Thơ » Việt Nam » Khuyết danh Việt Nam » Thơ dân gian » Vè, đồng dao » Vè địa danh, lịch sử, xã hội
Thơ » Việt Nam » Khuyết danh Việt Nam » Thơ dân gian » Vè, đồng dao » Vè châm biếm thói hư tật xấu
Đăng bởi tôn tiền tử vào Hôm qua 21:54
Trời cao đất thấp, ta lập chuyện vè,
Ai ơi náu lặng mà nghe cho tường:
Trên ta ba xóm thượng phường,
O Mười quan Huấn chửa hoang, đẻ rồi.
Sao không biết xấu biết trơi,
Gái mới mười bảy cũng đòi nằm lang.
Con nhà quyền quý giàu sang,
Con quan cháu cụ đâu phải phường ngu dân.
Cũng thì bưng bát cơm ăn,
Dại hơn những giống bốn chân giữ nhà.
Con đang có mẹ có cha,
Dầu cha đi vắng, mẹ nhà làm chi?
Vì chưng tính mẹ hay tuỳ,
Để cho con muốn làm chi thì làm.
Hư ăn rồi lại ở phàm,
Đứa ở với lại người làm khổ to.
Miếng ngon thì giữ bo bo,
Một mình ăn uống để cho đầy lòng,
Cơm thời cá, thịt, tôm, lòng,
Ăn lo rực mỡ, thêm lòng nguyệt hoa.
Tối thì mẹ ngủ trong nhà,
Con thì mở cửa vô ra chơi bời.
Bảo người cõng lộn quanh cươi,
Đi đi lại lại giỡn cười trót đêm.
Mèo đâu thấy mỡ chẳng sèm,
Đã thu còn lục, huống đem để quàng.
“Đàn ông tính khí loang toàng,
Đàn bà con gái dịu dàng nết na.”
Khi đi cùng chị, khi trẩy cùng cha,
Vô ra cười cợt ai mà nỏ gheo.
Có khi xe đạp dập dìu,
Trước trai, sau gái sớm chiều vui thay!
Trần gian ai cũng như ai,
Gái không biết giữ thì trai lọt vào.
Nhà mình cửa kín tường cao,
Lập nghiêm ai dám lọt vào chi đây.
Vì chưng rực mỡ làm hay,
Cho nên mới chửa ngày rày bụng vênh.
Bây giờ đã đến ngày sinh,
Dối rằng đau bụng ôm mình van la.
Van trời, van đất, van cha,
Đau như hằn rứa thật là chết thôi!
Bà Huấn nghe nói bồi hồi,
Nhủ người lật đật chạy xuôi Cầu Đền.
Mời ông Cư với ông Hàn lên,
“Con la đau bụng lên nhìn cho ta”.
Hai ông mới lên đến nhà,
Con bà trông thấy dức la tức thì:
- “Hai ông lên đó làm chi,
Tau đau bụng tả lên chi cho rầy!“
Hai ông nghe nói ngán ngầy,
Nói rằng: “Biết thế lên đây làm gì?”
Vội vàng trở gót một khi,
Ngồi ngoài nhà khách bàn chi với bà.
Nó cứ ôm bụng nó la,
Một chốc đứng dậy chạy ra vườn ngoài.
Chỗ ấy có hai vồng khoai,
Hai bên rợp lá nỏ ai chộ gì.
Sinh rồi, nó lại bóp đi,
Thay quần thay áo làm y như thường.
Bà Huấn sợ lấp ngoài nương,
Nhủ con ở kiếm tận tường trước sau.
Con ở tìm kiếm hồi lâu,
Kiếm đi kiếm lại thấy đầu vồng khoai.
Tưởng là để đó thuê ai,
Nỏ hay tối đến nó lấp ở ngoài đồng Mơng.
Sẵn chỗ đồng nước thẳng đường,
Nó lấp xuống đó gần nương tri Hời.
Tối tăm lấp dối, đang lòi,
Sớm mai con nít lại coi từng đoàn.
Coi rồi, đứa nói, đứa van:
“O Mười khi tối đẻ, con quàn lúc ni”.
Phải khi gấp khúc không suy,
Con ông quan Huấn thiếu chi đất nhà.
Nỏ may táng đất cu Đa,
Nó vô nó chửi nó la trơi đời.
Nhỏ to cũng một mạng người,
Đang tay mà hoại tội trời, ai mang?
Giờ lâu kẻ nói người dơng,
Con ông quan Huấn tệ hơn phường phàm phu.
Những loài bò, lợn, gà, tru,
Sinh ra cũng biết ấp yêu nữa mình.
Hoại đi, mang tiếng bạc tình,
Để cho bắn tiếng bắn danh khắp làng;
Khắp cả hàng huyện, phố phường:
“O Mười quan Huấn chửa hoang, huỷ rồi”.
Bình luận nhanh 0
Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.