếm thế thượng phong. Khí thế của chiến dịch thật như đôi dòng trong Bình Ngô Đại Cáo mà Nguyễn Trãi đã viết :

Bồ Đằng chi đình khu điện xế
Trà Lân chi trúc phá hôi phi

Tạm dịch :
Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật
Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay

Quốc Huy

https://1.bp.blogspot.com/-KJ2ASOdXPpk/XljZZpolznI/AAAAAAACNqo/XPffKQuiIyA_M2GI2bWWLgm1N3DPVmIywCLcBGAsYHQ/s640/114.jpg

15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Kỳ 115

LÊ LỢI: GƯƠM MÀI ĐÁ, ĐÁ NÚI PHẢI MÒN
VOI UÔNG NƯỚC, NƯỚC SÔNG CŨNG CẠN

.

Châu Trà Lân thời kỳ thuộc Minh là vùng đất sinh sống của các sắc dân Thái, Mường, Việt. Nhiều gia đình ở đây có con em là thuộc hạ của tù trưởng Cầm Bành vừa bị quân Lam Sơn đánh bại. Bình Định vương Lê Lợi biết rõ điều đó, trước sau đã nhiều lần căn dặn quân lính không được xâm phạm đến nhân dân, chỉ cố gắng chế phục Cầm Bành, chiếm lấy đất đai mà thôi. Đến khi Cầm Bành bị mưu phản bị giết, những người thuộc hạ cũ đa số được Lê Lợi tha tội. Ngài cố sức an ủi nhân dân, mọi người đều mến phục. Bình Định vương Lê Lợi kén chọn những trai tráng khoẻ mạnh, lấy được hơn 5.000 người hạng ưu xung vào đội ngũ quân Lam Sơn. Uy võ và đức độ của Lê Lợi càng thêm lừng lẫy.

Vào khoảng giữa năm 1425, tại nước Minh, vua Minh Nhân Tông chết. Thái tử Chu Chiêm Cơ lên nối ngôi, lấy hiệu Tuyên Đức, sử gọi là Minh Tuyên Tông. Vua mới của nước Minh vẫn kế tục chính sách cố giữ “đất An Nam”, chiến tranh Minh – Việt vẫn tiếp diễn.

Lại nói bọn Phương Chính sau khi trúng kế trá hàng của Bình Định vương, để mất châu Trà Lân vào tay quân ta thì rất cay cú. Phương Chính biết mình bị lừa, giận dữ đem quân tiến đánh. Nhưng thế quân ta đã vững, đánh lui được quân Minh. Phương Chính cùng Sơn Thọ phải dẫn quân rút về thủ thành Nghệ An, chờ đợi viện binh từ Đông Quan xuống phối hợp. Bình Định vương Lê Lợi dẫn quân tiến đóng tại Khả Lưu (thuộc Đô Lương, Nghệ An ngày nay), phủ dụ nhân dân, lập mưu đánh thành Nghệ An. Thế nhưng thành này kiên cố, chưa dễ công phá.

Nhân lúc vua Minh Tuyên Tông vừa lên ngôi, bọn thái giám Sơn Thọ lại viết thư dụ hàng. Quan tướng nước Minh đã rất cố gắng dụ dỗ, mua chuộc Lê Lợi, tỏ ra sẵn sàng bỏ qua chuyện cũ và hứa hẹn về quan tước. Nhưng quân giặc bạo ngược đã lâu ngày, nay chẳng qua thua trận liên tiếp mới phải xuống giọng chiêu an. Bởi thế mà người nước ta trên dưới đã không còn lòng tin được nữa. Vả lại, chí của Lê Lợi không chỉ muốn bản thân được êm ấm, mà là cứu muôn dân, khôi phục giang sơn. Bình Định vương Lê Lợi nhận thư của Sơn Thọ, cho họp các tướng, bàn rằng : “Giặc sai người đến lừa ta, ta nhân chỗ sơ hở của chúng mà lừa lại, chính là dịp này đây”.

Lê Lợi muốn thăm dò tình hình mới sai sứ giả thư từ qua lại day dưa với giặc, cốt là để cho người được ra vào thành Nghệ An mà do thám việc phòng bị của quân Minh đóng giữ thành. Một lần nữa, tướng lĩnh nước Minh lại thua trí của Bình Định vương và đầu não quân Lam Sơn. Sứ ta mấy lần vào thành, đều tích cực quan sát đường đi lối lại và sự bố phòng của quân Minh trong thành. Sau mấy lần thư từ qua lại mà không đạt được mục tiêu gì, Sơn Thọ mới dần hiểu ra mưu kế của quân ta, bèn tuyệt giao và càng chú tâm phòng bị.

Trong thời gian thư từ với giặc, Lê Lợi cho quân đóng chiến thuyền, chuẩn bị lương thực, khí giới. Ngài cho huấn luyện quân lính một cách bài bản các môn võ nghệ, kỹ thuật chiến đấu, các chiến thuật, hiệu lệnh để dùng đánh thành. Tướng giặc vừa tuyệt giao, quân Lam Sơn đã sẵn sàng đội ngũ, voi ngựa thuyền bè chia làm hai đường thuỷ bộ tiến đánh thành Nghệ An. Tuy nhiên, quân sắp đi thì có tin do thám báo về rằng tướng Minh là Lý An từ thành Đông Quan đem cả quân thuỷ lẫn quân bộ đến cứu viện thành Nghệ An, voi ngựa rất đông đảo.

Lê Lợi được tin báo, xét rằng tình hình khó mà đánh thành ngay được, bèn họp các tướng bàn rằng: “Quân địch đông, quân ta ít, đem ít đánh đông chỉ ở những đất hiểm là có thể lập được công. Vả chăng binh-pháp nói: “Nhử người tới, chứ không để người dữ tới”.”
Từ kế hoạch đánh chiếm thành Nghệ An, bộ chỉ huy nghĩa quân chuyển sang lập mưu đánh diệt quân Minh ở bên ngoài thành trì.

Lê Lợi nói với các tướng: “Trần Trí bị vây khốn đã nhiều ngày, bây giờ có viện binh tới, y tất nhiên ra đánh”. Một thế trận liên hoàn sau đó được bộ chỉ huy nghĩa quân bày ra để đón đánh quân địch tại ngay địa bàn mà quân ta đang chiếm giữ. Các tướng Đinh Liệt, Lê Ninh được lệnh đi đường tắt tiến nhanh đến huyện Đỗ Gia (thuộc Hương Sơn, Hà Tĩnh ngày nay), tranh chiếm trước địa lợi. Lê Lợi thì đích thân chỉ huy đại quân, chia quân phục sẵn các nơi hiểm yếu, đón đánh quân Minh tại ải Khả Lưu (thuộc huyện Anh Sơn, Nghệ An).
Trần Trí có được viện binh, quả nhiên mở cổng thành dẫn quân đến đánh Khả Lưu, đúng như Lê Lợi tiên liệu trước. Quân của Đinh Liệt và Lê Ninh đụng trận với Trần Trí trước tại Đỗ Gia. Với lực lượng ít ỏi, quân Lam Sơn tại đây chỉ có nhiệm vụ đánh thăm dò, kéo dài thời gian cho quân ở Khả Lưu bố trí lực lượng rồi nhanh chóng rút đi.

Quân Minh vượt Đỗ Gia tiến đến Khả Lưu, dàn quân đối luỹ với quân ta, hai bên cách nhau một con sông Lam. Bấy giờ quân Lam Sơn đã hùng mạnh, không còn chênh lệch về quân số nhiều như trước nữa. Trần Trí thấy trận thế quân ta đã vững, bèn cho quân hạ trại, chuẩn bị chiến cụ, thuyền bè vượt sông. Lê Lợi cũng cho quân dựng trại dọc bờ sông, giương cờ gióng trống, phô trương thanh thế. Đêm đến, đèn đuốc quân Lam Sơn sáng rực một khúc sông, thu hút sự chú ý của quân Minh. Trong khi đó, tượng binh và quân tinh nhuệ của ta đã âm thầm vượt sông ở một đoạn sông khác, đi vòng ra phía sau lưng địch mai phục sẵn.

Rạng sáng ngày 17.5.1425 Âm lịch, quân Minh cậy có hạm thuyền hùng mạnh, cứ ồ ạt cho quân vượt sông đánh vào trại quân ta. Một phần lực lượng quân Lam Sơn dàn trận nghênh chiến rồi giả vờ yếu thế, vừa đánh vừa lui dần, dẫn dụ quân Minh vào sâu trong trận địa mai phục. Trần Trí đã nhiều phen thua vì trúng mai phục, nên lần này hắn đã thận trọng hơn trước. Một lực lượng lớn quân Minh vẫn chưa vượt sông mà còn ở bờ phía đông, chờ cho quân tiên phong đánh mở đường, tạo không gian an toàn cho khối hậu quân. Khi thấy quân tiên phong đã trụ vững rồi, Trí mới cho từng tốp nối nhau vượt sông.

Thế nhưng Trần Trí dù đã có phòng bị nhưng vẫn trúng kế quân ta. Khi quân Minh qua sông được chừng một nửa, Bình Định vương Lê Lợi mới phát lệnh tổng công kích. Vẫn là một quan cảnh quen thuộc trong các trận mai phục của quân Lam Sơn, phục binh bốn phía đổ ra vây đánh dữ dội vào đám quân Minh đã vượt sông trước. Quân tiên phong giặc nhanh chóng bị tổn thất nặng, quay đầu chạy ngược về bờ sông. Trần Trí chưa biết xử trí thế nào, thì phục binh của ta vốn đã phục sẵn phía sau trại quân Minh cũng nhất tề xông thẳng ra đánh phá. Quân mai phục của ta đánh vào khối quân của Trần Trí tuy không đông, nhưng đều là tinh binh thiện chiến, đã gây nên sự hoảng loạn về tâm lý cho quân Minh. Trần Trí thua trận nhiều nên sinh nhát vía, chỉ phút chốc gặp quân mai phục, hắn đã cho quân lên thuyền rút lui. Quân Minh tranh nhau lên thuyền, rơi xuống sông chết đuối nhiều gấp mấy lần số bị quân ta giết trong trận.

Tại trận này, theo các sử sách phía ta chép thì quân Minh bị giết và bị chết đuối kể đến hàng vạn tên. Đây có thể coi là một trận đại thắng nữa của quân Lam Sơn sau các trận Bồ Đằng, Trà Lân. Trần Trí thua tại Khả Lưu, lại phải rút về thành Nghệ An mà cố thủ. Quân Lam Sơn đã mạnh lại càng mạnh, giành quyền kiểm soát phần lớn đất đai Nghệ An, dồn quân Minh vào trong thành trì.

Quốc Huy

https://1.bp.blogspot.com/-zXWuif6MDrs/XmIWf2fzxTI/AAAAAAACNzs/WKznzsPsZjUk0tcrI6esKW7X1SeDx8oRwCLcBGAsYHQ/s640/115.jpg

15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Kỳ 116

LÊ LỢI DÙNG KẾ “ĐIỆU HỔ LY SƠN”
XÁC GIẶC TẮC NGHẸN CẢ DÒNG SÔNG


Ba chiến thắng liên tiếp tại xứ Nghệ là Bồ Đằng, Trà Lân, Khả Lưu đã thực sự đưa cuộc khởi nghĩa Lam Sơn lên một tầm cao mới.Thế nhưng lúc này điểm yếu của quân Lam Sơn là tiềm lực vật chất không thể sánh được với giặc.

Trần Trí sau khi thua ở Khả Lưu thì cho quân lui về phía hạ lưu. Quân Minh hành quân bằng thuyền nên có tốc độ nhanh, chiếm được chỗ núi cao, gấp rút lên núi đắp luỹ, cùng với chiến thuyền dàn trận thuỷ bộ liên hoàn, ngăn chặn đường quân Lam Sơn tiến xuống đồng bằng. Lê Lợi dẫn quân tiến đánh thì giặc đã chiếm trước địa lợi, luỹ trại đã vững rồi nên không thể đánh ngay được. Lương thực của quân Minh được đảm bảo nhờ sự chuẩn bị từ trước. Ngược lại, quân Lam Sơn từ Thanh Hoá tiến vào Nghệ An, đã khá xa hậu phương chính. Tuy rằng được nhân dân trong vùng mới tích cực đóng góp, nhưng do quân số dưới trướng Bình Định vương Lê Lợi bấy giờ đã đông mà vùng Tây Nghệ An lại là nơi đồi núi thưa dân, cho nên quân ta dần đến chỗ cạn lương thực.

Được độ mấy ngày, Lê Lợi bàn với chư tướng: “Quân giặc nhiều lương, đắp luỹ để làm kế lâu dài. Quân ta ít lương không thể giữ giằng dai được với nó”.(theo Lam Sơn Thực Lục)
Bộ chỉ huy nghĩa quân bèn tính kế nhử Trần Trí dẫn quân khỏi trại để đánh một trận lớn. Quân Lam Sơn theo lệnh Bình Định vương đốt hết doanh trại. Quân ta giả vờ rút đi, nhưng lại ngầm theo đường vòng đi ngược trở lại, đặt mai phục sẵn đón đánh quân Minh. Trần Trí ở trong luỹ trại được tin Lê Lợi đốt doanh trại và lui binh, mừng thầm trong bụng. Trí cho rằng quân Lam Sơn đã hết lương thực và buộc phải rút đi như toan tính của hắn, bèn cho quân đuổi theo, muốn thừa thế truy kích quân ta. Tướng giặc tưởng rằng đã nắm được lợi thế, nào ngờ là lại một lần nữa bị quân ta lừa, trúng vào kế “Điệu Hổ Ly Sơn”.

Quân Minh thuỷ bộ đều tiến gấp, đến gần Bồ Ải thì bắt gặp quân Lam Sơn. Lê Lợi sai quân khinh kỵ đón đánh quân Minh, vờ như là đội quân đi sau chặn hậu. Trần Trí sai quân ứng chiến, đánh nhau một hồi, kỵ binh Lam Sơn quay ngựa rút lui. Trí hăm hở thúc toàn quân đuổi theo, không hay biết mình đã trúng kế hiểm. Đại quân Lam Sơn mai phục dày đặt ở Bồ Ải, chỉ chờ toàn đội hình quân Minh tiến vào, phục binh liền nổi lên tả xung hữu đột. Giữa chốn núi rừng hoang vu, tiếng reo hò của quân Lam Sơn vang lên dậy đất, tiếng chân người ngựa dồn dập, gươm giáo tua tủa lao thẳng vào quân Minh. Hai hổ tướng Lê Sát, Đinh Lễ đánh hăng hái nhất, tranh nhau đi đầu dẫn quân thọc sâu vào hàng ngũ giặc. Các mãnh tướng Phạm Vấn, Lê Bôi, Lưu Nhân Chú, Nguyễn Xí, Lý Triện, Lê Ngân, Lê Khôi… cũng tranh nhau lên trước, cùng quân sĩ từ các hướng đánh tụ lại, quyết tử với giặc, khí thế rất hùng dũng.

Quân Minh không cầm cự nổi trước khí thế đó, trận thế nhanh chóng rối loạn, nối nhau vỡ chạy. Các tướng Minh thúc quân chạy ngược ra sông, nhưng không kịp lên thuyền khi mà mọi ngả đường đều đã do quân Lam Sơn kiểm soát. Quân Minh phần chết trận nơi triền núi, phần bị lùa xuống sông chết. Tình cảnh bi đát của giặc đã được miêu tả lại trong sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư: “Thuyền giặc trôi ngổn ngang, xác chết đuối nghẹn tắc khúc sông, khí giới vứt đầy cả rừng núi”. Tướng tiên phong quân Minh là Hoàng Thành bị chém giết tại trận, Đô ty Chu Kiệt bị quân ta bắt sống. Trần Trí, Sơn Thọ thu thập tàn quân chạy thục mạng về thành Nghệ An. Lê Lợi thúc quân truy kích theo sau, đuổi giặc đến 3 ngày liền. Giặc chết rơi rớt dọc đường rút chạy. Trần Trí, Sơn Thọ cùng một số quân tướng nước Minh may mắn rút kịp vào thành, đắp thêm hào luỹ cố thủ. Kỵ binh Lam Sơn đuổi sát đến chân thành, lập trại dàn quân vây thành.

Bình Định vương Lê Lợi sau trận đại thắng đã dẫn quân tiến xuống được đồng bằng Nghệ An rộng lớn. Theo sách lược Mưu Phạt Tâm Công (đánh vào lòng người), ngài không vội đốc thúc quân sĩ công phá thành Nghệ An mà chủ trương chia quân đi dụ hàng đồn trại giặc ở các châu huyện, ra sức phủ dụ nhân dân. Bấy giờ, quân tướng Lam Sơn đánh trận lâu ngày nơi rừng núi, đói khát gian khổ đã nhiều. Tướng sĩ có người ba ngày trời chưa được một bữa ăn, thế mà vẫn chẳng mảy may xâm phạm đến tài sản của dân. Bình Định vương đã ra quân lệnh: “Nhân dân ta lâu nay đã khốn khổ về chánh trị bạo tàn của người Minh! Vậy quân sĩ đến châu huyện nào, cũng không được xâm phạm của dân một mảy may. nếu không phải là trâu bò thóc gạo của nguỵ quan, thì dù có thiếu thốn cũng không được lấy”. (theo Đại Việt Thông Sử)

Đạo quân nhân nghĩa của Bình Định vương Lê Lợi đã được đền đáp lại xứng đáng. Tại các châu huyện mà quân Lam Sơn đến chiêu dụ, hầu hết quân giặc gồm cả nguỵ binh và quân Minh đều mở cửa quy hàng. Tri phủ châu Ngọc Ma là Cầm Quý lại còn dẫn 8.000 quân bản bộ, 10 thớt voi chủ động đến cửa quân ta xin hàng, Lê Lợi thu nhận, phong cho chức Thái uý. Về phía nhân dân trong các vùng mà quân Lam Sơn đi qua, sự chào đón quân ta rất nồng nhiệt. Từ lúc tin tức quân Lam Sơn tiến quân vào Nghệ An, muôn dân đã hết sức ngóng trông. Đến khi quân ta tiến xuống đồng bằng, người già người trẻ từ khắp các thôn làng đều tranh nhau đem thóc gạo, rượu thịt đến khao quân, dù rằng dân chúng đa phần đều nghèo khổ. Già trẻ đều vui mừng bảo nhau:  “Không ngờ ngày nay lại được trông thấy uy nghi của nước cũ” (theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư). Bình Định vương Lê Lợi đem chia các tặng phẩm của dân chúng cho tướng sĩ, mọi người lại được no đủ mà càng vững lòng đánh giặc. Trai tráng từ khắp nơi trong xứ đều hăng hái xin gia nhập hàng ngũ nghĩa quân. Lê Lợi kén lấy người khoẻ mạnh để dùng.

Quốc Huy

https://1.bp.blogspot.com/-Uz4slrMhmw4/Xm0ERQrnVYI/AAAAAAACN04/K5zbBIyyynEk6dzWIMsZRyD1seeTtIqdwCLcBGAsYHQ/s640/116.jpg

15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Kỳ 117

BỊ LÊ LỢI VÂY KHỔN TRONG 3 THÀNH
QUAN QUÂN NHÀ MINH CHẤN ĐỘNG


Tháng 5.1425, quân Lam Sơn gần như đã làm chủ hoàn toàn đất đai Nghệ An. Tổng binh Trần Trí nước Minh cùng đội quân của hắn đóng chặt cửa thành Nghệ An mà cố thủ chờ viện binh. Bên ngoài thành trì, Bình Định vương cho dựng trại, đắp luỹ vây lấy thành. Nhân dân trong vùng lũ lượt kéo nhau đến cửa quân góp tiền của và xin gia nhập hàng ngũ, đông như trẩy hội.

Tin tức Trần Trí bị vây khốn tại Nghệ An chấn động cả hệ thống quân Minh đô hộ. Từ thành Đông Quan, tướng Lý An tước An Bình bá lệnh gom quân tất cả các thành trì phía bắc, được vài vạn quân, thuyền bè khí giới đều mạnh, kéo nhau vào cứu viện cho Trần Trí. Bấy giờ Lê Lợi đang gấp rút chuẩn bị binh mã đánh thành, hay tin viện binh tới bèn thay đổi kế hoạch. Quân ta rút xa khỏi chân thành Nghệ An, đem ém quân tại sông Quật Giang huyện Đỗ Gia, là tuyến đường mà quân Minh phải đi qua để tiến về phía tây hòng chiếm lại vùng thượng đạo xứ Nghệ. Lý An vào được thành Nghệ An, hội quân với Trần Trí.

Các quân thủ thành lẫn quân tiếp viện của giặc cộng lại đã vượt hẳn quân Lam Sơn về số lượng. Tướng giặc bị vây lâu ngày, nay có quân đông mạnh liền muốn đánh thốc ra lật ngược tình thế. Nhưng hướng hành quân của Trần Trí đã bị bộ chỉ huy quân Lam Sơn sớm đoán biết được. Khi quân Minh đến huyện Đỗ Gia, đang lúc vượt sông Quật Giang thì bị quân ta phục sẵn từ trước đổ ra đánh. Đám quân Minh đi trước bị chém chết hơn 1.000 tên. Số giặc chết đuối còn nhiều hơn mấy lần. Trần Trí, Lý An liền hạ lệnh cho quân chạy ngược trở về thành Nghệ An, càng ra sức đào hào đắp luỹ cố giữ.

Vì tướng giặc trúng mai phục đã nhiều lần nên sinh đa nghi, cho nên trận Đỗ Gia quân Lam Sơn thắng được quân Minh nhưng không được giòn giã như các trận trước. Quân giặc rút kịp về thành vẫn còn rất đông, thành càng khó công phá hơn nữa. Tuy nhiên, việc quân Minh dồn sức cố thủ tại Nghệ An đã mở ra một thời cơ khác cho quân ta. Sau khi bàn bạc cùng các tướng, Lê Lợi nói rằng: “Quân giặc đến hết cả để cứu Nghệ An. Các nơi tất là trống rỗng” (theo Lam Sơn Thực Lục).

Mùa hạ năm 1425, Bình Định vương muốn thừa cơ tiến đánh Diễn Châu và thu phục Thanh Hoá. Trước tiên, sai Đinh Lễ đem quân đi trước đến Diễn Châu phủ dụ nhân dân, vây bức thành trì. Đinh Lễ đến Diễn Châu, dò biết tin 300 thuyền lương của quân Minh do Đô ty Trương Hùng từ Đông Quan sắp đến. Ông đoán rằng quân Minh trong thành sẽ ra đón thuyền lương, nên chưa vội đánh Trương Hùng mà ngầm đặt quân mai phục sẵn gần nơi bến cảng. Ít lâu sau, quả nhiên giặc ở thành Diễn Châu kéo ra như Đinh Lễ tiên liệu. Quân Lam Sơn lặng lẽ chờ giặc lọt vào bẫy, xông ra đánh mạnh, cả phá được. Thiên hộ giặc họ Tưởng và 300 quân bị giết tại trận, số còn lại cố chết chạy về thành Diễn Châu cố thủ. Thừa thắng, Đinh Lễ đem quân đánh Trương Hùng, cướp sạch thuyền lương, đuổi Trương Hùng chạy dài từ Diễn Châu đến tận Thanh Hoá. Trương Hùng chạy kịp đến hội với quân Minh ở thành Tây Đô, đóng trại ngăn chặn quân Lam Sơn.

Đinh Lễ tiến quân đến xứ Thanh Hoá, liệu thế quân ít chưa thể đánh ngay,cho người báo tin về Nghệ An. Lê Lợi được tin, liền sai các tướng Lê Sát, Lý Triện, Lê Bị, Lưu Nhân Chú đem 2.000 tinh binh, 2 thớt voi ngày đêm theo đường tắt đi gấp đến tăng viện cho Đinh Lễ. Quân Minh chỉ lo phòng giữ cánh quân của Đinh Lễ, không hay biết tin tức của cánh quân tiếp viện. Lê Sát cùng các tướng chia quân nửa đêm đánh úp trại giặc, chém hơn 500 tên, bắt sống tù binh rất nhiều. Quân Minh phải chạy vào trong thành Tây Đô mà cố thủ.

Hệ thống kìm kẹp, đô hộ của người Minh tại xứ Thanh Hoá đều bị vô hiệu hoá khi mà lực lượng quân đội giặc bị quân ta vây bức trong thành. Quân Lam Sơn dù thiếu thốn vật chất nhưng đi đến đâu đều theo nghiêm lệnh không động đến tài sản của nhân dân, kể cả những dân sống chung với giặc. Đinh Lễ, Lý Triện chia người phủ dụ nhân dân, không ai là không theo. Người Thanh Hoá trước đã nghe danh Bình Định vương Lê Lợi, nay có dịp đều thi nhau đến cửa quân xin diệt giặc.

Bấy giờ là vào khoảng mùa thu năm 1425, nghĩa quân Lam Sơn chỉ trong khoảng nửa năm đã từ một đội quân chỉ chiến đấu quanh quẩn ở núi rừng tây Thanh Hoá phát triển thành một đội quân đông mạnh, đủ sức bao vây chủ lực quân Minh trong hàng loạt thành trì lớn. Có được điều này một phần là do sự can trường, sức chiến đấu bền bỉ của nghĩa quân, một phân nữa là nhờ sự ủng hộ chân thành, nhiệt tình của nhân dân các xứ. Nhờ vào sự ủng hộ to lớn đó mà quân Lam Sơn có thể tuyển mộ lực lượng tại mọi nơi có dân cư một các rất nhanh chóng. Quân lương, khí giới cũng nhờ vào nhân dân hỗ trợ mà nhanh chóng được sung túc, lại không phải tiếp vận đường xa. Ngoài ra, các tin tức tình báo đều được thông suốt, kịp thời nhờ vào tai mắt của dân, trong khi quân giặc thì luôn mù mờ về tin tức của quân ta. Đó là những lợi thế của một đạo quân giải phóng nhân dân, một đạo quân chính nghĩa mới có được.

Tuy vậy, quân Minh cũng có lợi thế của kẻ cường đạo. Các thành trì mà quân Minh đã xây dựng lên trên lãnh thổ nước ta đều thuộc hàng cứng và chắc, thành cao hào sâu, trên thành thường đặt đại pháo phòng thủ nên rất khó công phá. Quân giặc lại có được lương thực, khí giới, đạn dược dồi dào tích luỹ trong các thành. Bởi thế nên dù liên tiếp thua trận, quân Minh vẫn có khả năng cố thủ trong thành, chờ đợi thời cơ thuận lợi về sau. Bấy giờ, quân Lam Sơn đã vây bức giặc tại ba thành Tây Đô, Diễn Châu, Nghệ An. Nếu Bình Định vương Lê Lợi muốn công phá bất kỳ thành trì nào trong số này đều phải chấp nhận trả giá đắt về nhân mạng.

Trước tình hình đó, Lê Lợi cùng các tướng Lam Sơn đã chủ trương tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu. Lê Lợi đoán biết rằng các thành trì phía nam ở xa cách, mất liên lạc với chính quyền đô hộ đã lâu. Ngài bèn nói với các tướng: “Các vị tướng giỏi thời xưa, thường bỏ chỗ kiên cố mà đánh vào nơi nứt rạn; lánh chỗ xung đột mà đánh vào nơi trống không. Như vậy thì chỉ dùng nửa phần sức lực, mà thu lượm được thành công gấp đôi. Nay hai xứ Thuận Hoá và Tân Bình, mất liên lạc với Nghệ An và Đông Đô đã lâu rồi. Vậy ta nên thừa thời thế tiến đánh hai xứ đó” (theo Đại Việt Thông Sử - Lê Quý Đôn)

Bàn định xong, Lê Lợi phái Tư đồ Trần Nguyên Hãn, Thượng tướng Lê Nỗ, Chấp lệnh Lê Đa Bồ đem 1.000 quân, 1 thớt voi đi kinh lược hai xứ Thuận Hoá, Tân Bình. Sử cũ chép hai từ Kinh Lược, tức là đạo quân Lam Sơn tiến về nam lần này không chỉ có nhiệm vụ chiến đấu đơn độc với quân Minh ở các thành mà còn phải đảm đương nhiệm vụ tuyên truyền, kêu gọi nhân dân cùng đứng lên chiến đấu với nghĩa quân. Các tướng đi đánh Tân Bình, Thuận Hoá không chỉ có năng lực cầm quân đánh trận mà còn phải có khả năng chiêu dụ nhân dân, mộ thêm lực lượng tại chỗ để hoàn thành nhiệm vụ.

Quốc Huy

https://1.bp.blogspot.com/-ZwCQeqKLPWg/XoRYA1EQ3QI/AAAAAAACN7c/pZutEeAL91s669j8R-NRsJ2FNiAhXdfPgCLcBGAsYHQ/s640/117.jpg

15.00
Chia sẻ trên Facebook

Trang trong tổng số 31 trang (306 bài viết)
Trang đầu« Trang trước‹ ... [9] [10] [11] [12] [13] [14] [15] ... ›Trang sau »Trang cuối