Trang trong tổng số 11 trang (103 bài viết)
Trang đầu« Trang trước‹ ... [8] [9] [10] [11]

Ảnh đại diện

Poet Hansy

Kỳ  98

ĐẶNG DUNG, CẢNH DỊ DÙNG BINH
BẮT NHÀ MINH TRẢ GIÁ ĐẮT


Như đã nêu ở những kỳ trước đây, cuộc chiến dai dẳng giữa nước Minh và dân tộc Việt đầu thế kỷ 15 không chỉ là nỗi bất hạnh lớn cho nhân dân ta, mà còn đem lại những tổn thất to lớn cho chính bên gây chiến chính là nước Minh. Bất chấp những tổn thất, vua Minh Thành Tổ (hay còn gọi là Minh Thái Tông) Chu Đệ vẫn liên tiếp điều quân tiếp viện để duy trì nền đô hộ. Vì sao vua nước Minh lại không thể từ bỏ khi mà nhân tâm bất phục, lợi ích từ việc đô hộ không bù nổi thiệt hại và còn khiến vấn đề Đại Việt trở thành mối lo lâu dài tiềm ẩn nguy cơ cho cả đời vua kế nhiệm ? Ắt hẳn đó không đơn thuần đến từ lợi ích. Có một thứ còn lớn hơn mà Chu Đệ rất sợ mất đi, đó chính là uy danh. Chính chữ Danh đã khiến vị vua này bất chấp hy sinh tính mạng quân tướng của mình và sẵn sàng tiêu diệt cả giống nòi người Việt nếu cần. Từ bỏ Đại Việt để rút quân về nước, đối với Chu Đệ chính là một sự thừa nhận rằng hắn đã sai lầm và thất bại. Tên bạo chúa với tính cách cố chấp, ngông cuồng không bao giờ dám đối diện với điều đó.

Tháng 4.1411, trong lúc tại nước Minh, đội quân tăng viện dưới trướng Trương Phụ đang ráo riết chuẩn bị mọi thứ để tiến sang nước ta, Chu Đệ cho ban thưởng hậu hĩnh cho các nguỵ quan và xuống chiếu khích lệ tinh thần bọn tay sai bằng những lời có cánh: “Các ngươi tài năng khôi kiệt, tư chất đôn hậu, sáng suốt nhìn xa, trước đã thành tâm gắng sức, tận trung với triều đình, nghĩ tới công lao của các ngươi, đặc ân thăng cho chức vụ vinh hiển. Nay nghe các ngươi biết làm tròn nghĩa vụ, dốc sức lập công, bắt giết bọn phản nghịch, giữ vững đất đai, nghĩ đến lòng trung thành ấy, xiết nỗi vui mừng khen ngợi. Hiện nay, bọn giặc còn sót chưa dẹp yên hết, các ngươi hãy lập thêm nhiều công, ra sức quét sạch bọn chúng để tiếp nối công tích trước đây. Ta đặc cách sai người sang uý lạo ban thưởng. Các ngươi hãy kính cẩn phục tùng mệnh lệnh ân sủng này”. (theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư)

Qua những việc trên mà Chu Đệ đã làm cho thấy, hắn đã cùng lúc thực hiện cả hai chính sách lớn. Đó là chính sách dùng người Việt đánh người Việt để giúp duy trì sự kiểm soát trên lãnh thổ chiếm đóng, kế đến là chính sách sử dụng quân đội chính quy đông mạnh từ nước Minh tiến sang để tấn công dứt điểm nhà Hậu Trần và các phong trào khởi nghĩa khác.

Tháng 5.1411, Trương Phụ đem quân tiến vào địa phận nước ta, vào thành Đông Quan hội quân với Mộc Thạnh. Đến đây, Trương Phụ lại thay Mộc Thạnh nắm quyền chủ soái, còn Mộc Thạnh làm phó soái. Quân Minh đêm này cho người dò la tin tức và bàn bạc kế hoạch tấn công.Quân Minh lần này cũng sử dụng lực lượng lớn thuỷ quân. Trong các kế hoạch hành quân, giặc chủ yếu di chuyển bằng thuyền dọc các con sông. Công việc chuẩn bị của quân Minh lần này rất công phu.Các lực lượng nguỵ quan, nguỵ binh được lệnh đóng chiến thuyền, làm đồn điền cung cấp quân lương cho đạo quân viễn chinh nước Minh. Từ giữ năm 1411 cho đến mùa hạ năm 1412, quan tướng nước Minh ra sức bắt nhân dân vùng Kinh lộ phục dịch, góp lương thảo để nuôi quân vô cùng khổ sở.

Điều này hoàn toàn trái ngược với những lời hứa trong các chiếu chỉ của vua Minh chỉ mới cách đó không lâu. Hoàn toàn không có sự tốt đẹp nào mà chính quyền đô hộ dành cho nhân dân ta, chỉ có thực tế là những việc bắt giết, đàn áp, bóc lột thậm tệ. Sách Việt Sử Tiêu Án của Ngô Thì Sĩ bình luận về sự trái ngược trong lời lẽ của vua Minh và hành động của quan tướng nước Minh đối với dân ta như sau: “Người Minh thống trị nước ta, tự nghĩ có thể lấy oai lực mà áp chế được. Nhưng từ tháng 5 năm Đinh Hợi bắt được Hồ (Quý Ly) rồi, tháng 10 vua Giản Định lại lên ngôi, nối đến là vua Trùng Quang. Trong 5 - 6 năm, chiến tranh không thôi, mới biết là khó bình được. Bấy giờ mới cầm quyền ban chiếu sắc, nghĩ cách uý dụ dân. Nhưng mà Trương Phụ đi đến đâu, dữ hơn hổ cái. Hoàng Phúc ra mệnh lệnh rối như lông lươn. Vua Minh ở xa cách, không biết dân thuộc quốc khốn khổ đến thế, bảo sao mà dân chả nhớ nước cũ, mà coi người Minh là cừu thù”.

Lời bàn của Ngô Thì Sĩ quả xác đáng với bối cảnh lúc bấy giờ. Nhưng riêng việc vua Minh không biết rằng dân ta khốn khổ thì không hẳn là đúng. Việc nhân dân ta có khốn khổ hay không, kỳ thực đó chỉ là mối quan tâm thứ yếu đối với Chu Đệ. Cái hắn quan tâm chính là nhân dân ta có phục tùng hay không.

Việc tập trung nguồn lực của Trương Phụ cũng không hề dễ dàng mà bị chậm tiến độ do các sự chống đối của nhân dân. Trước khi Trương Phụ kéo quân sang, tại các vùng trung du, rừng núi hiểm trở vẫn còn tồn tại những đội nghĩa quân tự phát thường xuyên là mối đe doạ với quân đồn trú nước Minh. Đến khi Trương Phụ sang, bóc lột nhân dân tàn tệ. Mọi người vì thế mà căm phẫn, dù bị kìm kẹp gắt gao nhưng vẫn chực chờ cơ hội vùng lên.
Tháng 7.1411, Trương Phụ mở chiến dịch lớn tiến đánh nhà Hậu Trần. Từ Đông Quan, quân Minh chia làm hai đạo thuỷ bộ. Đạo thuỷ binh là lực lượng chính dưới quyền chỉ huy của Trương Phụ. Mộc Thạnh chỉ huy cánh bộ binh. Mục tiêu của hai cánh quân Minh là tấn công đánh lấn nhanh về phía nam, giành quyền kiểm soát vùng Thanh Hoá rồi từ đó làm bàn đạp đánh xuống Nghệ An, bắt vua Trùng Quang đế.

Trương Phụ bị quân Hậu Trần dưới sự chỉ huy của hai tướng Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị đánh cầm chân ở Trường Yên. Quân Minh vừa vất vả tháo dỡ đá mà quân ta đã lấp sông, nhổ cọc khơi nguồn vừa phải chống đỡ với các đội quân mai phục, tập kích đánh tỉa. Trương Phụ tiến rất chậm, tổn thất một lực lượng đáng kể. Đến cửa Thần Phù, Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị lại tung quân đánh một trận nữa, cố gắng tiêu hao lực lượng giặc trước khi cho quân rút lui về Thanh Hoá bảo toàn lực lượng, lập trận địa mới. Cánh quân bộ của Mộc Thạnh thì bị trúng mai phục của Nguyễn Suý ở đèo Tam Điệp. Quân Minh tổn thất không nhỏ, nhưng vẫn đủ lực lượng vượt qua được. Nguyễn Suý sau đó cũng lui về Thanh Hoá hội quân với các tướng khác.

Quân Minh tiến vào Thanh Hoá vào tháng 8.1411. Hai cánh quân của giặc tập kết, dồn sức tổng lực đánh vào cứ điểm phòng thủ của quân Hậu Trần tại sông Nguyệt Thường (hạ lưu sông Mã). Tại đây, các tướng Hậu Trần là Nguyễn Suý, Nguyễn Cảnh Dị, Đặng Dung, Hồ Cụ … cũng gom hết quân để cùng nhau phòng thủ. Ban đầu, Trương Phụ dùng cánh đánh vỗ mặt, bị nghĩa quân dựa vào phòng tuyến chống trả quyết liệt. Hai bên đánh nhau liên tiếp mấy ngày trời bất phân thắng bại. Sau đó, Trương Phụ mới theo phép “đông hơn hai lần thì phân ra”, lệnh cho Đô đốc Chu Quảng, Đô chỉ huy Trương Thắng, Du Quảng cứ dẫn chiến thuyền theo dòng sông mà tiến đánh, bất chấp chướng ngại vật và thiệt hại từ cung tên, súng đạn của quân ta. Mộc Thạnh dẫn quân kỵ bộ tấn công mạnh vào một hướng khác. Còn Trương Phụ dẫn quân men theo đường rừng, đi vòng đánh vào mặt sau trận địa của quân Hậu Trần.

Quân ta đang cố sức đánh trả mặt trước, lại bị Trương Phụ bất ngờ tấn công từ mặt sau, thế trận bỗng chốc trở nên bất lợi. Thấy quân Minh ba mặt giáp công, các tướng cùng nhau gấp rút hạ lệnh rút quân, nhanh chóng thoát khỏi thế bị bao vây. Rốt cuộc quân Minh phá được tuyến phòng ngự Nguyệt Trường, với một cái giá rất đắt. Những cánh nghi binh của quân Minh bị quân phòng thủ của ta gây thiệt hại nặng,  xác giặc nằm la liệt khắp chiến trường, trôi lềnh bềnh dưới sông. Quân Hậu Trần trong trận tổn thất hơn 400 quân, mất nhiều chiến thuyền. Các tướng Hậu Trần là Đặng Tôn Mục, Lê Đức Di, Nguyễn Trung bị giặc bắt.

Thắng trận tại Nguyệt Trường, nhưng Trương Phụ chẳng thể tiếp tục cuộc tấn công. Bởi vì khi quân Minh rời Đông Quan tiến xuống phía nam, thì hào kiệt vùng Kinh lộ (trung tâm đồng bằng sông Hồng) đã thừa cơ vùng lên đánh phá khắp nơi. Lê Nhị, Phạm Khảng ở Thanh Oai, uy hiếp Đông Quan từ mặt đông nam. Nghĩa quân Ông Lão ở Thái Nguyên, trước bị quân Minh bức bách, nay lại có dịp hoạt động mạnh trở lại. Ông Lão lãnh đạo nghĩa quân tiến đánh Cổ Lũng (Lạng Sơn), Động Hỷ, Tư Nông (Thái Nguyên)… uy hiếp Đông Quan từ hướng bắc. Quan tướng Minh ở thành Đông Quan phải biên thư cáo gấp. Trương Phụ không thể dứt điểm được nhà Hậu Trần trong một sớm một chiều, mà Đông Quan lại đang nguy cấp. Sau khi cân nhắc, hắn phải cùng Mộc Thạnh đem đại quân rút nhanh về cứu thành Đông Quan. Thế trận bỗng chốc đảo chiều. Rõ ràng chiến cuộc tại Đại Việt không chỉ có quân Minh và nhà Hậu Trần. Quân giặc thực sự đã phải đương đầu với cả một dân tộc.

Quốc Huy

https://1.bp.blogspot.com/-DqwBWO2p6hM/XSsuc0BP2XI/AAAAAAACIh0/iMSEdorUqqonD35BdlOigmprswIeLJWgQCLcBGAs/s640/98.jpg

15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Kỳ 99

QUÂN MINH SA LẦY
VUA TRẦN SAI 3 ÔNG TƯỚNG RA TRẬN


Nửa cuối năm 1411, Trương Phụ phải bỏ dở giữa chừng chiến dịch đánh diệt nhà Hậu Trần để đem quân về cứu thành Đông Quan đang bị các toán quân khởi nghĩa uy hiếp. Điều này đã giúp nhà Hậu Trần được giải vây, nhưng gánh nặng là dồn sang các lực lượng khởi nghĩa ở phía bắc. Bấy giờ Lê Nhị xưng là Long Hổ tướng quân Đại đô đốc, lãnh đạo quân dân mở chiến dịch công phá thành Đông Quan. Lê Nhịvới đạo quân 5.000 người tiến đến ngay sát cạnh Đông Quan thì đã bị một lực lượng quân Minh áp đảo tuyệt đối dưới sự chỉ huy trực tiếp của Trương Phụ từ phía nam trở về tiến đánh dữ dội. Nghĩa quân đã chiến đấu rất anh dũng nhưng không chống nổi do tương quan quá chênh lệch.

Hơn 1.500 nghĩa sĩ đã hy sinh trong trận chiến, một số tan rã hàng ngũ. Lê Nhị trúng tên tử trận. Tướng dưới trướng ông là Phạm Khảng cùng số tàn quân còn lại kịp rút lui, kéo nhau vào rừng núi lẩn trốn. Đánh tan quân của Lê Nhị rồi, Trương Phụ sai tướng đánh thốc lên phía bắc thành Đông Quan, hòng tiêu diệt nghĩa quân Ông Lão. Liệu sức không thể đối đầu ngay với giặc, Ông Lão cho thu quân rút vào rừng sâu, chia nhỏ lực lượng chực chờ quân Minh rút đi thì lại đánh phá các đồn trại của bọn nguỵ quan. Các hoạt động này khiến quân Minh mất rất nhiều thời gian đánh dẹp.

Cũng trong năm 1411, hàng loạt cuộc khởi nghĩa khác trên khắp vùng miền bắc đã khiến quân Minh vô cùng vất vả đối phó. Nhà Hậu Trần cũng hành động để phối hợp với các thủ lĩnh nghĩa quân. Đặng Dung, Nguyễn Suý cùng các tướng Hậu Trần khác là Tôn Nhân, Trần Lỗi đem thuỷ quân vượt biển ra bắc đánh vào Vân Đồn, Hải Đông để cướp lương thực, hỗ trợ và cổ vũ nhân dân vùng đồng bằng sông Hồng càng nô nức giết giặc.Thành Đông Quan gần như lọt thỏm giữa muôn trùng vây các cuộc khởi nghĩa. Mặc dù các toán quân khởi nghĩa lần lượt bị đàn áp do rời rạc thiếu đồng bộ, nhưng cũng đã khiến cho hàng ngàn quân Minh bỏ thây. Và nhất là, khiến cho mục tiêu sớm bình định Đại Việt của vua Minh thất bại.

Trương Phụ càng đánh nhiều, thắng nhiều thì càng khiến cho sự chống đối càng thêm dữ dội. Quân Minh không có năng lực để diệt chủng toàn bộ nhân dân Đại Việt cũng như hoàn toàn tiêu diệt các lực lượng nghĩa quân, nên phải duy trì lực lượng nguỵ quân, nguỵ quan để chia sẻ gánh nặng với quân viễn chinh người Minh và khiến người Việt bị chia rẽ. Nhưng rồi chính trong lực lượng tay sai đó cũng xuất hiện những người chống đối, vì rằng nhiều người trong số họ cũng bị lừa dối và ép buộc. Sách Bình Định Giao Nam Lục của người Minh phải viết: “Vì rằng trong những quân vệ châu huyện mới đặt, người Giao Châu nhiều, xưa nay vốn ở ngoài vòng thanh giáo (!?), ưa thích phóng túng, không chịu nổi sự sách nhiễu của quan lại, tướng sĩ. Họ thường nhớ tục cũ, mỗi khi nghe giặc nổi lên là cùng hưởng ứng, tướng giặc đến đâu là được chúng cung ứng, giấu giếm. Cho nên giặc tan rồi lại hợp…”

Đầu năm 1412, tại Thái Nguyên, viên phụ đạo là Nguyễn Nhuế khởi binh đánh phá quân Minh. Tình hình nghiêm trọng buộc Trương Phụ phải đích thân dẫn quân đi đánh mới dẹp được. Để có được một vùng Kinh lộ tạm yên ổn làm bàn đạp tiến về phía nam, Trương Phụ phải mất hơn nửa năm trời. Quãng thời gian này là ngắn hay dài? Chúng ta cần biết rằng, thời trước quân Tống chỉ bị cầm chân ở Như Nguyệt 2 tháng trời mà cạn kiệt lương thực, phải rơi vào cảnh khốn đốn. Quân Nguyên Mông chưa bao ở nước ta được tới nửa năm, lại phải thường xuyên cướp bóc vơ vét lương thực trong dân mà cũng lâm vào cảnh đói khát. Vậy nên, việc quân Minh loay hoay phá vòng vây quanh Đông Quan là một sự sa lầy trầm trọng. Chiến sự liên miên bào mòn quốc lực của nước Minh, và càng khiến quân Minh tăng cường vơ vét bóc lột nhân dân ta ở vùng chúng chiếm đóng. Chiến tranh là một cái vòng lẩn quẩn điên rồ, nơi mà những kẻ tham tàn ném quân dân cả hai bên vào chỗ khổ sở, chết chóc.

Tuy nhiên, dựa vào việc được cung cấp nhân lực, vật lực liên tục từ nước Minh và việc lập đồn điền cho nguỵ quân sản xuất lương thực, quân Minh đã giải quyết được khó khăn về hậu cần. Trương Phụ sai quân tấn công đội thuỷ quân của Nguyễn Suý đang hoạt động ở ven biển vùng Hải Đông (Quảng Ninh, Hải Phòng ngày nay), giành được thắng lợi. Quân dưới trướng Nguyễn Suý bị hao tổn đến quá nửa, các tướng phải cho lui quân về Nghệ An. Không có sự hậu thuẫn của quân Hậu Trần, phong trào khởi nghĩa cũng tạm thời lắng xuống. Đến giữa năm 1412, Trương Phụ đã bắt đầu mở chiến dịch mới tiến về phía nam, tiếp tục công việc đàn áp nhà Hậu Trần, chỗ dựa của toàn bộ phong trào kháng Minh thời bấy giờ.

Tháng 7.1412, Trương Phụ và Mộc Thạnh đem đại binh từ Đông Quan vào đánh Nghệ An, với mục tiêu là nhanh chóng tiêu diệt nhà Hậu Trần. Quân Minh vấp phải sự kháng cự mạnh mẽ của quân Hậu Trần tại vùng Trường Yên (Ninh Bình). Tại đây, vua Trùng Quang sai ba tướng giỏi nhất của mình là Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị, Nguyễn Suý đón đánh. Về sau, phò mã Hồ Bối cũng được lệnh đem quân tăng cường. Tuy nhiên, lực lượng quân Hậu Trần vẫn ít hơn quân Minh rất nhiều. Chẳng những vậy, cả quân lẫn tướng giặc đều tinh nhuệ, nhiều tên dày dặn kinh nghiệm. Quân ta dùng kế chia quân đánh tỉa, cốt làm chậm nhịp tiến quân của giặc. Trương Phụ phải mất nhiều thời gian ở Trường Yên. Dù vậy, là một tướng lão luyện, Phụ vẫn giữ được phần đông lực lượng trước sự đánh phá của quân Hậu Trần, lầm lũi từng bước một tiến dần về phương nam.

Đầu tháng 9.1412, quân Minh và quân Hậu Trần đánh nhau một trận lớn. Nguyễn Suý, Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị cùng nhau chia quân bày trận ở Mô Độ - huyện Yên Mô. Quân Hậu Trần tập trung lực lượng chặn cửa biển Thần Phù, nơi sông Đáy đổ ra biển. Thuỷ quân ta có khoảng 400 chiến thuyền, bộ binh có vài ngàn quân mai phục trên bờ chờ đánh bộ binh của giặc. Cửa biển Thần Phù là vị trí mà quân Minh phải đi qua để vượt biển tiến đánh Nghệ An, nơi mà Trùng Quang đế đóng đại doanh.

Do vị trí chiến lược quan trọng mà binh thuyền do ba tướng Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị, Nguyễn Suý nắm giữ cũng là lực lượng mạnh nhất mà Trùng Quang đế có thể điều động được vào lúc đó. Dẫu rằng lực lượng này vẫn thua kém quân của Trương Phụ, Mộc Thạnh, nhưng nhà Hậu Trần cố gắng trông cậy vào địa lợi. Nơi mà quân ta lựa chọn để đặt trận địa đón đánh giặc là nơi đường hẹp lầy lội, nhằm hạn chế tối đa sức mạnh kỵ binh của giặc.Ngày 6.9.1412, Trương Phụ đem binh thuyền tiến đển cửa biển, cùng quân Hậu Trần giao chiến một trận đẫm máu.

Quốc Huy

https://1.bp.blogspot.com/-k5ZnkkMoYK0/XUd3ttI5t8I/AAAAAAACIko/2O4i86K4F0UCjG-Ffg7MzaevdMbnc6GmwCLcBGAs/s640/99.jpg

15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Poet Hansy

Kỳ 100

NHÀ MINH NỂ SỢ ĐẶNG DUNG
NẾU CÒN ĐẶNG TẤT GIẶC SẼ TAN


Trận Mô Độ là một trong những trận đánh lớn nhất trong giai đoạn nhà Hậu Trần chống quân Minh. Vua Trùng Quang coi vùng Trường Yên như một tuyến phòng thủ từ xa để bảo vệ căn cứ địa, nên đã điều động những lực lượng ưu tú nhất mà mình có để chiến đấu tại vùng này. Về phần các tướng lĩnh Hậu Trần, việc lựa chọn quyết chiến tại vùng cửa biển, địa hình phức tạp giúp cho quân HậuTrần có thể hạn chế tối đa sở trường của giặc. Thế nhưng quân Minh là một đạo quân khá toàn diện về các binh chủng. Mặc dù kỵ bộ vẫn là sở trường của quân Minh cũng như các quân đội phương bắc, thuỷ quân của giặc cũng khá tinh nhuệ, và nhất là được trang bị các thuyền chiến tốt, có lợi thế về quân số so với quân ta.
1.
Diễn biến trận Mô Độ

Ngày 6.9.1412, sau những ngày dài vừa hành quân vừa quần nhau với quân Hậu Trần, quân Minh dưới sự chỉ huy của Trương Phụ, Mộc Thạnh, Phương Chính… tiến đến dọc sông Đáy, nhằm hướng cửa biển Thần Phù, thuộc Mô Độ, Yên Mô, Trường Yên để ra biển. Quân Hậu Trần với lực lượng gồm 400 chiến thuyền, dưới quyền chỉ huy của các tướng Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị, Nguyễn Suý, Hồ Bối… đã bày sẵn thuỷ trận trên sông đón đánh. Nhác trông thấy thuyền của quân ta, Trương Phụ với lực lượng mạnh trong tay, không ngần ngại sai Đô chỉ huy Phương Chính dẫn đội thuyền tiên phong hàng trăm chiếc hùng hổ xáp lại, còn Phụ thì tiến sau với đội thuyền chủ lực. Kỵ binh quân Minh vốn vẫn hành quân ven bờ để hộ tống hạm đội chủ lực, nay không thể theo kịp vì địa hình địa vật phức tạp trên đường ra cửa biển. Dù vậy, Trương Phụ vẫn tự tin với hạm đội của mình.

Bấy giờ gió bắc đang thổi, thuyền giặc có lợi về hướng gió. Thời kỳ này, các chiến thuyền vẫn dùng buồm để tận dụng gió làm tăng tốc độ của thuyền bên cạnh các tay chèo. Quân Hậu Trần không vội giao tranh, mà cũng xuôi theo chiều gió chèo ngược ra hướng cửa biển. Hai đoàn thuyền lướt nhanh rượt đuổi nhau. Quân Hậu Trần vừa ra đến cửa biển thì theo kế sách tản ra thành ba đội. Trong thời khắc đó, phần lớn hạm đội quân Minh vẫn còn ở trong sông, không gian chật hẹp hơn nên không thể dàn trận hết được, mà đội hình các thuyền vẫn đang nối đuôi nhau thành những hàng dài. Đó là tính toán rất lợi hại của tướng lĩnh Hậu Trần. Lúc này, quân Hậu Trần đã hình thành thế trận lấy ít vây nhiều. Chỉ có như vậy, quân Hậu Trần mới có cơ hội đánh thắng quân Minh vượt trội hơn cả về trang bị lẫn quân số, lại đang ở thế thượng phong (từ trên gió đánh xuống).

Khi thế trận đã hình thành như dự kiến, Đặng Dung hạ lệnh toàn quân quay thuyền lại đánh. Thuỷ quân Hậu Trần rất tinh nhuệ, cùng quân Minh đánh nhau dữ dội. Khắp vùng biển vang rền tiếng súng từ hai phía. Cuộc đấu pháo giữa các thuyền xen lẫn với những màn giáp chiến. Thuỷ quân ta dùng câu liêm móc vào thuyền giặc, nhảy lên thuyền đánh xáp là cà. Gươm giáo tua tủa vang động khắp chiến trường. Nguyễn Suý đốc suất một nhánh quân chiếm lĩnh chỗ đất ven bờ, từ trên bộ bắn tên và đạn pháo hỗ trợ cho thuỷ quân ta diệt giặc. Quân ta khiến đội thuyền tiên phong của Phương Chính bị thiệt hại nặng nề. Trương Phụ phải tự mình lên tuyến đầu, đốc thúc quân lính liều chết mà xông lên. Quân Minh cũng chia làm ba mặt, cố sức đánh thốc ra biển. Thuyền giặc to lớn, nhân hướng gió thuận chèo nhanh đâm thẳng vào thuyền của quân ta, hễ chiếc trước chìm vỡ thì chiếc sau lại xông tới.
Bấy giờ bên quân Hậu Trần thì dựa vào địa lợi, bên quân Minh dựa nhờ vào thiên thời.

Đồng bình chương sự Đặng Dung là vị tướng dũng mãnh nhất trong quân Hậu Trần, không quản gian lao cùng các binh sĩ chiến đấu với giặc ngay ở tuyến đầu, xông pha giữa trận, ai chống là chết. Thấy chủ tướng gan dạ như thế, nhuệ khí của quân Hậu Trần càng dâng cao, khiến cho quân Minh khốn đốn, trận thế bắt đầu rối loạn. Trương Phụ cũng chẳng phải dạng vừa, quyết không để Đặng Dung mặc sức tung hoành. Chủ tướng quân Minh thấy thế quân mình chùn xuống, cũng dẫn các cận vệ, thuộc tướng bên cạnh xông lên trước, mặt giáp mặt với cánh quân của Đặng Dung, hai bên đều liều chết đánh nhau bất phân thắng bại.

Trong khi cánh quân của Đặng Dung chiến đấu vô cùng dũng cảm thì bước ngoặc quyết định của trận chiến lại đến từ hướng khác. Các tướng Nguyễn Cảnh Dị, Nguyễn Suý, Hồ Bối cầm cự với quân Minh hồi lâu, bị giặc công kích dữ dội. Trương Phụ sai một cánh quân đổ bộ đi xuyên qua rừng nứa, nửa đêm đánh vào khối quân của Nguyễn Suý. Vì thiếu phòng bị, Nguyễn Suý không chống nổi, đơn phương hạ lệnh cho quân mình xuống thuyền rút lui khỏi trận. Đây là một quyết định làm thay đổi toàn bộ cục diện trận chiến. Nguyễn Cảnh Dị thấy cánh quân Nguyễn Suý rút, cũng cho quân rút theo. Vòng vây mà quân Hậu Trần đã dày công toan tính bỗng chốc bị thủng hai mảnh lớn. Thuyền quân Minh từ trong sông thừa thế tràn ra khắp mặt biển, hình thành thế bao vây ngược lại.

Bấy giờ đội thuyền dưới trướng phò mã Hồ Bối còn đang chiến đấu ở gần trong nội thuỷ, phút chốc bị thuyền quân Minh dày đặc vây quanh, che cả lối thoát ra biển. Thấy thế không thể thủ thắng nổi nữa, Hồ Bối nhanh trí lệnh cho quân mình bỏ thuyền lên bờ, rút lui theo đường rừng. Quân Minh không đuổi theo các hướng quân Hậu Trần rút lui mà dồn hết lực lượng nhắm vào khối quân của Đặng Dung mà đánh diệt. Đặng Dung cùng các chiến sĩ dưới trướng bị đồng đội bỏ rơi lại, đơn độc chiến đấu giữa muôn trùng vây quân Minh.

Giữa tình cảnh thập tử nhất sinh, Đặng Dung cùng thuộc hạ chỉ còn cách liều chết mở một con đường máu phá đột phá vòng vây, thoát ra biển để rút về phương nam theo đồng đội. May thay, vòng vây của quân Minh vẫn chưa thể khép kín ngay được mà vẫn còn những khoảng trống phía ngoài mặt biển. Đặng Dung cùng quân sĩ tả xung hữu đột, rốt cuộc cũng thoát được ra biển mà rút về nam. Trương Phụ đắc thắng thúc quân giương buồm đuổi theo truy kích sát rạt, dùng câu liêm móc các thuyền quân ta lại để đánh giết. Đặng Dung phải dùng thuyền nhẹ chèo nhanh để thoát. Quân sĩ dưới trướng Dung vốn đã mệt mỏi vì trận chiến, vừa xả thân đánh chặn cho chủ tướng vừa rút theo sau. Nhiều người ngã xuống dọc đường rút khỏi trận địa, tình cảnh vừa bi vừa hùng. Sau hồi truy đuổi, Trương Phụ hạ lệnh thu quân để tổ chức lại lực lượng trước khi tiếp tục cuộc tiến công vào Thanh Hoá, Nghệ An.
2.
Kết quả và nhận định

Trận này diễn ra từ sáng sớm ngày 6.9 đến tận trưa ngày 7.9.1412, đánh liên tục không ngừng nghỉ. Quân Hậu Trần bị thiệt hại hàng ngàn quân, nhiều thuyền bị đắm và bị giặc cướp. Minh Thực Lục chép rằng có hơn 1.000 quân và 75 tướng Hậu Trần bị bắt trong trận. Trong số đó có những tướng lĩnh cao cấp là Dực vệ Đại tướng quân Trần Lỗi, Long hổ Tướng quân Đặng Nhữ Hý, tướng Lê Mục, tướng Nguyễn Lâm… Về thiệt hại của quân Minh không có sách sử nào thống kê cụ thể, nhưng qua diễn biến gay cấn có lẽ cũng không dưới con số hàng ngàn. Một điều may mắn cho nhà Hậu Trần là phần nhiều quân ta vẫn thoát khỏi trận địa sau cuộc ác chiến, khiến cho kế hoạch đánh nhanh diệt gọn chủ lực nhà Hậu Trần của Trương Phụ không thực hiện được.

Trận Mô Độ có thể nói là một trận đánh mà quân Hậu Trần thể hiện cả những mặt ưu việt nhất cũng như những điểm yếu cố hữu của mình. Có thể thấy rằng, quân ta có tinh thần và kỷ luật rất cao, kỹ năng chiến đấu rất tốt. Đến cả sử nước Minh cũng phải công nhận “khí thế giặc rất tinh nhuệ”. Dù vậy, điểm yếu của quân Hậu Trần là họ không có một nền tảng cơ bản trong hiệp đồng tác chiến, thiếu các phương án dự phòng nên khi phối hợp với nhau trên chiến trường thì các tướng hành động không thống nhất. Trong khi người này đang quyết tử chiến, thì người kia lại muốn rút lui bảo toàn lực lượng. Khi lâm trận, các cánh quân cách nhau ngoài khoảng nghe thấy tiếng chiêng trống là hầu như mạnh tướng nào nấy đánh.

Sâu xa hơn, quân đội Hậu Trần bấy giờ thiếu một vị tổng chỉ huy có uy tín vượt trội để điều hành toàn bộ các tướng quân khác. Trong sách sử thường ghi chép về quân của Trùng Quang khi đánh lớn thường được chỉ huy bởi ba bốn tướng soái. Nghe qua có vẻ đông đúc, nhưng kỳ thực là thiếu chỉ huy chung nhất. Các tướng chỉ huy như một hội đồng, có lợi khi thảo luận kế hoạch nhưng thiếu đi sự linh hoạt trong tác chiến. Điều này khác với thời mà Đặng Tất còn tại thế. Lúc đó, ông là người có uy tín để chỉ huy toàn bộ quân tướng, giống như Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt thưở trước. Quân Hậu Trần lúc đó muôn người như một, hành động nhất quán như tay chân trong cơ thể. Đó là điều mà quân Hậu Trần dưới thời vua Trùng Quang không có được.

Quân Minh sau khi thắng trận, tràn vào Thanh Hoá như thác lũ. Trương Phụ đi đến đâu là đánh giết tàn bạo. Quân Hậu Trần thì rút về Diễn Châu, Nghệ An sốc lại lực lượng, quyết tâm chiến đấu đến cùng với giặc dữ.

Quốc Huy

https://1.bp.blogspot.com/-2sUHGVOgCPI/XVoLsd0ceYI/AAAAAAACIm4/30j9llVIP9UDlXVxHO2aPqb0YBPukfkkwCLcBGAs/s640/100.jpg

15.00
Chia sẻ trên Facebook

Trang trong tổng số 11 trang (103 bài viết)
Trang đầu« Trang trước‹ ... [8] [9] [10] [11]