29/11/2020 00:55Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Bi ca tán Sở
悲歌散楚

Tác giả: Trương Lương - 張良

Thể thơ: Phú; Nước: Trung Quốc; Thời kỳ: Hán
Đăng bởi Vanachi vào 06/11/2008 10:08

 

Nguyên tác

九月深秋兮,四野飛霜,
天高水涸兮,寒雁悲愴。
最苦戎邊兮,日夜徬徨,
披肩執銳兮,骨慄沙崗。
離家十年兮,父母生別,
妻子何堪兮,獨宿孤房。
雖有腴田兮,誰與之守,
鄰家酒熟兮,孰與之嚐。
白髮依門兮,望穿秋水,
稚子憶念兮,淚斷肝腸。
胡馬嘶風兮,尚知戀土,
人生客久兮,寧忘故鄉。
一旦交兵兮,踏刃而死,
骨肉為泥兮,衰草濠梁。
魂魄悠悠兮,枉知所倚,
壯志寥寥兮,付之荒唐。
當此永夜兮,追思退省,
及早散楚兮,免死殊方。
我歌豈誕兮,天譴告汝,
汝其知命兮,勿謂渺茫。
漢王有德兮,降軍不殺,
哀告歸籍兮,放汝翱翔。
勿守空營兮,糧道已絕,
指日擒羽兮,玉石俱傷。
楚之聲兮,散楚卒,
我能吹兮,協六律。
我非胥兮,品丹陽,
我非鄒兮,歌燕室。
仙音徹兮,通九天,
秋風起兮,楚亡日。
楚即亡兮,汝焉歸?
時不待兮,如電疾。
歌兮歌兮三百字,
字字句句有深意。
望汝莫作等閒看,
入耳關心,你們牢牢地謹記。

Phiên âm

Cửu nguyệt thâm thu hề, tứ dã phi sương,
Thiên cao thuỷ hạc hề, hàn nhạn bi thương.
Tối khổ nhung biên hề, nhật dạ bàng hoàng,
Phi kiên chấp nhuệ hề, cốt lật sa cương.
Ly gia thập niên hề, phụ mẫu sinh biệt,
Thê tử hà kham hề, độc túc cô phòng.
Tuy hữu du điền hề, thuỳ dữ chi thủ,
Lân gia tửu thục hề, thục dữ chi thường.
Bạch phát y môn hề, vọng xuyên thu thuỷ,
Trĩ tử ức niệm hề, lệ đoạn can trường.
Hồ mã tê phong hề, thượng tri luyến thổ,
Nhân sinh khách cửu hề, ninh vong cố hương.
Nhất đán giao binh hề, đạp nhẫn nhi tử,
Cốt nhục vi nê hề, suy thảo hào lương.
Hồn phách du du hề, uổng tri sở ỷ,
Tráng chí liêu liêu hề, phó chi hoang đường.
Đương thử vĩnh dạ hề, truy tư thoái tỉnh,
Cập tảo tán Sở hề, miễn tử thù phương.
Ngã ca khởi đản hề, thiên khiển cáo nhữ,
Nhữ kỳ tri mệnh hề, vật vị diểu mang.
Hán vương hữu đức hề, hàng quân bất sát,
Ai cáo quy tịch hề, phóng nhữ ngao tường.
Vật thủ không doanh hề, lương đạo dĩ tuyệt,
Chỉ nhật cầm Vũ hề, ngọc thạch câu thương.
Sở chi thanh hề, tán Sở tốt,
Ngã năng xuy hề, hiệp lục luật.
Ngã phi Tư hề, phẩm Đan Dương,
Ngã phi Trâu hề, ca Yên Thất.
Tiên âm triệt hề, thông cửu thiên,
Thu phong khởi hề, sở vong nhật.
Sở tức vong hề, nhữ yên quy?
Thì bất đãi hề, như điện tật.
Ca hề ca hề tam bách tự,
Tự tự cú cú hữu thâm ý.
Vọng nhữ mạc tác đẳng nhàn khan,
Nhập nhĩ quan tâm, nhĩ môn lao lao địa cẩn ký.

Bản dịch của (Không rõ)

Tiết trời cuối thu chừ, bốn phía đầy sương,
Trời cao nước cạn chừ, tiếng nhạn bi thương.
Cực người biên thú chừ, ngày đêm bàng hoàng,
Thoát gươm mắc tên chừ, sa mạc phơi xương.
Mười năm xa quê chừ, cha mẹ đau buồn,
Vợ con mong nhớ chừ, gối chiếc chăn đơn.
Đồng ruộng bỏ hoang chừ, ai người trông nom,
Xóm có rượu ngon chừ, cùng ai thưởng thức.
Tóc bạc mong con chừ, tựa cửa sớm hôm,
Trẻ khóc gọi cha chừ, nước mắt trào tuôn.
Gió bấc kia thổi chừ, ngựa Hồ nhớ chuồng,
Người xa quê hương chừ, nỡ quên xóm làng.
Một sớm giao phong chừ, thân bỏ sa trường,
Xương thịt như bùn chừ, trên bãi trong mương.
Hồn phách bơ vơ chừ, không nơi tựa nương,
Tráng khí lừng danh chừ, phó trả hoang đường.
Đêm trường canh vắng chừ, tự hỏi thiên lương,
Mau bỏ Sở tan chừ, tránh chết tha phương.
Ta vâng ý trời chừ, soạn ca thành chương,
Ai biết mạng trời chừ, xin đừng mờ màng.
Hán Vương nhân đức chừ, không giết quân hàng,
Ai muốn về quê chừ, tha cho lên đường.
Chớ giữ trại không chừ, Sở đã tuyệt lương,
Khi Vũ bị bắt chừ, ngọc đá khôn lường.
Mượn tiếng Sở chừ, khuyên quân Sở hàng,
Phổ thành điệu nhạc chừ, theo sáu cung.
Tiếng tiêu Tử Tư chừ, nơi Đan Dương,
Khúc hát Trâu Diễn chừ, tại Yên Đường.
Tiếng tiêu vang chừ, chín từng mây,
Gió thu về chừ, cuối thu này.
Sở kia mất chừ, chạy đâu đây!
Thời không đợi chừ, nhanh tựa bay.
Lời ca chừ, ba trăm chữ dài,
Câu câu chữ chữ rõ ràng thay.
Khuyên người nghe cho kỹ càng,
Chậm tính, uổng đời thân chiến binh.
Bi ca tán Sở tương truyền là một bài ca do Trương Lương làm hoạ theo tiếng tiêu thổi để làm tan rã quân đội Hạng Vũ. Hạng Vũ bị Hàn Tín bao vây tại Cửu Lý sơn phía bắc thành Từ Châu. Tuy lâm vào tình thế thiếu lương nguy ngập, nhưng bên cạnh còn 8 ngàn tử đệ theo từ lúc ban đầu, ở vào lúc cùng, họ quyết tử chiến mở con đường máu, thẳng về Giang Đông tu chỉnh binh mã để tiếp tục cuộc chiến đấu. Như vậy là một mối nguy cho Hán, dù có đại thắng bằng binh lực tất phải trả một giá rất đắt bằng xương máu. Vì thế, Trương Lương hiến kế là tìm cách phân tán 8 ngàn tử đệ để cô lập Hạng Vũ. Có thế mới bắt Hạng Võ được. Trương Lương liền thừa lúc đêm khuya thanh vắng, trời cuối thu lạnh lẽo, đi qua lại từ Kê Minh sơn đến Cửu Lý sơn, vừa thổi tiêu vừa hát bài ca này.

Canh khuya, đêm vắng, khí trời lạnh lẽo, lá vàng rụng bay lả tả, tiếng tiêu thâm trầm, giọng hát bi thảm đồng vọng vào dinh Sở. Ban đầu, Sở quân chỉ buồn bã than thở, nhưng sau cùng, nghe đến chừng nào thì càng cảm thấy như ruột gan tan nát, rồi nước mắt đầm đìa đoạn bàn nhau bỏ trốn. Chỉ trong một đêm, tám ngàn tử đệ cùng quân sĩ các dinh, mười phần bỏ trốn hết bảy tám.

Bài ca này một âm cao lại một âm thấp, một âm dài lại một âm ngắn, năm âm không loạn, sáu luật cùng hoà khiến anh hùng cũng phải mềm lòng, tráng khí lung lay.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Trương Lương » Bi ca tán Sở