Thơ » Việt Nam » Khuyết danh Việt Nam » Thơ dân gian » Vè, đồng dao » Vè nghề nghiệp
Đăng bởi tôn tiền tử vào Hôm nay 16:10
Nay mừng các thợ trong làng,
Thợ mộc, thợ xẻ, thợ nan, thợ nề.
Thợ mộc khéo chạm con quy,
Khéo chắp con hạc để đi đường tàu.
Nay làm gác phượng, kim lâu,
So về thợ khéo đứng đầu nghề công.
Khéo tạc phượng, khéo trổ rồng,
Ơn vua được rước sắc phong vừa rồi.
Thợ nề tải cả em ơi!
Tường cao nghìn trượng ngút trời cũng xây.
Tay bai, tay thước nần nầy,
Khi thì đắp nạ, khi xây lâu đài.
Thợ xẻ tính nết khoan thai.
Mực Tàu nẻ thẳng không ai dám bàn.
Thầy thầy tớ tớ nghênh ngang,
Trước đám nhà trước, sau làm đám dân.
Trong tay mực thước không lầm,
Chồng rường cây gỗ chắp mâm mới màu.
Thợ nan đan bản, đan gầu,
Đan từ xiển cọ mủng dâu mới là.
Thước đan nống, tấc lại đan nia,
Thẩn thơ ngày Thuấn mùa hè nghênh ngang.
Bỗng may thiếp mới gặp chàng,
Đã đành phận thiếp duyên vàng phải vay?
Lạ lùng anh mới tới đây,
Bây giờ kể đến thợ may có tài.
Đem ra dấu trí cho hay,
Ra tay thước, vạch không ai đo bằng.
Đường tà, đường chéo, đường thân,
May từ cái áo cử nhân, tú tài.
May áo chẽn, may áo dày,
May áo phượng múa rồng bay mới là.
May rồi lại mặc cho ta,
Cùng là quần lượt áo là phủ che.
Thợ Nhồi đục những giống gì?
Đục con người ngọc mà đi hài vàng.
Đục ra đôi dãy thanh lan,
Trong triều phượng múa, ngoài làng thảnh thơi.
Phòng khi chàng có đi chơi,
Mời chàng nghỉ lại chơi đôi ba ngày.
Ấm xà tích, khay vinh quy,
Lấy trầu thiếp đãi một khi chàng mời.
Thợ sơn người thế trên đời,
Sơn từ gác phượng, những nơi tường đào.
Sơn lọng chóp bạc, sớm ngựa long châu,
Ơn vua bái tạ quỳ tâu trăm mùi.
Mùi sơn lạt, mùi sơn tươi,
Mà mùi sơn hãm, sơn bồi nghiêm trang.
Mùi thiếp bạc, mùi trổ vàng,
Xong rồi lại hoạ một đàn tiết chi.
Thợ vẽ vẽ những giống gì?
Vẽ tranh thập điện mà đi...
Vẽ vô bức trướng thanh lan,
Hoa vô diềm chỉ để nàng thêu theo.
Hay là nghĩ phận giàu nghèo,
Công vay nợ trả cố theo học hành.
Thợ xay người thế cũng xinh,
Nhất mộc tứ trụ ngoài thành bằng tre.
Ngày xưa ông cống, ông nghè,
Cũng nhờ đôi thớt xay tre nên mà.
Tớ thầy là kẻ lương gia,
Nhất trên vạn mộc, dưới mà dăm xay?
Thợ nhuộm người thế cũng tài,
Giống chàm mà nhuộm được hai ba mùi.
Lam xanh sao khéo tô bồi,
Còn như giống nhiễu, giống sồi đã quen.
Mùi quảng đại, mùi hoa hiên,
Mùi phẩm lục lại, mùi huyền ô giang.
Khen thay bác mẹ nhà nàng,
Khéo nhuộm mùi đỏ, mùi vàng, mùi xanh.
Đôi bên xe mối chỉ tình,
Tài này sắc nọ cho rành đồng cân.
Xa xôi xích lại cho gần,
Mà coi thợ bạc đang nung nấu vàng.
Từ ngày lửa bén hơi than,
Vàng ba chục bảy kéo ngang vàng mười.
Vàng đồng, vàng lá em ơi,
Có khi biết cả xà tích, ống vôi, ấm trà.
Có khi biết cả lược ngà,
Trông xem cái lược đánh ba, bốn đồng.
Bản lề, khoá tráp niêm phong,
Mở ra lại thấy vợ chồng người ta.
Thợ rèn khôn khéo thay là,
Cứng như sắt nguội nung ra lại mềm.
Trong nhà đôi thợ đàn em,
Khéo tôn quan bác mà rèn cho tinh.
Một đe hai búa rập rình,
Chè Tàu thuốc giấy ra tình vẻ vang.
Rèn nên cái đục, cái chàng,
Rèn cái bào thẳng, bào ngang mới là.
Rèn rìu, rèn búa cho ta,
Rèn con dao cạo để mà cạo ngôi.
Phòng khi dao cạo gặp người,
Vẻ vang cành ngọc những nơi anh hào.
Kề đùi, kề vế cùng nhau,
Kẻ trên người dưới, giường Tàu lét ngang.
Bỗng may thiếp mới gặp chàng,
Đã đành phận thiếp duyên vàng dài lâu.
Mình về ta những âu sầu,
Còn như thợ lưới bể sâu khôn dò.
Bể sâu thời đánh cá to,
Tốt gió lại chạy buồm lò cho êm.
Mành kia lại có nốc kền,
Gỗ vênh khéo lựa mới nên thợ cày.
Thợ cày khôn khéo ai tày,
Đo mũi, trổ náng không ai mực thầm.
Sau ra ném lát cày lên,
Cấy trăm thứ lúa cốc hoà phong đăng.
Bình luận nhanh 0
Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.