Thơ » Việt Nam » Khuyết danh Việt Nam » Thơ dân gian » Vè, đồng dao » Vè địa danh, lịch sử, xã hội
Đăng bởi tôn tiền tử vào 03/05/2026 12:22
…Đời vui mới nhóm trong lòng,
Mĩ dùng sắt thép giữa chừng đập tan.
Chà đi xát lại, quét càn,
Giết người đốt phá dã man khôn cùng.
Oán thù dậy cả núi sông,
Còn chi giữa đất Lợi Nông không nờ!
Hai con ông Huấn còn thơ,
Một con ông Ôi, bi bô nói cười.
Một lần Mỹ giết một rồi,
Chị Năm và con nhỏ khắp người bị thương.
Ông Kèo mắt chẳng thấy đường,
Tuổi già lụm cụm phứt năn dưới bàu.
Bắn ông ngã giữa bùn sâu,
Già nua tàn tật Mỹ đâu có chừa.
Mụ Cách soi tép bên bờ,
Mĩ ra phục kích, bắn bừa gãy tay.
Ông Khâu bị giặc đoạ đày,
Lưỡi câu sắc ngạnh húc ngay trong mồm.
Lưỡi đau, miệng ứa, máu tuôn,
Bên trong chúng doạ: “Liệu hồn mà khai!”
Chị Thê bụng dạ mang thai,
Xà phòng hoà nước đổ hoài phình to.
Đổ rồi chúng mới co giò,
Đạp lên bụng chị, nước cho ra ngoài.
Mạ chị chúng đánh ngất người,
Trước sau chẳng có một lời nói năng.
Tám lần giặc bắt chị Tằm,
Khảo tra đủ kiểu, đủ vành chưa thôi.
Lấy sáo cuốn kín quanh người,
Đem dìm xuống nước, dận rồi kéo lên.
* Chi, O Vệ, ông Biên
Cũng bị giặc bắt, dấn chìm dưới sông.
Rắp tâm chôn sống ông Cung,
Hầm sâu lấp đất, buộc ông quy hàng.
Bao nhà xơ xác tan hoang,
Bơ vơ trẻ nhỏ khăn tang trắng đầu!
Thù sâu, quyết trả thù sâu,
Lẽ nào cam chịu cúi đầu ngồi yên?…
Bình luận nhanh 0
Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.