24.50
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Phú
Thời kỳ: Hán
4 bài trả lời: 4 bản dịch
2 người thích

Đăng bởi Vanachi vào 05/11/2008 10:08

悲歌散楚

九月深秋兮,四野飛霜,
天高水涸兮,寒雁悲愴。
最苦戎邊兮,日夜徬徨,
披肩執銳兮,骨慄沙崗。
離家十年兮,父母生別,
妻子何堪兮,獨宿孤房。
雖有腴田兮,誰與之守,
鄰家酒熟兮,孰與之嚐。
白髮依門兮,望穿秋水,
稚子憶念兮,淚斷肝腸。
胡馬嘶風兮,尚知戀土,
人生客久兮,寧忘故鄉。
一旦交兵兮,踏刃而死,
骨肉為泥兮,衰草濠梁。
魂魄悠悠兮,枉知所倚,
壯志寥寥兮,付之荒唐。
當此永夜兮,追思退省,
及早散楚兮,免死殊方。
我歌豈誕兮,天譴告汝,
汝其知命兮,勿謂渺茫。
漢王有德兮,降軍不殺,
哀告歸籍兮,放汝翱翔。
勿守空營兮,糧道已絕,
指日擒羽兮,玉石俱傷。
楚之聲兮,散楚卒,
我能吹兮,協六律。
我非胥兮,品丹陽,
我非鄒兮,歌燕室。
仙音徹兮,通九天,
秋風起兮,楚亡日。
楚即亡兮,汝焉歸?
時不待兮,如電疾。
歌兮歌兮三百字,
字字句句有深意。
望汝莫作等閒看,
入耳關心,你們牢牢地謹記。

 

Bi ca tán Sở

Cửu nguyệt thâm thu hề, tứ dã phi sương,
Thiên cao thuỷ hạc hề, hàn nhạn bi thương.
Tối khổ nhung biên hề, nhật dạ bàng hoàng,
Phi kiên chấp nhuệ hề, cốt lật sa cương.
Ly gia thập niên hề, phụ mẫu sinh biệt,
Thê tử hà kham hề, độc túc cô phòng.
Tuy hữu du điền hề, thuỳ dữ chi thủ,
Lân gia tửu thục hề, thục dữ chi thường.
Bạch phát y môn hề, vọng xuyên thu thuỷ,
Trĩ tử ức niệm hề, lệ đoạn can trường.
Hồ mã tê phong hề, thượng tri luyến thổ,
Nhân sinh khách cửu hề, ninh vong cố hương.
Nhất đán giao binh hề, đạp nhẫn nhi tử,
Cốt nhục vi nê hề, suy thảo hào lương.
Hồn phách du du hề, uổng tri sở ỷ,
Tráng chí liêu liêu hề, phó chi hoang đường.
Đương thử vĩnh dạ hề, truy tư thoái tỉnh,
Cập tảo tán Sở hề, miễn tử thù phương.
Ngã ca khởi đản hề, thiên khiển cáo nhữ,
Nhữ kỳ tri mệnh hề, vật vị diểu mang.
Hán vương hữu đức hề, hàng quân bất sát,
Ai cáo quy tịch hề, phóng nhữ ngao tường.
Vật thủ không doanh hề, lương đạo dĩ tuyệt,
Chỉ nhật cầm Vũ hề, ngọc thạch câu thương.
Sở chi thanh hề, tán Sở tốt,
Ngã năng xuy hề, hiệp lục luật.
Ngã phi Tư hề, phẩm Đan Dương,
Ngã phi Trâu hề, ca Yên Thất.
Tiên âm triệt hề, thông cửu thiên,
Thu phong khởi hề, sở vong nhật.
Sở tức vong hề, nhữ yên quy?
Thì bất đãi hề, như điện tật.
Ca hề ca hề tam bách tự,
Tự tự cú cú hữu thâm ý.
Vọng nhữ mạc tác đẳng nhàn khan,
Nhập nhĩ quan tâm, nhĩ môn lao lao địa cẩn ký.


Bi ca tán Sở tương truyền là một bài ca do Trương Lương làm hoạ theo tiếng tiêu thổi để làm tan rã quân đội Hạng Vũ. Hạng Vũ bị Hàn Tín bao vây tại Cửu Lý sơn phía bắc thành Từ Châu. Tuy lâm vào tình thế thiếu lương nguy ngập, nhưng bên cạnh còn 8 ngàn tử đệ theo từ lúc ban đầu, ở vào lúc cùng, họ quyết tử chiến mở con đường máu, thẳng về Giang Đông tu chỉnh binh mã để tiếp tục cuộc chiến đấu. Như vậy là một mối nguy cho Hán, dù có đại thắng bằng binh lực tất phải trả một giá rất đắt bằng xương máu. Vì thế, Trương Lương hiến kế là tìm cách phân tán 8 ngàn tử đệ để cô lập Hạng Vũ. Có thế mới bắt Hạng Võ được. Trương Lương liền thừa lúc đêm khuya thanh vắng, trời cuối thu lạnh lẽo, đi qua lại từ Kê Minh sơn đến Cửu Lý sơn, vừa thổi tiêu vừa hát bài ca này.

Canh khuya, đêm vắng, khí trời lạnh lẽo, lá vàng rụng bay lả tả, tiếng tiêu thâm trầm, giọng hát bi thảm đồng vọng vào dinh Sở. Ban đầu, Sở quân chỉ buồn bã than thở, nhưng sau cùng, nghe đến chừng nào thì càng cảm thấy như ruột gan tan nát, rồi nước mắt đầm đìa đoạn bàn nhau bỏ trốn. Chỉ trong một đêm, tám ngàn tử đệ cùng quân sĩ các dinh, mười phần bỏ trốn hết bảy tám.

Bài ca này một âm cao lại một âm thấp, một âm dài lại một âm ngắn, năm âm không loạn, sáu luật cùng hoà khiến anh hùng cũng phải mềm lòng, tráng khí lung lay.

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (4 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của (Không rõ)

Tiết trời cuối thu chừ, bốn phía đầy sương,
Trời cao nước cạn chừ, tiếng nhạn bi thương.
Cực người biên thú chừ, ngày đêm bàng hoàng,
Thoát gươm mắc tên chừ, sa mạc phơi xương.
Mười năm xa quê chừ, cha mẹ đau buồn,
Vợ con mong nhớ chừ, gối chiếc chăn đơn.
Đồng ruộng bỏ hoang chừ, ai người trông nom,
Xóm có rượu ngon chừ, cùng ai thưởng thức.
Tóc bạc mong con chừ, tựa cửa sớm hôm,
Trẻ khóc gọi cha chừ, nước mắt trào tuôn.
Gió bấc kia thổi chừ, ngựa Hồ nhớ chuồng,
Người xa quê hương chừ, nỡ quên xóm làng.
Một sớm giao phong chừ, thân bỏ sa trường,
Xương thịt như bùn chừ, trên bãi trong mương.
Hồn phách bơ vơ chừ, không nơi tựa nương,
Tráng khí lừng danh chừ, phó trả hoang đường.
Đêm trường canh vắng chừ, tự hỏi thiên lương,
Mau bỏ Sở tan chừ, tránh chết tha phương.
Ta vâng ý trời chừ, soạn ca thành chương,
Ai biết mạng trời chừ, xin đừng mờ màng.
Hán Vương nhân đức chừ, không giết quân hàng,
Ai muốn về quê chừ, tha cho lên đường.
Chớ giữ trại không chừ, Sở đã tuyệt lương,
Khi Vũ bị bắt chừ, ngọc đá khôn lường.
Mượn tiếng Sở chừ, khuyên quân Sở hàng,
Phổ thành điệu nhạc chừ, theo sáu cung.
Tiếng tiêu Tử Tư chừ, nơi Đan Dương,
Khúc hát Trâu Diễn chừ, tại Yên Đường.
Tiếng tiêu vang chừ, chín từng mây,
Gió thu về chừ, cuối thu này.
Sở kia mất chừ, chạy đâu đây!
Thời không đợi chừ, nhanh tựa bay.
Lời ca chừ, ba trăm chữ dài,
Câu câu chữ chữ rõ ràng thay.
Khuyên người nghe cho kỹ càng,
Chậm tính, uổng đời thân chiến binh.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
11.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Hà Thượng Nhân

Tiết tháng chín, trời cao nước cạn
Bốn bề sương tiếng nhạn bi ai
Gì hơn lính thú cõi ngoài
Tấm thân vò võ hôm mai đoạn trường
Bãi cát trắng nắm xương vô chủ...
Ðã mười năm bác mẹ mong chờ
Vợ con đơn chiếc vơ vơ
Ruộng tuy có đó bây giờ ai trông?
Kẻ hàng xóm rượu đong dù sẵn
Biết làm sao nâng chén cùng vui?
Bạc phơ mái tóc ngùi ngùi
Sớm hôm tựa cửa, con tôi chốn nào?
Tiếng trẻ khóc nghe vào đứt ruột
Ôi! Ngựa Hồ gió bấc kêu thương
Huống ai đất khách canh trường
Lòng nào chẳng nhớ cố hương cho đành?
Trước gươm giáo tử sanh thế đó
Xương thịt này lấp xó, vùi nương
Cô hồn không chỗ tựa nương
Hùng tâm tráng sĩ hoang đường mà thôi!
Lúc canh vắng ai ơi tỉnh lại
Sở sắp tan, mau phải tìm đường
Hãy nên tự vấn thiên lương
Mới mong thoát khỏi tai ương tày đình
Ta lãnh ý cao xanh nhân đức
Soạn lời ca, ai thức nào ai?
Nếu như biết được mạng trời
Quăng gươm bỏ giáo xin mời về đây!
Vua nhà hán xưa rày tha thiết
Vì nghĩa nhân không giết quân hàng
Muốn về sẽ được về làng
Chứ đừng giữ trại khi lương không còn
Chỉ mai mốt quân dồn bốn phía
Bắt Hạng Vương: ngọc đá thành tro!
Hỡi ai, quân Sở hiểu cho
Thanh âm nước Sở dặn dò đồng hương
Nghe tiếng sáo Trương Lương réo rắt
Nghe lời ca Yên Thất nỉ non
Chín tầng mây thẳm chon von
Gió Thu có thấy héo hon tấc lòng?
Nước Sở mất đừng hòng bỏ chạy
Thời cơ đâu có đợi chờ ta!
Lời lời nhắn nhủ thiết tha
Nên chăng, phải trái thật là phân minh
Anh em hỡi, này tình, này lý
Lọt vào tai phải nghĩ nông sâu
Kíp nên tính liệu làm sao
Chần chờ khi hối tài nào kịp cho


Dịch tháng 6-1986.
tửu tận tình do tại
15.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Huyền Lâm

Thu tháng chín sương mù nước cạn
Lưng trời cao tiếng nhạn bi ai
Thương người lính trận biên ngoài
Ngày đêm canh giữ miệt mài âu lo
Bãi cát trắng xương khô mồ lạnh
Đã mười năm chạnh nhớ mẹ cha
Vợ con trống lạnh quê nhà
Ruông đồng hoang vắng ai là trông nom
Những bữa tiệc vui vầy hàng xóm
Ai nâng ly cùng nhóm gọi mời
Mẹ già tóc trắng như vôi
Ngùi ngùi tựa cửa con tôi chốn nào!
Nghe trẻ khóc buồn đâu đưa tới
Tiếng ngựa Hồ bấc thổi kêu thương
Giữa đêm thu lạnh canh trường
Ai người xa xứ không buồn nhớ quê
Chốn chiến trận tử sanh rất dễ
Nắm xương tàn khó thể vùi chôn
Vất vơ những mảnh oan hồn
Anh hùng tử sĩ hoang đường mà thôi
Đêm khuya vắng ai ơi! thức tĩnh
Sở sắp tan mau tính tìm đường
Để đừng chịu cảnh thê lương
Trời cao đã định khó phương bảo toàn
Bỏ gươm giáo quy hàng Hán đế
Vua nghĩa nhân không thể giết người
Tha về lại chốn quê nơi
Đừng đeo nán lại lương thời đã khô
Mai mốt đây quân vô khắp cả
Bắt Hạng Vương ngọc đá cũng tan
Hỡi ai quân Sở mau hàng
Thanh âm giọng Sở nghe càng nỉ non
Hoà tiếng sáo Trương Lương cao vút
Lẫn tiếng ca Yên Thất đâu đây
Véo von ngút tận trời mây
Dưới đêm thu lạnh buồn lây lất buồn
Mai Sở mất không còn đường chạy
Bởi thời cơ đâu phải chờ ai
Nên ta nhắn gởi một vài
Sét suy tận dạ để mai yên bình
Ba trăm chữ đủ tình đủ ý
Bài ca nầy viết kỷ cho người
Thiết hơn phân rõ mấy lời
Để e chậm trễ uổng đời chiến binh.

11.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Châu Hải Đường

Tiết thu tháng Chín chừ, bốn phía mờ sương.
Trời cao nước khô chừ, cái nhạn bi thương.
Lính thú khổ thay chừ, ngày đêm bàng hoàng.
Mặc giáp cầm gươm chừ, xương trắng gò hoang.
Rời nhà mười năm chừ, mẹ cha xa cách;
Vợ con nào thấu chừ, lẻ loi cô phòng.
Dẫu có ruộng tốt chừ, ai người coi với?
Xóm giềng rượu cất chừ, ai người nếm cùng?
Tóc sương tựa cửa chừ, sông thu trông vợi;
Con thơ thương nhớ chừ, khóc đứt can trường.
Ngựa Hồ hí gió chừ, còn hay nhớ nước;
Người nơi đất khách chừ, há quên cố hương?
Một buổi giao binh chừ, giáo gươm chịu chết;
Thịt xương thành đất chừ, cầu khe cỏ vàng.
Hồn phách phiêu diêu chừ, chẳng nơi nương tựa.
Tráng chí tịch mịch chừ, phó trả hoang đường.
Dằng dặc đêm nay chừ, nghĩ suy tỉnh ngộ;
Sớm rời khỏi Sở chừ, khỏi chết tha phương.
Ta há ca suông chừ, trời cho người biết;
Người khá biết mệnh chừ, chớ cho là thường.
Hán vương có đức chừ, hàng binh chẳng giết;
Kêu xin muốn về chừ, tha cho tuỳ lòng.
Chớ giữ doanh không chừ, lương thảo đã tuyệt;
Nay mai bắt Vũ chừ, ngọc đá đều tan.
Điệu hát Sở chừ, tan lính Sở;
Ta khá thổi chừ, hiệp sáu luật.
Ta chẳng phải Tư chừ, xin ăn Đan Dương;
Ta chẳng phải Trâu chừ, ca Yên thất.
Tiếng tiên vi diệu chừ, thông cửu thiên;
Gió thu nổi chừ, ngày Sở mất.
Sở đã mất chừ, người về đâu?
Thời giờ chẳng đợi chừ, như chớp giật.
Ca chừ, ca chừ, ba trăm chữ;
Chữ chữ câu câu có ý tứ.
Khuyên ai chớ có lấy làm chơi;
Lọt tai ghi lòng cho thực nhớ!


Nguồn: Hán Sở diễn nghĩa, Châu Hải Đường dịch, Đông A & NXB Văn Học, 2019
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời