Chưa có đánh giá nào
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong
Thời kỳ: Hậu Lê, Mạc, Trịnh-Nguyễn

Đăng bởi tôn tiền tử vào 26/01/2015 13:23

Chiêu Dương mộ bạc

Triêu phát Nhị Hà tân,
Mộ bạc Chương Dương độ.
Chương Dương thuỷ thanh liên,
Thảo, thu, yên, hà cổ.
Nhân tụng “Đoạt sáo” thi,
Hồi tưởng Đông A tộ.
Đông A Trùng Hưng gian,
Nguyên binh tự phong vũ.
Tức Mặc kim âu thương,
Chiêu Lăng thạch mã nộ.
Thao thao thực nhục nhân,
Ngột toạ diện như thổ
Hiền tài Hưng Đạo Vương,
Thân gia tổng bất cố.
Trừu đối, kiếm trung thành.
Vi kỳ ngộ công thủ.
Vận trù như Tử Phòng,
Thế thắng tự Tôn Vũ.
Nhất phiến hứa quốc tâm,
Bỉnh bỉnh anh vũ trụ.
Trung nghĩa văn phong khởi,
Mưu lục canh sơ phụ.
Ác cam hoài báo ân,
Mại thán thệ ngự vũ.
Tề nhương sát Thát tì,
Đại triển cầm Hồ thủ.
Tảo thanh Ô Mã trần.
Tùng thác cựu cương vũ.
Mông Cổ liễm binh quỷ,
Bất cảm hướng “đồng trụ”.
Trần gia lại dĩ hưng,
Sơn hà phựu như cố.
Nãi tư: bang kỳ xương,
Tuyền chuyển hệ hiền phụ.
Hiền phụ năng thành công,
Tín nhiệm do nhân chủ,
Giao phu tại binh tố.
Tự cổ hoạch ngã tâm,
Cảnh mệnh bút phú.

 

Dịch nghĩa

Buổi sáng, thuyền xuất phát từ bến Nhị Hà,
Buổi chiều, đậu lại ở bến Chương Dương.
Nước Chương Dương gợn sóng xanh,
Cây cỏ, khói, ráng, sắc xưa.
Nhân đọc câu thơ “Đoạt sáo”,
Bỗng nghĩ đến cơ nghiệp nhà Đông A.
Khoảng niên hiệu Trùng Hưng,
Quân Nguyên như gió bão ập sang.
Âu vàng Tức Mặc bị thương tổn,
Ngựa đá Chiêu Lăng phải tức giận.
Trong triều đình, đầy dẫy những người ăn thịt,
Cứ ngồi trơ như phỗng, mặt xám như đất.
Hiền tài thay! Chỉ một Hưng Đạo Vương,
Thân mình, nhà mình, đều không nghĩ đến.
Giật bỏ bịt sắt đầu gậy giải tấm lòng trung thành,
Ngồi đánh cờ vây, biết rõ thế công thủ.
Vận dụng mưu lược, giống Tử Phòng nhà Hán,
Nắm trước phần thắng tựa Tôn Vũ đời Xuân Thu.
Một tấm lòng hiến thân cho nước,
Rực rỡ chói sáng cả vũ trụ.
Người trung nghĩa nghe phong độ mà đứng dậy
Người mưu trí, dũng lực cũng đua nhau phụ theo.
Tay nắm trái cam, Quốc Toản nặng lòng báo ân,
Làm nghề bán than, Khánh Dư thề chống xâm lược.
Cánh tay thích chữ sát Thát cùng giương cao,
Sách lược “cầm Hồ” triển khai rộng khắp.
Quét sạch bụi nhơ Ô Mã Nhi,
Mở lại cương vực nước nhà xưa kia,
Quân Mông Cổ rút chạy hết,
Không dám hướng về phía “cột đồng nữa.
Nhà Trần nhờ đó được phục hưng,
Non sông lại nguyên vẹn như cũ.
Mới biết: một quốc gia hưng thịnh,
Cuộc xoay chuyển, hệ trọng ở người tôi hiền tài.
Người tôi hiền tài thành công được,
Là do sự tín nhiệm của vua chúa.
Việc tín nhiệm ấy phải thường nhật.
Ngẫm việc xưa, thật đúng với lòng ta,
Cảm cảnh, cất bút viết nên mấy vần.


Lời tự: “Long Bút chu bạc Chương Dương, thích tụng ‘Đoạt sáo’ chi thi, nhân tư Trần Trùng Hưng gian, Nguyên binh nhập khấu, tài đắc nhất Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn vị quốc tận lực, vị nghĩa phân xướng, toại năng tảo thanh Hồ trần, khắc phục cương thổ. Thâm niệm: Cổ kim hưng vong, toàn lại nhậm nhân nhất sự, cảm hứng nhị thập vận.” (Chiều ấy, Long Bút đậu thuyền ở bến Chương Dương, nhân đọc câu thơ “Đoạt giáo” bỗng nghĩ khoảng niên hiệu Trùng Hưng nhà Trần, quân Nguyên sang xâm lược, may được một Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn vì nước hết sức, vì nghĩa khởi xướng nên đã quét sạch bụi Hồ, khôi phục được đất nước. Nghĩ sâu thấy rằng xưa nay, nước nhà hưng hay suy, toàn do ở việc “dùng người”. Nhân cảm hứng làm bài thơ hai mươi vần.)

Bến Chương Dương thuộc xã Chương Dương, huyện Thượng Phúc, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội). Nơi đây Trần Quang Khải và Trần Hưng Đạo đã phá tan quân Nguyên, khôi phục kinh thành Thăng Long.

Nguồn: Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (tập 3), NXB Văn học, 1976