08/02/2023 17:32Thi Viện - Kho tàng thi ca Việt Nam và thế giới

Trung thu vô nguyệt, tam nhật hậu hốt nhiên tình, cảm tác
中秋無月三日後忽然晴感作

Tác giả: Nguyễn Khuyến - 阮勸

Thể thơ: Thất ngôn bát cú; Nước: Việt Nam; Thời kỳ: Cận đại
Đăng bởi tôn tiền tử vào 08/07/2017 00:08

 

Nguyên tác

平野已無山水遊,
兼之瑟瑟西風愁。
不知何處隱明月,
乃使此翁搔白頭。
唾罵文章成變雅,
蕭條景色入聲秋。
忽然晚見陰雲散,
竹影橫竿一小舟。

Phiên âm

Bình dã dĩ vô sơn thuỷ du,
Kiêm chi sắt sắt tây phong sầu.
Bất tri hà xứ ẩn minh nguyệt,
Nãi sử thử ông tao bạch đầu.
Thoá mạ văn chương thành biến nhã[1],
Tiêu điều cảnh sắc nhập thanh thu.
Hốt nhiên vãn kiến âm vân tán,
Trúc ảnh hoành can nhất tiểu chu.

Dịch nghĩa

Ở đồng bằng đã không có núi sông để du ngoạn,
Lại thêm gió tây hiu hắt làm cho người ta buồn.
Không biết trăng sáng ẩn náu ở nơi nào,
Khiến cho ông già này chỉ gãi mái đầu bạc.
Văn chương mỉa mai thành ra thể biến nhã,
Cảnh tượng tiêu điều hoà vào sắc thu trong.
Bỗng nhiên chiều về mây đen tan đi,
Trong bóng trúc một con thuyền nhỏ gác ngang cây sào.

Bản dịch của Đỗ Ngọc Toại

Đồng quê sông núi có gì dâu,
Heo hắt hơi may lại gợi sầu.
Chẳng biết dì trăng đâu nấp bóng,
Để cho ông lão những vò đầu.
Văn chương mai mỉa đều thay giọng,
Phong cảnh đìu hiu đã nhuốm thu.
Bỗng thấy mây tan trời lại sáng,
Bóng tre thấp thoáng chiếc thuyền câu.
Rút từ Quế Sơn Tam nguyên thi tập (A.3160).

Nguồn:
1. Thơ văn Nguyễn Khuyến, NXB Văn học, 1971 (tái bản 1979)
2. Nguyễn Huệ Chi, Thi hào Nguyễn Khuyến: đời và thơ, NXB Giáo dục, 1994
3. Trần Văn Nhĩ, Tuyển tập thơ chữ Hán Nguyễn Khuyến, NXB Văn nghệ, 2005
[1] Nhã là một thể thơ trong Kinh thi, được dùng với nhạc để hát trong các buổi lễ hoặc hát cho vua nghe ở triều đình. Nói chung nhã có nội dung ngợi ca, nhưng từ khi chính sự nhà Chu nhiều sai lầm, các bài thơ này có nội dung phê phán, tố cáo nên gọi là biến nhã.

In từ trang: https://www.thivien.net/ » Nguyễn Khuyến » Trung thu vô nguyệt, tam nhật hậu hốt nhiên tình, cảm tác