Bình luận nhanh 1

Võ Việt15/06/2019 13:20
Hay, 1 trong rất ít kiệt tác văn học trung Hoa cổ đại đc lưu truyền đến nay

悲憤詩其一

漢季失權柄,
董卓亂天常。
志欲圖篡弒,
先害諸賢良。
逼迫遷舊邦,
擁主以自彊。
海內興義師,
欲共討不祥。
卓眾來東下,
金甲耀日光。
平土人脆弱,
來兵皆胡羌。
獵野圍城邑,
所向悉破亡。
斬截無孑遺,
尸骸相撐拒。
馬邊懸男頭,
馬後載婦女。
長驅西入關,
迥路險且阻。
還顧邈冥冥,
肝脾為爛腐。
所略有萬計,
不得令屯聚。
或有骨肉俱,
欲言不敢語。
失意幾微間,
輒言「斃降虜,
要當以亭刃,
我曹不活汝。」
豈敢惜性命,
不堪其詈罵。
或便加棰杖,
毒痛參並下。
旦則號泣行,
夜則悲吟坐,
欲死不能得,
欲生無一可。
彼蒼者何辜,
乃遭此厄禍?

邊荒與華異,
人俗少義理。
處所多霜雪,
胡風春夏起。
翩翩吹我衣,
肅肅入我耳。
感時念父母,
哀嘆無終已。
有客從外來,
聞之常歡喜。
迎問其消息,
輒復非鄉里。
邂逅徼時願,
骨肉來迎己。
己得自解免,
當復棄兒子。
天屬綴人心,
念別無會期。
存亡永乖隔,
不忍與之辭。
兒前抱我頸,
問母欲何之?
人言母當去,
豈復有還時?
「阿母常仁惻,
念何更不慈?
我尚未成人,
奈何不顧思!」
見此崩五內,
恍惚生狂痴。
號泣手撫摩,
當發復回疑。
兼有同時輩,
相送告離別。
慕我獨得歸,
哀叫聲摧裂。
馬為立踟躕,
車為不轉轍。
觀者皆歔欷,
行路亦嗚咽。

去去割情戀,
遄征日遐邁。
悠悠三千里,
何時復交會?
念我出腹子,
胸臆為摧敗。
既至家人盡,
又復無中外。
城郭為山林,
庭宇生荊艾。
白骨不知誰,
縱橫莫覆蓋。
出門無人聲,
豺狼號且吠。
煢煢對孤景,
怛吒靡肝肺。
登高遠眺望,
神魂忽飛逝。
奄若壽命盡,
旁人相寬大。
為復彊視息,
雖生何聊賴?
托命於新人,
竭心自勖勵。
流離成鄙賤,
常恐復捐廢。
人生幾何時,
懷憂終年歲!

 

Bi phẫn thi kỳ 1

Hán quý thất quyền bính,
Đổng Trác loạn thiên thường.
Chí dục đồ thoán thí,
Tiên hại chư hiền lương.
Bức bách thiên cựu bang,
Ủng chúa dĩ tự cương.
Hải nội hưng nghĩa sư,
Dục cộng thảo bất tường.
Trác chúng lai đông hạ,
Kim giáp diệu nhật quang.
Bình thổ nhân thuý nhược,
Lai binh giai Hồ, Khương.
Liệp dã, vi thành ấp,
Sở hướng tất phá vong.
Trảm tiệt vô quyết di,
Thi hài tương sanh cự.
Mã biên huyền nam đầu,
Mã hậu tải phụ nữ.

Trường khu tây nhập quan,
Quýnh lộ hiểm thả trở.
Hoàn cố mạc minh minh,
Can tỳ vi lạn hủ.
Sở lược hữu vạn kế,
Bất đắc linh truân tụ.
Hoặc hữu cốt nhục câu,
Dục ngôn bất cảm ngữ.

Thất ý kỷ vi gian,
Triếp ngôn “Tễ hàng lỗ,
Yếu đương dĩ đình nhận,
Ngã tào bất hoạt nhữ.”
Khởi cảm tích tính mệnh,
Bất kham kỳ lị mạ.
Hoặc tiện gia truỳ trượng,
Độc thống tham tịnh hạ.
Đán tắc hiệu khấp hành,
Dạ tắc bi ngâm toạ,
Dục tử bất năng đắc,
Dục sinh vô nhất khả.
Bỉ thương giả hà cô,
Nãi tao thử ách hoạ?

Biên hoang dữ Hoa dị,
Nhân tục thiểu nghĩa lý.
Xứ sở đa sương tuyết,
Hồ phong xuân hạ khởi.
Phiên phiên xuy ngã y,
Túc túc nhập ngã nhĩ.
Cảm thì niệm phụ mẫu,
Ai thán vô chung dĩ.
Hữu khách tòng ngoại lai,
Văn chi thường hoan hỉ.
Nghênh vấn kỳ tiêu tức,
Triếp phục phi hương lý.
Giải cấu kiêu thì nguyện,
Cốt nhục lai nghênh kỷ.
Kỷ đắc tự giải miễn,
Đương phục khí nhi tử.
Thiên thuộc chuế nhân tâm,
Niệm biệt vô hội kỳ.
Tồn vong vĩnh quai cách,
Bất nhẫn dữ chi từ.
Nhi tiền bão ngã cảnh,
Vấn mẫu dục hà chi?
“Nhân ngôn mẫu đương khứ,
Khởi phục hữu hoàn thì?
A mẫu thường nhân trắc,
Niệm hà cánh bất từ?
Ngã thượng vị thành nhân,
Nại hà bất cố tư!”
Kiến thử băng ngũ nội,
Hoảng dịch sinh cuồng si.
Hiệu khấp thủ phủ ma,
Đương phát phục hồi nghi.
Kiêm hữu đồng thì bối,
Tương tống cáo ly biệt.
Mộ ngã độc đắc quy,
Ai khiếu thanh tồi liệt.
Mã vi lập trì trù,
Xa vi bất chuyển triệt.
Quan giả giai hư hy,
Hành lộ diệc ô yết.

Khứ khứ cát tình luyến,
Thuyên chinh nhật hà mại.
Du du tam thiên lý,
Hà thì phục giao hội?
Niệm ngã xuất phúc tử,
Hung ức vi tồi bại.
Ký chí gia nhân tận,
Hựu phục vô trung ngoại.
Thành quách vi sơn lâm,
Đình vũ sinh kinh ngải.
Bạch cốt bất tri thuỳ,
Tung hoành mạc phúc cái.
Xuất môn vô nhân thanh,
Sài lang hiệu thả phệ.
Quỳnh quỳnh đối cô cảnh,
Đát tra mỹ can phế.
Đăng cao viễn diểu vọng,
Thần hồn hốt phi thệ.
Yểm nhược thọ mệnh tận,
Bàng nhân tương khoan đại.
Vi phục cưỡng thị tức,
Tuy sinh hà liêu lại?
Thác mệnh ư tân nhân,
Kiệt tâm tự úc lệ.
Lưu ly thành bỉ tiện,
Thường khủng phục quyên phế.
Nhân sinh kỷ hà thì,
Hoài ưu chung niên tuế!

 

Dịch nghĩa

Cuối đời Hán, triều đình để mất quyền bính,
Đổng Trác làm đảo lộn cương thường của trời.
Ý hắn muốn mưu việc cướp ngôi, giết vua,
Trước hết sát hại những người hiền lương.
Hắn cưỡng ép triều đình dời về kinh đô cũ,
Khống chế nhà vua để làm thế lực cho mình.
Khắp trong thiên hạ, nghĩa quân nổi dậy,
Muốn cùng nhau đánh dẹp kẻ bất tường.
Quân của Đổng Trác từ phía đông kéo xuống,
Áo giáp vàng sáng chói dưới ánh mặt trời.
Người miền đồng bằng vốn yếu đuối,
Còn quân kéo đến đều là người Hồ, người Khương.
Chúng săn bắt dân ngoài đồng, vây hãm thành ấp,
Đi đến nơi nào, nơi ấy đều bị phá tan.
Chém giết sạch sẽ, chẳng để sót một ai,
Thi thể chồng chất, ngổn ngang tựa vào nhau.
Bên mình ngựa treo đầu đàn ông,
Phía sau ngựa chở những người phụ nữ.
Chúng ruổi dài về phía tây, tiến vào cửa ải,
Con đường xa xôi vừa hiểm trở, vừa khó đi.
Ngoảnh đầu nhìn lại, chỉ thấy xa xăm mờ mịt,
Ruột gan ta đau đớn như đã nát rữa.
Những người bị chúng cướp bắt có đến hàng vạn,
Nhưng không được phép tụ họp lại với nhau.
Trong số ấy có người cùng đi với thân thích,
Muốn nói chuyện mà cũng không dám mở lời.
Chỉ cần có một cử chỉ hơi trái ý,
Chúng lập tức quát: “Hãy giết bọn tù binh đầu hàng này!
Nhất định phải cho chúng nếm mùi lưỡi dao,
Bọn ta sẽ không để cho các ngươi sống!”
Chúng ta nào dám tiếc tính mạng,
Nhưng không sao chịu nổi những lời chửi rủa ấy.
Có khi chúng còn dùng roi gậy đánh đập,
Mọi thứ đau đớn, độc ác cùng lúc giáng xuống thân mình.
Buổi sớm vừa khóc gào vừa phải lên đường,
Ban đêm lại ngồi than khóc thảm thiết.
Muốn chết cũng không thể chết được,
Muốn sống thì chẳng thấy một điều gì đáng để sống.
Ta đã có tội gì với trời xanh,
Mà phải gặp tai hoạ khốn cùng như thế?

Miền biên địa hoang vu khác hẳn đất Hoa Hạ,
Phong tục con người nơi đây ít có nghĩa lý.
Nơi ở thường đầy sương tuyết,
Gió Hồ nổi lên ngay cả trong mùa xuân, mùa hạ.
Gió phần phật thổi tung áo ta,
Tiếng gió lạnh lẽo rít vào tai.
Cảm thương thời thế, lại nhớ cha mẹ,
Ta đau đớn than thở không bao giờ dứt.
Mỗi khi có khách từ bên ngoài đến,
Nghe tin, ta thường vô cùng mừng rỡ.
Ta chạy ra đón, hỏi thăm tin tức,
Nhưng lần nào người ấy cũng chẳng đến từ quê ta.
Bất ngờ, mong ước bấy lâu gặp được cơ hội thực hiện:
Người thân sai người đến đón ta về.
Bản thân ta đã có thể thoát khỏi cảnh tù đày,
Nhưng lại phải bỏ lại những đứa con.
Tình máu mủ trời sinh gắn chặt lòng người,
Nghĩ đến lúc chia lìa, không biết bao giờ mới gặp lại.
Sống hay chết cũng sẽ vĩnh viễn cách xa,
Ta không đành lòng nói lời từ biệt với các con.
Con bước tới ôm lấy cổ ta,
Hỏi: “Mẹ định đi đâu?
Người ta nói mẹ sắp ra đi,
Liệu rồi mẹ có ngày trở lại không?
Mẹ thường là người nhân từ, thương xót,
Vì sao bây giờ lại chẳng thương con?
Con vẫn còn chưa trưởng thành,
Sao mẹ nỡ không nghĩ đến con?”
Chứng kiến cảnh ấy, ngũ tạng ta như vỡ nát,
Tinh thần hoảng loạn, gần như hoá thành điên dại.
Ta gào khóc, đưa tay vuốt ve các con,
Đang định lên đường lại quay lại, lòng đầy do dự.
Lại có những người cùng cảnh ngộ trước kia,
Đến tiễn đưa và nói lời từ biệt.
Họ ngưỡng mộ vì riêng ta được trở về,
Nhưng lại đau đớn kêu gào đến xé lòng.
Ngựa vì thế cũng đứng lại, chần chừ không bước,
Cỗ xe dường như cũng không thể chuyển bánh.
Những người chứng kiến đều nghẹn ngào than thở,
Kẻ đi đường cũng phải khóc theo.
Cứ đi mãi, ta buộc phải cắt đứt tình quyến luyến,
Xe gấp rút lên đường, mỗi ngày một đi xa.
Đường dằng dặc ba nghìn dặm,
Đến bao giờ mẹ con mới lại được gặp nhau?
Nghĩ đến những đứa con do chính mình sinh ra,
Lồng ngực ta đau đớn như bị phá nát.

Khi về đến nhà, người thân đã chết hết,
Cả họ hàng bên nội lẫn bên ngoại đều chẳng còn ai.
Thành quách đã hoá thành rừng hoang,
Trong sân nhà mọc đầy gai góc và cỏ ngải.
Những bộ xương trắng không biết là của ai,
Nằm ngổn ngang mà chẳng có gì che phủ.
Bước ra ngoài cửa, không nghe thấy tiếng người,
Chỉ có chó sói tru gào và sủa vang.
Một mình trơ trọi đối diện với chiếc bóng cô độc,
Ta đau đớn kêu than, ruột gan như không còn nữa.
Lên nơi cao nhìn ra xa,
Thần hồn bỗng như lìa khỏi thân thể.
Thoắt chốc tưởng như tính mạng đã chấm dứt,
Những người bên cạnh phải cùng nhau an ủi ta.
Ta mới lại cố gượng mở mắt và thở,
Nhưng dù còn sống thì có gì để trông cậy?
Ta đành gửi thân cho người chồng mới,
Dốc hết tâm sức để tự khuyên răn, gắng gượng.
Vì từng lưu lạc nên thân phận trở thành thấp hèn,
Ta thường lo sợ mình lại bị ruồng bỏ.
Đời người có được bao lâu,
Mà phải ôm nỗi lo buồn suốt cả năm tháng!


Bi phẫn thi gồm hai bài, đây là bài thứ nhất, dài tổng cộng 108 câu, gồm ba đoạn. Đoạn thứ nhất kể về việc Văn Cơ bị quân của Đổng Trác bắt đi, đoạn thứ hai kể thời gian nàng ở Nam Hung Nô và cảnh chia tay trở về, đoạn thứ ba tả cảnh nàng thăm lại nhà cũ nhưng không còn ai trên đời. Bài thơ này được coi là một kiệt tác thơ ca đương thời, cùng với Tiêu Trọng Khanh thê 焦仲卿妻 được coi là hai viên ngọc sáng trong thể loại thơ tự sự thời đó.

Bài thơ không nói rõ quá trình từ khi nàng bị quân Đổng Trác bắt tới khi nàng lưu lạc tới Nam Hung Nô, sử sách cũng không thấy ghi chép. Hậu Hán thư, phần Liệt nữ truyện chép năm Hưng Bình thiên hạ đại loạn, Văn Cơ bị quân Hồ bắt nộp cho Tả Hiền Vương. Hưng Bình (194-195) là niên hiệu đời Hán Hiến Đế, Văn Cơ bị quân Đổng Trác bắt vào năm 192, thời gian ba năm sau đó lưu lạc ra sao không thấy đâu chép. Căn cứ theo sử sách, tháng 11 năm Hưng Bình thứ 2 (195), Lý Thôi, Quách Dĩ bị Tả Hiền Vương của Nam Hung Nô đánh bại, có thể nàng bị bắt về từ đây.

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Như Quy

Hán mạt mất quyền bính,
Đổng Trác loạn dưới trên.
Chí hòng cướp ngôi báu,
Trước tiên giết kẻ hiền.
Bức bách về kinh cũ,
Ép vua phải theo mình.
Thiên hạ cờ nghĩa dấy,
Cùng nhau dẹp nhiễu nhương.
Quân Trác tới Trần, Dĩnh,
Ánh giáp toả hào quang.
Trung Nguyên người sức yếu,
Lính tới rặt Hồ, Khương.
Bắt thôn, vây thành ấp,
Mỗi chốn đều tan hoang.
Giết sạch không để sót,
Khắp nơi xác vãi vương.
Treo đầu quanh mình ngựa,
Phụ nữ chở sau xe.
Ruổi rong qua Hàm Cốc,
Hiểm trở vây bốn bề.
Ngoảnh lại xa mờ mịt,
Ruột gan xiết sầu bi.
Bị bắt người có vạn,
Họp nhau chẳng cách gì.
Có kẻ là thân thích,
Cũng không thể sẻ chia.
Một chút gì trái ý,
Tức thì “Kẻ hàng kia,
Mũi dao này có muốn,
Chúng tao cho hồn lìa.”
Há đâu tiếc tính mệnh,
Thoá mạ chẳng cam lời.
Có kẻ chịu gậy gộc,
Khổ hận giáng xuống người.
Sớm đi thê thảm khóc,
Tối rên, chỉ biết ngồi.
Muốn chết mà không được,
Muốn sống chẳng đường thôi.
Ta nào gây tội lỗi,
Sao đày đoạ hỡi trời?

Hoang thảo phong tục khác,
Đạo lý chẳng giống ai.
Một nơi nhiều sương tuyết,
Gió Hồ suốt năm dài.
Phiêu phiêu phất tà áo,
Lồng lộng thổi vào tai.
Những khi nhớ phụ mẫu,
Kêu than mãi khôn nguôi.
Có khách từ ngoài tới,
Được hay, xiết mừng vui.
Ra đón thăm tin tức,
Quê lại chẳng cùng nơi.
Bỗng có người thân thích,
Phái sứ giả đón về.
Khi được toàn nguyện vọng,
Lại khó bỏ hài nhi.
Máu mủ liền khúc ruột,
Tái ngộ không hẹn kỳ.
Sống chết đều xa cách,
Sao nỡ nói chia ly.
Hài nhi ôm lấy cổ,
Hỏi mẹ thực muốn đi?
“Người bảo là như vậy,
Chẳng trở về nữa ư?
Thường ngày mẹ yêu mến,
Sao nay chẳng nhân từ?
Hài nhi còn nhỏ tuổi,
Mà mẹ nỡ thờ ơ!”
Nhìn lòng như tan nát,
Hoảng hốt như cuồng si.
Khóc gào, tay xoa xuýt,
Lâm hành thực lâm ly.
Người xưa cùng bọn tới,
Ra đưa tiễn trở về.
Ngưỡng mộ ta may mắn,
Than thở xiết sầu bi.
Chân ngựa chần chừ đứng,
Bánh xe chẳng chuyển di.
Ngậm ngùi người đưa tiễn,
Sùi sụt kẻ ra đi.

Càng đi càng xa cách,
Mỗi ngày một phân ly.
Dằng dặc ba ngàn dặm,
Gặp nhau biết có khi?
Nhớ con đứt ruột đẻ,
Lòng đau tựa đứt lìa.
Về nhà, người đâu bóng,
Vắng tanh khắp trong ngoài.
Thành quách hoá rừng rú,
Khắp sân ngải mọc đầy.
Xương trắng nào biết ai,
Ngang dọc không gì đậy.
Lắng tiếng người chẳng thấy,
Chỉ độc tiếng sài lang.
Người cô trong cảnh độc,
Sầu uất nát tâm can.
Lên cao phóng tầm mắt,
Hồn phách tựa lìa tan.
Chợt như là đã chết,
Người theo phải chấn an.
Mới nhìn và thở lại,
Dẫu sống như chẳng còn?
Thân nay gửi người mới,
Gắng giữ lấy tinh thần.
Lưu lạc nên rẻ rúng,
Thường sợ lại gian nan.
Đời người có là mấy,
Ưu hoài suốt trăm năm.


Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
33.67
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Tạ Trung Hậu

Soán quyền triều Hán mạt
Đổng Trác loạn cương thường
Chí những mong tranh đoạt
Trước hại người hiền lương
Ép dân về kinh cũ
Ngăn trở vua tự cường
Khắp nơi cờ nghĩa rộ
Cùng nhau dẹp nhiễu nhương
Xuôi xuống đông quân Trác
Giáp vàng soi ánh dương
Người Trung nguyên yếu ớt
Lính tới toàn Hồ, Khương
Săn dân, vây thành ấp
Gieo rắc đầy tan thương
Chém sạch không để sót
Xác phình chương đầy đường
Bên ngựa treo đầu nam
Sau lưng đèo phụ nữ
Ruổi về tây ải quan
Đường quanh co hiểm trở
Ngoảnh lại chốn xa xăm
Nghe cõi lòng nát vỡ
Lùa đi cả vạn dân
Biết làm sao hội ngộ
Thân thích bắt theo cùng
Biết làm sao giúp đỡ
Một chút không vừa lòng
Quát liền: “Bọn giặc Lỗ
Nếu muốn nhát dao này
Thì tao cho bây thử “
Tính mệnh dám tiếc sao?
Không kham lời mắng chửi
Gậy gộc đánh thêm vào
Hứng chịu nhiều đau khổ
Sáng đi nước mắt trào
Đêm ngồi buồn than thở
Muốn chết nào ai cho
Muốn sống đời bít ngõ
Hỏi trời tội tình chi?
Mà gánh bao nạn dữ

Biên hoang, Hoa nội khác
Phong tục khác xưa nay
Xứ sở nhiều sương tuyết
Gió Hồ suốt năm dài
Tai ta ù ù thổi
Áo ta phần phật bay
Nhớ mẹ cha nhiều nỗi
Buồn thương khó nguôi ngoai
Có khách ngoài xa lại
Nghe tới rất mừng vui
Đón hỏi thăm tin tức
Nhưng quê nhà khác nơi
Bất ngờ không hẹn trước
Thân thuộc rước về thôi
Tuy thoát bao ràng buộc
Con trẻ sao bỏ rời
Mẹ con liền khúc ruột
Sống chết mãi xa xôi
Chia ly không gặp được
Từ biệt chẳng nên lời
Trẻ thơ choàng cổ mẹ
Hỏi sao muốn đổi đời
“Người nói mẹ đi mất
Bao giờ về mẹ ơi?
Hay xót thương người khác
Mà con đẻ lại rời
Tuổi con còn rất trẻ
Sao mẹ bỏ không nuôi?”
Dại cuồng vì hoảng hốt
Lòng tan nát tơi bời
Gào khóc tay ve vuốt
Đi rồi khó trở lui
Những bạn cùng lưu lạc
Ra đưa tiễn tận nơi
Mừng riêng mình về được
Tiếng gọi buồn chơi vơi
Chân ngựa chần chờ bước
Bánh xe dợm chuyển dời
Người tiễn đưa sùi sụt
Kẻ ra đi ngậm ngùi

Càng đi càng luyến tiếc
Càng cách xa từng ngày
Ba ngàn dặm mãi miết
Bao giờ gặp nhau đây
Nhớ con thơ mới đẻ
Mà đã vội chia tay
Về nhà sao vắng vẻ
Không một ai trong ngoài
Sân mọc đầy gai, ngải
Thành quách rừng núi vây
Ngổn ngang không che đậy
Xương trắng của ai bày
Vắng tiếng người ngoài ngõ
Sài lang hú gọi bầy
Cảnh vắng thân côi cút
Nát lòng sầu bủa vây
Lên cao nhìn ngút mắt
Phách hồn tiêu tán bay
Mạng bỗng dường như mất
May người bên đoái hoài
Giải cứu mình tỉnh lại
Sống rồi nương tựa ai?
Giờ trao thân người mới
Gắng gượng cho qua ngày
Hèn mọn vì lưu lạc
Sợ hoài bị bỏ rơi
Cuộc đời là mấy chốc
Lo lắng tháng năm dài


15.00
Trả lời