春日有感其二

已分田園十六期,
沉思往事日增悲。
迂疏舊學生何補,
老病殘年死固宜。
風雨晦冥天眼閉,
菊松彫謝哲人萎。
出身幸免隨身紙,
若對先君尚有辭。

 

Xuân nhật hữu cảm kỳ 2

Dĩ phận điền viên thập lục kỳ,
Trầm tư vãng sự nhật tăng bi.
Vu sơ cựu học sinh hà bổ,
Lão bệnh tàn niên tử cố nghi.
Phong vũ hối minh thiên nhãn bế,
Cúc tùng điêu tạ triết nhân nuy.
Xuất thân hạnh miễn tuỳ thân chỉ,
Nhược đối tiên quân thượng hữu từ.

 

Dịch nghĩa

Đã yên phận ở nơi vườn ruộng mười sú năm rồi
Ngẫm nghĩ việc đã qua càng ngày càng thêm buồn
Lối học cũ viển vông sống có ích gì?
Tuổi già hay đau ốm chết đi cũng phải
Mưa gió mịt mù tựa như trời nhắm mắt
Cây tùng cây cúc héo rụng người hiền triết suy tàn
May mà xuất thân khoa mục được miễn đeo thẻ tuỳ thân
Có gặp ông cha ở chín suối còn có điều để mà thưa thốt


Rút từ Quế Sơn thi tập (A.469).

Nguồn: Trần Văn Nhĩ, Tuyển tập thơ chữ Hán Nguyễn Khuyến, NXB Văn Nghệ, 2005

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Đỗ Đình Tuân

Mười sáu năm yên chỗ ruộng vườn
Chuyện qua nghĩ lại lại thêm buồn
Viển vông học cũ thành vô dụng
Già lão bệnh nhiều chết tốt hơn
Mưa gió mịt mù trời nhắm mắt
Người hiền vắng vẻ cảnh hoang tàn
Xuất thân khoa mục miễn đeo thẻ
Có gặp ông cha cũng đỡ phiền

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Trương Việt Linh

Mười sáu năm yên phận ruộng vườn,
Việc qua, trông lại nghĩ mà thương.
Viển vông học cũ tuồng vô dụng,
Già bệnh năm suy chết chẳng buồn.
Tùng cúc xác xơ người vắng vẻ,
Gió mưa sùi sụt cảnh hoang lương
Xuất thân khoa mục không đeo thẻ,
Thưa với cha ông chốn suối vàng.

Chưa có đánh giá nào
Trả lời