Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Lục bát
Thời kỳ: Hậu Lê, Mạc, Trịnh-Nguyễn
Đăng bởi Vanachi vào 03/10/2008 12:33

Vận lành Mậu Tý (1768) đầu xuân,
Xin dâng một truyện binh dân đương thì.
Trộm xem thánh chúa hữu vi,
Quảng khai ngôn lộ tình thuỳ binh dân.
Xin làm quốc ngữ phơi trần,
Dãi bề chân thực dám phần sai ngoa
Bình thì quốc chi trảo nha,
Đêm ngày bảo vệ quốc gia vững bền.
Can qua súng ống cung tên,
Thân nghiêm hiệu lệnh tập rèn cho mình.
Gọi là phụ tử chi binh
Dĩ đối bất đình ngoại quốc nan đương.
Thời xưa Chu Vũ mở Thương
Đánh Trụ tác vạn, quân thường ba muôn.
Hoàn Công, Ngô Khởi, Vũ Tôn
Mở được các nước danh còn sử xanh.
Xem thì chẳng mấy vạn quân
Bởi chưng thất kế lại tinh điển mười.
Nghĩ trong Hữu Việt dĩ lai
Binh số thăng mười mã số tam thiên.
Danh tướng kể ngoài trăm viên
Giữ trong bản quốc chưa yên chưa giầu.
Còn nghe thử thiết cẩu thâu
Sơn giảo thuỷ phỉ quấy hầu biên phương.
Nghĩ rằng binh thế chưa cường
Cho nên nguỵ đảng khiêu lương tung hoành.
Ví xây muôn dặm trường thành
Sao bằng sỗ tốt đồng lòng nhất tâm.
Binh dùng nhật phí thiên câm (kim)
No ăn thế khoẻ thửa lâm vô tiền.
Chữ rằng dĩ thực vi tiên
Thiếu ăn chưa dễ khoẻ bền được ru?
Tiết này binh thiếu số hư
Công sai nhiều việc sĩ sư lao cần.
Nắng mưa rét mướt nhọc nhằn
Một năm chưa dễ mấy lần nghỉ ngơi.
Lại thêm trời đất nắng nôi
Khẩu phần thì ít còn vui nỗi gì.
Việc quan kể bất cập kỳ
Lương nghiêm lương đém tiền thì những vay.
Cuối về nợ kể từng ngày
Lấy chi ăn rày giữ được việc quan
Trong nhau nào dám thở than
Đi về thì những kêu vang người nhà.
Kẻ thì kêu mẹ kêu cha
Kẻ thì nhắn vợ gửi ra ăn rày.
Phần thì gánh việc quan thầy
Gánh nước bổ củi cùng tày nô nhân.
Việc quan cậy đã có quân
Nhất nhất sự vụ để phần phó cho.
Nào hay quân đói quân no
Sai ra thì phạt thủ bò thủ trâu.
Khá ra thì lính quân triều
Quân ngoài thì cũng như nhau khác gì
Ngạn ngôn lính bắc thứ nhì
Dại khi lâm trận còn thì sức đâu.
Chữ lạc dùng đã bảo nhau
Chi ai chí nấy kết đầu lắng tai.
Lại nói đến chương thứ hai
Dân vi quốc bản chẳng sai tơ hào.
Cổ kim dân có khác nào,
Dục an dục tức ố lao thói thường
Dân Chu vốn là dân Thương
Tần, Hán, Tuỳ, Đường, Triệu Tống, Minh Thanh
Tuy rằng dịch tính cải danh
Song dân vốn giữ chữ lành là dân.
Nhược thiện thì chịu làm thần
Nhược bằng bất thiện phản thân vi thù.
Năng tải chu năng phúc chu
Thuỷ hành nghĩ vỗ dân ngu chi tình.
Tiết này hải nội tạm bình
Thánh vương cầu trị lệ tinh đêm ngày.
Dưới dân lạc nghiệp cấy cày
Một niềm mộ trị chẳng khuây khắc thì.
Quân khả vi thần khả vi
Miếu đường chẳng đấng Cao, Quỳ hay lên.
Muốn cho Nghiêu nhật Thuấn thiên
Tôn vinh đều hưởng phúc miên vô cùng.
Nhân sao tuế hạn niên hung
Trị chưng chưa đến thì ung thái hoà.
Nghĩ rằng tệ tập do đa
Dân tình uất kết ắt là khôn thông.
Trước xin kể việc dân nông
Một năm hai vụ tô dung thường liền.
Lại gia tô lại nộp tiền
Phần quan cai tạm khách trên trong làng.
Phần thì châu thổ tàm tang
Đình môn bắt lính, phần đường lộ đê.
Phần thì tiền dịch đi về
Quan ngang khách tạm bút kê khôn tường.
Sau lại kể nỗi dân thương
Bán buôn đồng chước mọi đường mọi khôn.
Ba khúc sông lại tuần đồn
Đốt chình ra mỡ dân buôn chau mày.
Nha môn biện lại những vây
Ai cắm sào rày kiện với tuần ty ?
Thuế nặng cũng phải nộp đi.
Buôn bán có chợ búa có phiên
Các nghề công cũng lòng phiền
Thế nào cũng phải lấy tiền mà giơ.
Việc quan kể khắc kể giờ
Lộ cho ép tác mới nhờ được lâu
Vắng thì lại phải thôi câu
Tổn công thiệt của vò đầu những van.
Vĩ chỉ là kẻ sĩ hàn
Ba năm đèn sách tân toan đêm ngày.
Khoa cầu hiền mở rộng thay
Dẫu sao cũng phải tiền này mới xong.
Ví dù đi khảo sao thông
Cũng hết hai ngạc mới cùng được tên.
Thứ thông nộp ba quan tiền
Tư cảm cầu hiền ích quốc phải chăng.
Cao đại đều phải nói năng
Còn trong tiểu kỷ chưa bằng lòng dân.
Huyện lệnh vi dân chi thân
Bổng nhậm công thần tử đệ cao lương.
Chữ dưỡng dân học chưa tường
Ròng có một đường cờ bạc muông săn.
Xúc điêu toa kiệm kiếm ăn
Trị dân những lấy thế thần mà giơ.
Trong thiện chính đã thờ ơ.
Làm dân cao kiệt bấy giờ mới thôi.
Vả thêm hoại lại khuấy khoi,
Ăn có một ngồi giữ tiệc bút đao.
Dân tình nào có hay sao
Gặp được nhà kiện như Lào thấy diêm
Hại dân đố quốc chẳng hiềm
Xâm ngơ há biết công liêm thế nào?
Bổng lộc dân chi dân cao
Trong mười sự nào quy một ở dân.
Cho nên dân phải cơ bần
Cốc diện ưng thần trà sắc thuyền tâm
Nhìn nhiều lâu chịu cát lầm
Trong dạ âm thầm chưa được nghỉ ngơi.
Đua nhau làm nát dân trời
Bòn nơi khố rách đãi nơi quần hồng.
Tống xưa thập thất cửu không
Thì nay cũng đồng chẳng kém mấy phân.
Tính rằng chẳng những một dân
Lại nan đến thần bắt nhặt bắt khoan.
Người thì ở trên dương gian
Biết thần mấy bước mà bàn mà suy?
Ví dù có tiếm hành nghi
Phó mặc thần kỳ chiếu thứ bắt nhau.
Vạn dân lòng muốn sang giầu
Muốn thọ quốc mạnh muốn cầu khang ninh.
Muốn thần tối tú tối linh
Trước hộ triều đình sau hộ vạn dân.
Chữ rằng thần đắc y nhân
Kính thần thần tại quy ân cho người.
Rày hiềm u mặc thẳm khơi
Chính kỳ thân nhiễu thần trời ngẩn ngơ.
Ngu dân sắm sửa đồ thờ
Rày đem phân hoá cột tờ long ngai
Huỷ từ mủ áo cây đai
Dùi đồng, phủ việt, ống hài, roi son.
Phá từ tàn tán kiệu đòn
Bất thuận nhi mục dân còn ngán la.
Ngu dân còn sự thân tà
Tính làm thế ấy ắt là chẳng yên
Dam xin đội đức bề trên
Mới lên bảo vị thay quyền trị dân.
Thiên hạ khắp hết xa gần
Đều được ngóng cổ gội nhuần ân quang,
Nên tài Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang,
Muốn chư di với bát man lai thần
Ngửa xin cách cố đỉnh tân
Dưỡng dân vả lại vì dân vi tiền
Duyệt dân sau lại thuận thiên
"Thiên nhân nhất lý" thánh hiền thốt di
Trị di Nghiêu Thuấn tương kỳ
Đường Ngu bất cập ắt thì Thương Chu.
Tôi nay tài thiển trí ngu
Cảm trần nghĩ khốn đặt vu long đình
Kíp xin hưu dưỡng lấy binh
Binh cường sĩ lệ ắt bình man di
Tính tra các đội các cơ
Lương dân nào thiếu tức thì ban dân.
Quả thắng chúng vụ long ân
Quân nào khó nhọc gia phân cho tường
Chữ rằng thực túc binh cường
Tước nơi ngụ lộc tăng lương quân ngoài.
Cử truyền cho các quan cai,
Chăn quán thì chớ để hoài trong quân.
Việc quan thì cũng có ngần
Chẳng phải gia thần muốn vậy muốn sao.
Củi cây công lính tiếc nào
Thôi vườn lại bắt xuống ao tức thì
Tệ tập cũng phải trừ đi,
Dĩ thư binh lực kẻo thì chẳng hay.
Chư quân khó nhọc đã đầy
Dẹp Nam đánh Bắc kể rày mấy đông.
Tính từ Đồ Tế, Luân Bồng
Cống Từ, Cống Cảnh xứ động Họ Nành.
Ngân già, Sư Quan, Cống Anh
Cơm, Ngũ Phó, Quận Thành, Quận Tương,
Ninh Động, Quận Hoa, Quận Đường,
Kẻ chẳng xiết giặc cho tường làm chi.
Chúng đều kinh sự binh uy
Thế như lặp léo nhất thì phá hoang.
Vĩ Chi Nghịch Chất, Nghịch Hoàng
Tiễu trừ há chẳng có đường cho cam.
Xua binh vào chốn sơn lâm
Hưng sư đương tiết chính hàn mùa đông.
Đi không thì lại về không
Chịu những chướng khí nên công lênh gì
Dĩ man di công man di,
Nào trong chước ấy liệu thì vận ra.
Dám xin hưu dưỡng binh ta
Cùng sơn sách thú nữa mà bì lao
Đế vương dùng các chước nào
Vạn toàn chi thuật rất cao rất mầu
Cường binh chước có khó đâu
Dưỡng được dân giầu binh mới no ăn.
Đời xưa nhà Hán Hiếu văn
Lên ngôi dân cũng khó khăn có gì
Một niềm tiết kiệm vô vi
Vụ khuyến dân thì đại xá dân tô
Ngay sau nhà đủ người no
Quốc cấp dân phú kể cho vua hiền.
Ngửa xin trị giám ở tiền
Biết cơ trị loạn biết quyền hưng suy.
Gia tô gióng ắt triệt đi
Quy dân vụ bản về thì canh nông
Chính tô phú lệ đã xong
Ngoài tiền xin chước cho lòng dân vui.
Hoành chinh các việc nên thôi
Để dân phục hồi lập nghiệp làm ăn.
Dám xin cũn hoãn việc tuần
Thông hành buôn bán cứu lần dân cơ.
Tiết này dân rối như tơ
Đại đức bây giờ xin gỡ cho dân.
Cây khô đã được đức xuân
Ắt la đượm nhuần thôi lại rườm ra.
Thổ mộc công cũng nên tha
Thí sĩ ắt là phục cổ cho nghiêm
Huyện quan muốn trạch công liêm
Triều đình cứ phẩm cử lên từng người.
Việc tiến hiền chẳng phải chơi
Được mới trọng thưởng chẳng dời phép công.
Bất tiếu thì phạt chẳng không
Có như phép ấy mới dùng tuần lương
Ví dụ lại muốn cho tường,
Cấp dân chế lộc cho thường đủ ăn.
Các đường quân tệ cấm ngăn,
Ấy ai là chẳng hay chăn dân lành
Dân yên vốn tại quan thanh
Ngửa thông đại đức xin dành lộc đâu.
Hoạt lại chí vốn tham cầu,
Cổ kim đã bác biết đâu mà phòng.
Dám xin tỉnh bớt cho xong
Một nha môn để một người tả thư.
Với cho giữ lấy án từ
Nhất chi túc hĩ cấp nhiều làm chi.
Lại xin trong việc thần kỳ
Nhân thần tạp tử chính thì kham nên
Bề trên ngôi báu mới lên
Hạn can xích địa nguyên nguyên thán đồ
Ngửa xin kíp cứu dân tô
Việc ấy thửa hoãn kẻo đồ tổn dân
Việc binh dân đã cụ trần
Tồn dự xin lại thượng văn sinh tài
Quốc vô tài sĩ bất lai
Trong quân sấm đã chẳng sai đâu là.
Bắc nhân lý tài nước ta
Nhân sao chẳng biết để mà phòng nguy.
Nước Nam có thiếu vật chi
Thiếu một thuốc bắc ấy thì phải mua
Còn trong phương vật chẳng thừa
Tuỳ kỳ tạo sản tình thô đủ dùng
Nó sang bòn lấy từng đồng
Tàu về bản quốc tiền dòng vạn thiên
Chẳng tin lấy một quan tiền
Còn mấy đồng cũ cho yên kẻo ngờ.
Thánh vương tức vị lúc sơ
Việc ấy xin trừ, kẻo hết tiền đi.
Trong thì thanh tĩnh vô vi
Cổ xưa Nghiêu Thuấn cựu quy thế nào
Xem người kiệm đức làm sao
Niêm trên ốc bích ra vào ngự soi.
Thành Thang trách đã sao khôi
Bào thư, nữ yết xin đòi tính tra.
Đủ dùng xin chớ quá xa
Dùng độ tước việt hoá ra hao tài.
Hán Văn mong lập một đai
Tiếc ngàn vàng lại thôi bài mộc công
Phu nhân yêu nhất trong cung
Y bất đệ địa tướng dùng vô văn
Tiền nong cho voi ngựa ăn
Trộm nghe cũng tồn ngợi phần tiện nghi
Một việc là một bớt đi
Ấy trong phủ khố mới thì thực sung
Lại xin thu các mỏ đồng
Chở về bắt thợ ra công đúc tiền
Lại ra những chốn hoang điền
Cùng sinh cốc thổ các bền phên ly
Dời dân khiến về khản đi
Làm cho kỹ lưỡng ấy thì canh vân
Du thủ du thực chi dân
Khiến về nam mẫu các cần canh nông
Đại thương trần túc phủ hồng
Kinh tiền luỹ vạn tư công đều giầu.
Thế thì hưởng lộc dài lâu
Kể dư thiên tuế sách hầu Thương, Chu.
Tôi nay tài thiển thô phu
Trông lo nhất sự trần vu bệ rồng.
Phục vọng thánh đức cao thông
Thuỳ tình ngự lãm phó công ban hành.
Chữ rằng chước canh tắt canh
Sửa trong quốc chính ắt đành thuận thiên
Hạn can chuyển tác phong niên
Để trong thiên hạ được yên thái bình.


Bài thơ Nôm này được Ngô Thì Sĩ viết năm 1768 dâng lên chúa Trịnh. Lúc bấy giờ ông đang giữ chức Hiến sát sứ Thanh Hoá, theo chỉ dụ của phủ Chúa, ông viết bài khải "Binh dân luận" bằng tiếng mẹ đẻ trình bày quan điểm của mình về việc xây dựng quân đội, chăm nom đời sống của nhân dân... Nguyên bản viết bằng chữ Nôm theo lối văn lục bát. Bài khải dâng lên, được chúa Trịnh ban thưởng, chính nhà sử học Phan Huy Chú trong sách "Lịch triều hiến chương loại chí" đã ghi nhận điều này: "Ông (chỉ Ngô Thì Sĩ) viết Binh dân luận, dâng lên được Chúa khen thưởng và nghe theo".

Bài khải dâng lên cùng lời tấu như sau:
"Thần là Ngô Thì Sĩ kính cẩn dâng khải trình bày sự việc: Nay đội ơn Thánh thượng rủ lòng thương đến binh dân, mở đường ngôn luận, cho thần dân được dâng lời bàn việc. Thần tuy kiến thức nông cạn kém cỏi, không đáng được bàn đến việc quốc gia đại sự, song đã được hỏi đến, há lại không gắng gỏi đem những điều ấp ủ trong lòng mà viết ra bài Binh dân luận Quốc ngữ để dâng lên hay sao? Cúi trông đức cả cao minh rủ lòng thu nạp, đó là điều thần mong mỏi lắm vậy.

Kính cẩn dâng khải."

Nguồn: Tạp chí Hán Nôm, số 2/1989