中秋無月三日後忽然晴感作

平野已無山水遊,
兼之瑟瑟西風愁。
不知何處隱明月,
乃使此翁搔白頭。
唾罵文章成變雅,
蕭條景色入聲秋。
忽然晚見陰雲散,
竹影橫竿一小舟。

 

Trung thu vô nguyệt, tam nhật hậu hốt nhiên tình, cảm tác

Bình dã dĩ vô sơn thuỷ du,
Kiêm chi sắt sắt Tây phong sầu.
Bất tri hà xứ ẩn minh nguyệt,
Nãi sử thử ông tao bạch đầu.
Thoá mạ văn chương thành biến nhã,
Tiêu điều cảnh sắc nhập thanh thu.
Hốt nhiên vãn kiến âm vân tán,
Trúc ảnh hoành can nhất tiểu chu.

 

Dịch nghĩa

Ở đồng bằng đã không có núi sông để du ngoạn,
Lại thêm gió Tây hiu hắt làm cho người ta buồn.
Không biết trăng sáng ẩn náu ở nơi nào,
Khiến cho ông già này chỉ gãi mái đầu bạc.
Văn chương mỉa mai thành ra thể biến nhã,
Cảnh tượng tiêu điều hoà vào sắc thu trong.
Bỗng nhiên chiều về mây đen tan đi,
Trong bóng trúc một con thuyền nhỏ gác ngang cây sào.


Rút từ Quế Sơn Tam nguyên thi tập (A.3160).

Nguồn:
1. Thơ văn Nguyễn Khuyến, NXB Văn học, 1971 (tái bản 1979)
2. Thi hào Nguyễn Khuyến: đời và thơ, Nguyễn Huệ Chi chủ biên, NXB Giáo dục, 1994
3. Tuyển tập thơ chữ Hán Nguyễn Khuyến, Trần Văn Nhĩ, NXB Văn nghệ, 2005

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Đỗ Ngọc Toại

Đồng quê sông núi có gì dâu,
Heo hắt hơi may lại gợi sầu.
Chẳng biết dì trăng đâu nấp bóng,
Để cho ông lão những vò đầu.
Văn chương mai mỉa đều thay giọng,
Phong cảnh đìu hiu đã nhuốm thu.
Bỗng thấy mây tan trời lại sáng,
Bóng tre thấp thoáng chiếc thuyền câu.

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Du ngoạn đồng quê không núi sông,
Hiu hắt gió tây buồn gợi lòng.
Không biết nơi đâu trăng ẩn náu,
Khiến cho già lão gãi đầu trông.
Văn chương biến nhã thành mai mỉa,
Cảnh tượng tiêu điều sắc thu trong.
Bỗng nhiên chiều đến mây tan biến,
Bóng trúc con thuyền sào gác không.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời