Ngày xưa, một sớm hồng pha
Áo bầy thôn nữ tỉa hoa ngoại thành.
Truyền nhau tin miệng loan nhanh
Rằng có một trẻ vừa sanh tuyệt vời.
Trang nghiêm tướng mạo khác đời,
Lòng tay như ngọc tỏa ngời hào quang.
Ai nghe chẳng ghé mai trang,
Đòi xem tận mắt rõ ràng mới thôi.
Thu, Đông tuần tự lần hồi,
Bé trai lớn dậy như chồi tầm xuân.
Tên chàng là Lý Thiện Nhân,
Họ nhà hoan hỉ, hương lân vui vầy.
Chẳng bao trăng khuyết trăng đầy,
Thiện Nhân khôn lớn theo thầy học xa.
Sách kinh chỉ lướt xem qua,
Chàng đem cất sách như là thuộc xong.
Thánh hiền muôn tạng làu thông,
Lại thêm binh lược kiếm cung thạo tài.
Hai viên ngọc ẩn lòng tay,
1.700.   Từ lâu ánh sáng cọ hoài chẳng ra.
Nhân thường thăm viếng Phật-đà,
Mang theo y, thực, trầm, hoa cúng dường.
Đêm kia dạo nguyệt trong vườn
Cùng cha, dưới khóm dạ hương tỏ mờ
Nghe trong thoang thoảng hương đưa,
Dường như hương khiến người tơ tưởng sầu.
Chàng rằng “nay bể mai dâu,
Khác chi hương thoảng qua mau dưới thềm.
Mấy người thức ngó trăng lên,
Hay còn chìm ngủ giữa đêm đoạn trường.
Bao nhiêu giả tướng vô thường
Kết nên ảo giác muôn đường nổi nênh.
Trò đời quán chợ phù vân,
Lợi danh hồ dễ chỉ ngần ấy sao?
Tham si mãi buộc thân vào,
Rồi đây chọn nắm cỏ nào gửi xương.
Chí con muốn thoát vô thường,
Cầu đạo giải thoát nơi vườn trúc xanh.
Trước là tỉnh giấc vô minh,
Sau là hóa độ chúng sinh mọi bề.”
Ông rằng: “cánh hạc bay đi,
Dù non mây thẳm ngại gì chẳng qua.
Nghe con tâm nguyện xuất gia,
Bước chân theo dấu Phật-đà tịnh tu.
Đó là hiếu hạnh đền bù,
Lấy chi sánh được cho dù non cao.
Lòng cha mẹ có thế nào,
Nỡ đâu như mảnh mây đào lấp trăng.”
Nhân nghe xiết đỗi vui mừng,
Cảm lòng cha mẹ đôi dòng lệ quanh.
Hành trang sắp sửa bộ hành,
Suốt đêm ngó mảnh trăng thanh trước lầu.
Sáng ngày mây trắng phau phau,
Giục đôi cò đậu cành cau cất mình
Bay lên chót vót trời xanh,
Cánh tung như thể mấy cành hoa vương.
Con xe băng vút cầu sương,
Mẹ cha tiễn đến bên vườn trúc kia.
Một vùng cỏ mướt mây kề,
Hoa năm sắc nở bên khe lý đào.
Suối mừng cất tiếng nao nao,
Sương mừng sương rớt hạt nào long lanh.
Dưới bờ dương liễu rờn xanh
Chúng Tăng tịch mặc kinh hành đạp hoa.
Y vàng như lớp giang hà
Trong rừng liễu rũ mấy nhà cỏ thơm.
Theo vào trước Phật, dâng hương,
Chàng xin tu học tỏ tường trình thưa.
Bỗng dưng đôi ngọc năm xưa
Ẩn lòng tay nọ bây giờ tỏa quang.
Rực lên ánh sáng dị thường,
Biến thành hai đóa sen hường bay lên.
Ngó xanh như ngọc quỳnh tiên,
Lại thêm nghìn cánh mây viền uốn quanh.
Hoa dâng lên đấng cha lành,
Trông như hai đóa mây xanh dịu dàng.
Ngẩn ngơ khắp cả đạo tràng,
Việc chưa từng thấy nơi hàng thế gian.
Hẳn người chín cõi tiên san,
Hay nơi động phủ mây vàng tịnh tu.
A-nan hiền giả liền thưa:
“Chuyện này phúc tuệ duyên xưa lẽ nào?
Hẳn gieo đức nghiệp dày lâu
Nên hoa sen bỗng từ đâu hóa về.
Xin ngài ân chỉ con nghe,
Vén màn tăm tối kết bè tuệ tâm.”
Phật rằng “tứ chúng yên lòng,
Chín mươi mốt kiếp trần hồng cách đây.
Tỳ-bà-thi Phật ra đời,
Như hoa sen nở mấy trời ngát hương.
Phật hiền giáo hóa thế gian,
Chúng sinh vô lượng Niết-bàn an vui.
Thôn kia mới có một người
Nhà nghèo khó trải bao đời lang thang.
Nuôi thân củi nhánh rau nhành,
Bốn mùa sương gió che manh áo tàn.
Một hôm gặp Phật đăng đàn,
Chuyển kinh diệu nghĩa bên ngàn hoa tươi.
Đạo nghe như tỉnh sầu người,
Thành phiền não dựng bao đời xô tan.
Anh kia phát nguyện cúng dàng,
Mà thân còn mảnh áo tàn tính sao?
Chợt nhìn bên lộ dưới ao,
Có bông sen trắng gió nào đưa hương.
Thế là thỏa nguyện cúng dường,
Ven ao lội xuống tìm đường ngắt hoa
Dâng lên cung kính dưới tòa.
Phật cầm giơ một cánh hoa mỉm cười.
Lòng vui lạy tạ chân rời,
Tìm thêm hoa khác bên người mang theo.
Lang thang chợ sớm sông chiều,
Búp sen cùng với thân tiều tụy kia.
Gặp ai anh cũng đưa hoa,
Rằng: hương sen ngát đây là Phật thân.
Người vì thương cõi hồng trần,
Lênh đênh biển khổ muôn phần nổi trôi.
Như hoa thơm giữa bùn hôi,
Hiện ra giải thoát bao người lầm mê.
Tỉnh thôi vào cửa Bồ-đề,
1.800.  Chúng sinh, Phật cũng quy về một tâm.
Anh gieo huệ nghiệp cao thâm,
Tuyên dương chánh pháp cúng dường chúng sinh.
Trải bao bến mộng phù trần
Trầm luân kể biết bao lần nổi trôi.
Cái thân mây hợp đổi dời,
Duy còn tuệ nghiệp đời đời truyền đăng.
Nguyện lòng ròi rõi tâm trăng,
Kết thành ngọc quý hào quanh chiếu ngời.
Đi lên trí huệ tuyệt vời,
Cũng là đi xuống thương người trần lao.
Một thân ba cõi ra vào,
Mười phương hóa hiện mây đào hợp tan.
Bây giờ bi trí vẹn toàn,
Tâm như sen nở vô vàn hào quang.
Dù nơi động biếc sương lam,
Dù nơi ngục tối cơ hàn khổ đau.
Huệ hương thoảng đến đâu đâu,
Là trăng giới định nhiệm mầu hóa khai.”
Nghe xong pháp hội người người
Phát tâm bất thoái độ đời chuyển mê.


Phạm Thiên Thư thi hoá tư tưởng Dàmamùka Nidàna Sùtra (Kinh Hiền Ngu), Trần thị Tuệ Mai nhuận sắc.

Nguồn: Hội hoa đàm, Cơ sở Văn Chương ấn hành, mùa hạ năm Quý Sửu 1973, Sài Gòn, Việt Nam