秋夜砧聲

更深霜重晏裘輕,
四顧寒砧枕畔縈。
搗月高低侵角嚮,
隨風斷續半虫聲。
驚回戍婦襄城夢,
喚起征夫魏闕情。
一種幽愁消未得,
遠山何處又鐘鳴。

 

Thu dạ châm thanh

Canh thâm sương trọng Án cừu khinh,
Tứ cố hàn châm chẩm bạn oanh.
Đảo nguyệt cao đê xâm giác hưởng,
Tuỳ phong đoạn tục bán trùng thanh.
Kinh hồi thú phụ Tương Thành mộng,
Hoán khởi chinh phu nguỵ khuyết tình.
Nhất chủng u sầu tiêu vị đắc,
Viễn sơn hà xứ hựu chung minh.

 

Dịch nghĩa

Canh khuya sương nặng áo khoác nhẹ,
Bốn bề tiếng chày đập vải quanh quẩn bên gối.
Dưới trăng tiếng nghe cao thấp át cả tiếng tù và,
Theo gió đứt nối lẫn với tiếng côn trùng.
Khua tỉnh giấc mộng Tương Thành của người vợ lính mong chồng trở về,
Gợi dậy lòng ham muốn công danh của kẻ chinh phu.
Một thứ u sầu chưa tiêu tan được,
Từ núi xa nào đó lại có tiếng chuông ngân.


 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (3 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Đỗ Đình Tuân

Canh khuya áo nhẹ sương dày
Nghe quanh bên gối tiếng chày gần xa
Thấp cao át tiếng tù và
Dưới trăng đứt nối lan hoà tiếng sâu
Mộng hồn thú phụ tan mau
Gợi tình nguỵ khuyết mối sầu chinh phu
Khối buồn mãi chẳng tan cho
Núi xa đâu đó chuông chùa lại ngân

tửu tận tình do tại
15.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Canh khuya áo khoác nhẹ sương dày,
Bên gối bốn bề vang tiếng chày.
Át tiếng tù và nghe cao thấp,
Hoà thanh đứt nối côn trùng bay.
Vợ lính Tương Thành khua tỉnh mộng,
Công danh nguỵ khuyết chinh phụ sầu.
Một thứ lo buồn chưa tan được,
Non xa nào đó vọng chuông lầu.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Đất Văn Lang

Đêm muộn sương dày áo mỏng tanh
Bốn bề chày động, giấc loanh quanh
Hích trăng lên xuống, chen hồi trống
Bẻ gió nhặt thưa, át giọng sành
Khua giấc đoàn viên người thiếu phụ
Khởi niềm công trận kẻ tham danh
Cảm xúc u buồn chưa dứt được
Chuông từ núi thẳm nhịp sang canh

Đất Văn Lang
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời