Bình luận nhanh 0

Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.

Dưới đây là các bài dịch của Đỗ Hà. Tuy nhiên, Thi Viện hiện chưa có thông tin tiểu sử về dịch giả này. Nếu bạn có thông tin, xin cung cấp với chúng tôi tại đây.

 

Trang trong tổng số 4 trang (40 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] [4]

Ảnh đại diện

Cớ sao chẳng hoạ sĩ (Frank O’Hara): Bản dịch của Đỗ Hà

Tôi đây nào phải hoạ sĩ, tôi là nhà thơ.
Vì sao ư?
Tôi thà làm hoạ sĩ hơn, nhưng tôi không thể.
À thì, ví dụ, Mike Goldberg đang khởi bút.

Tôi ghé thăm.
“Ngồi xuống làm ly đã” anh nói.
Tôi uống; cùng nhau uống.
Tôi ngẩng lên.
“Anh tô chữ CÁ HỘP vào đó.”
“Ừ, chỗ đó cần thêm tí gì.”
“Ồ.” Tôi đi, rồi ngày tháng trôi lại ghé vào.
Bức tranh vẫn đang được làm, và tôi lại đi, ngày tháng lại trôi.
Tôi ghé.
Bức tranh đã xong.
“CÁ HỘP đâu mất rồi?”
Chỉ còn lại vài con chữ, Mike nói:
“Nó quá thừa.”

Còn tôi thì sao?
Một hôm tôi nghĩ về một màu: cam.
Tôi viết một dòng về màu cam.
Rất nhanh sau đó thành cả trang chữ, không còn là dòng.
Rồi thêm trang nữa.
Phải nên có nhiều hơn, không phải về cam, mà về chữ,
về việc màu cam kia và đời khốn khổ lắm thay.
Ngày trôi qua.
Nó lại thành văn xuôi, tôi đúng là thi sĩ.
Bài thơ tôi đã xong nhưng chẳng hề nhắc đến màu cam.
Nó là mười hai bài, tôi gọi tên là NHỮNG MÀU CAM.
Và một ngày nơi phòng trưng bày tôi thấy tranh Mike, tên là CÁ HỘP.


Ảnh đại diện

Telemachus (Ocean Vuong): Bản dịch của Đỗ Hà

Như một người con thảo, tôi kéo cha
Lên khỏi nước, tóc cha tuột trên bờ cát trắng
Những đốt tay lằn một vệt dài
Mà sóng vội vã ùa vào xoá dấu.

Vì thành phố nơi xa kia bãi biển
Đã không còn là chỗ chúng tôi từng.
Vì thánh đường bom nay chỉ còn lại
Thánh đường của cây cối câm lặng đứng.

Tôi quỳ xuống bên người, muốn cha thấy
Tôi chìm sâu biết mấy.
“Ba nhận ra con không, Ba?”
Nhưng lời đáp mãi mãi chẳng thành câu.
Lời đáp là viên đạn găm trên lưng
Đang tràn đầy nước biển.

Cha bất động, tôi ngờ cha là cha của bất kỳ ai
Được tìm thấy như chai xanh dạt bãi
Chứa một năm con chưa hề chạm tới.
Tôi chạm vành tai cha.
Vô ích thôi.

Tôi lật cha lại.
Để đối mặt với nó.
Với ngôi thánh đường ẩn trong đôi mắt
Đen như biển.
Khuôn mặt
Không phải của tôi – nhưng khuôn mặt tôi sẽ mang
Để hôn lên môi tất cả người tình:

Cũng như tôi lấy môi mình niêm phong môi cha
Và bắt đầu
Công việc thuỷ chung của người đang chết chìm.


Ảnh đại diện

Nụ hôn Việt (Ocean Vuong): Bản dịch của Đỗ Hà

Bà tôi hôn
Như thể bom đang nổ sau vườn,
Nơi bạc hà cùng nhài hương
Toả qua khung cửa bếp,

Như thể nơi nào đó, một thân thể tan hoang
Và lửa vẫn luồn về, len lỏi mãi
Qua muôn nỗi nhọc nhằn trên đùi cậu trai trẻ,

Như thể vừa bước khỏi ngưỡng cửa nhà, thân bạn
Sẽ phải xoay tròn trong vết thương tử thần.

Khi bà tôi hôn, chẳng hề có
Âm thanh “chụt” hoa mỹ, chẳng chút nhạc phương Tây
Của những bờ môi mím, bà hôn như hít trọn
Bạn vào trong lồng ngực, mũi áp vào má da

Để hương bạn được bà nhận diện lại
Và mồ hôi hoá giọt vàng
Trong phổi bà, như thể khi bà ôm xiết
Tử thần cũng đang níu chặt cổ tay bạn.

Bà tôi hôn như thể lịch sử
Chưa bao giờ ngừng lại, như thể đâu đó
Một thân thể vẫn còn
Đang tan hoang.


Ảnh đại diện

Bài ca của đứa trẻ (Robert Lowell): Bản dịch của Đỗ Hà

Chiếc đèn chơi rẻ tiền
Cho ánh sáng yếu ớt
Suốt đêm dài khắc khoét,
Khi cơ bắp co lên.

Đôi khi tôi chạm tay
Bên kia giường cũi nhỏ,
Mười ngón tay đan vội,
Mà chẳng ai cầm tay

Đưa tôi về chốn cũ -
Không đảo Carribean
Nào, nơi hiểm hoạ hiền
Cả cá mập cũng an.

Hẳn đó là thiên đàng.
Trên đảo xa, cát trắng
Sáng rực như ánh lửa
Từ gỗ bạch dương vàng.

Cứu, cưa đôi tôi ra,
Đặt lên giá mà cất!
Đôi khi kẻ bối rối
Không chịu nổi chính mình!


Ảnh đại diện

Hoa đỗ quyên (Ralph Waldo Emerson): Bản dịch của Đỗ Hà

Tháng Năm, khi gió biển xuyên đồng vắng,
Tôi gặp Đỗ Quyên tươi thắm giữa rừng,
Lá không, hoa nở góc hang ẩm đẫm,
Làm vui sa mạc, suối lững lờ dừng.

Cánh tím rơi rồi, trên vũng nước đen,
Làm làn nước biếc chợt bừng nét duyên;
Chim Hồng Y có thể về đây nép,
Yêu đoá hoa làm cánh nó kém chen.

Hỡi Đỗ Quyên! nếu thánh hiền có hỏi
Sắc lãng phí cho trời đất nơi đây,
Hãy thưa rằng, em yêu, câu trả lời:
“Mắt để nhìn, thì Đẹp chính là Ngay!”

Vì sao em nở, ôi hồng cạnh tranh!
Tôi chưa hỏi, chưa từng biết lý do:
Nhưng trong đơn giản, tôi đinh ninh rằng,
Quyền Năng ta chung một Chốn Đã Cho.


Ảnh đại diện

Định mệnh (Ralph Waldo Emerson): Bản dịch của Đỗ Hà

Khôn ngoan, đẹp đẽ cũng vô thường,
Khoẻ giàu, rộng lượng cũng bằng không.
Phẩm chất trời phú phải nên có,
Tựa như hương sắc cánh hoa hồng.
Tình ca lại đẻ ra ca khúc,
Tan thế gian vào một biển dòng.
Công lao, trí tuệ chẳng thành tựu,
Nghệ thuật đành thua, chẳng thể mong.
Nhạc ấy tự nhiên không phép tắc,
Cả Zeus, Hera cũng chẳng thông.
Thiếu đi “lửa cháy” lòng điên dại,
Vẻ đẹp nào còn ý nghĩa không?
Áo giáp binh đao người lính mặc,
Nếu không chiến thắng, có gì xong?
Của cải tôn vinh người kiêu hãnh,
Vẫn mong quà tặng khác của lòng?
Than ôi! Ai đó sinh ra đã lỗi,
Mãi bị coi khinh, nỗi chất chồng.
Nhìn vào người ấy lòng ta bảo,
“Bạn hỡi, đi đường” chớ ngó trông.
Chẳng ai màng đến việc anh làm,
Chẳng quan tâm anh biết điều gì.
Khi anh đáp lại chẳng hề lắng,
Nơi nằm, cơm tối, chẳng ai ghi.
Lại có một người vừa xuất hiện,
Khiến mặt trời phải lãng quên đi.
Hắn mang bùa phép nơi đầu lưỡi,
Vai rộng, thân cường, mắt khinh miệt.
Trẻ trung, đe doạ, chẳng hề sợ,
Chuyện ấy quan tâm chi:
Kim cương trắng, hồng hay nước trong,
Chỉ cần rực rỡ ánh hào quang.
Chẳng cần y phục dù sang hèn,
Tên tuổi thấp hèn hay dũng cảm,
Cung cách cư xử chẳng hề màng,
Chỉ cần mê hoặc được lòng ta.
Bánh mì nuôi sống, lửa sưởi ấm,
Thiên nhiên vì ta mà nở hoa.
Một điều vĩnh cửu, mãi là tốt,
Điều đó, chính là sự thành công.
Được lòng Nữ thần Báo Thù ghét,
Cả bầy thần thánh cũng mến mong.
Kẻ ở yên nhà, chẳng ngó xa,
Nắm giữ đại bàng, làm chủ kiếm.


Ảnh đại diện

Cây đa (Mary Oliver): Bản dịch của Đỗ Hà

Một tiếng thét rền vang
Từ góc đầm hoang.
Đó là Đa Thụ,
Lão lái buôn muôn thuở.

Kìa cây trăm chân
Lại đang dịch chuyển.

Cò trắng bay ra
Trong nắng chan hoà,
Như dải ruy băng trắng
Ngời lên khắp nơi xa.

Rắn nước trườn xuống bờ
Lặng lờ như móc xanh, rồi trôi đi mất.

Đa Thụ rên xiết.
Góc đông, một “gối” quỵ,

“Ống chân” xám nhô lên, rễ phủ lông
Ẩm ướt, rồi lún sâu vào đất,
Dịch lại, gần thêm chút.

Tiếng nói tựa gió hú sâu trong lá:
“Ta sẽ kể anh nghe
Chuyện về hạt giống này.

Về một hạt bay vào cây, rồi nuốt cây
Từng chút một, bao ngày.

Về một cây bé nhỏ thành cây lớn
Và khát khao dịch chuyển.

Nghe đây, giọng nói bảo.
Đây chính là giấc mơ anh.

Ta chỉ dừng chân đây
Trong thoáng chốc thôi.
Đừng sợ hãi gì.”


Ảnh đại diện

La belle dame sans merci (John Keats): Bản dịch của Đỗ Hà

“Ôi, hỡi chàng khổ não khốn cùng,
Sao lảng vảng một mình, vàng võ?
Cỏ lác khô rồi, bên bờ hồ,
Chẳng chim hót nữa.

Ôi, hỡi chàng khổ não khốn cùng,
Sao tàn tạ, ủ ê, đau đớn?
Kho sóc đã đầy, vụ mùa xong,
Chàng còn vương vấn?

Ta thấy trên trán đoá huệ tây
Sương sốt, đau thương thấm ướt đầy,
Và trên má, đoá hồng vừa đây
Cũng dần héo rữa.”

Ta gặp một nàng trên đồng cỏ,
Xinh tuyệt trần, con tiên kiều diễm:
Tóc dài, chân nhẹ, mắt uyên thâm,
Mắt nàng hoang dại.

Ta đặt nàng lên ngựa ta cưỡi,
Chẳng màng chi nữa suốt ngày dài;
Vì nàng nghiêng tựa, cất lên lời
Hát ca tiên nữ.

Ta kết vòng hoa đội lên đầu,
Vòng tay, đai thắt, hương thơm ngâu;
Nàng nhìn ta như thể yêu nhau,
Khẽ rên nũng nịu.

Nàng kiếm cho ta rễ cây ngon,
Mật ong rừng, sương bánh manna,
Rồi bằng ngôn ngữ lạ, nàng ca:
“Yêu chàng tha thiết!”

Nàng đưa ta tới hang yêu tinh,
Nàng nhìn, nàng khẽ thở thật dài,
Ta nhắm đôi mắt buồn, hoang dại
- Hôn nàng giấc ngủ.

Ta ngủ trên rêu, trong hang đó,
Ta mơ, ôi!
Giấc mộng rủi ro,
Giấc mơ cuối cùng ta từng có
Trên đồi hiu quạnh.

Ta thấy vua chúa, tướng quân kia,
Tất cả đều tái như xác chết;
Họ thét lên:
“Người Đẹp Vô Tình Đã trói buộc chàng!”

Ta thấy môi khô, miệng hé ra,
Cảnh báo kinh hoàng trong bóng tối,
Ta bừng tỉnh giấc, thấy mình đây,
Trên đồi băng giá.

Và đó là lý do ta ở lại,
Lẻ loi và tái nhợt đi lại,
Dù cỏ lác khô rồi bên hồ,
Chẳng chim hót nữa.


Ảnh đại diện

“Tôi rà soát cả cuộc đời con...” (Emily Dickinson): Bản dịch của Đỗ Hà

Tôi rà soát cả cuộc đời con,
Sàng lọc thứ sắp tàn
Với thứ tồn sau khi đầu óc
Đã nằm mơ mộng an.

Tôi cất thứ kia vào chuồng cỏ,
Thứ phù phiếm gió cuốn trôi —
Một sớm đông tôi tìm đến đó,
Than ôi! cỏ quý của tôi

Không còn trên gác, không còn trên xà,
Và từ người nông dân sung túc
Tôi đã thành kẻ hoài nghi mà.

Kẻ trộm gây ra —
Hay chính là gió?
Liệu Thượng Đế có vô can
Là việc tôi phải dò.

Thế nên tôi bắt đầu lục lọi —
Hỡi Trái Tim, mi thế nào?
Mi còn ở trong chuồng cỏ nhỏ
Tình Yêu đã tạo cho mi sao?


Ảnh đại diện

Thiên thần gãy cánh (Dana Gioia): Bản dịch của Đỗ Hà

Tôi là thiên thần gãy cánh đây rồi,
Pho tượng lớn cô đơn trong căn phòng lặng.
Họ thấy tôi dữ dằn nên đành nhốt
Lòng nhiệt thành vào lăng mộ máy lạnh.

Hướng dẫn viên ca ngợi nét tao nhã
Giữa tiếng ồn ào của đám đông qua.
Có lẽ tôi là một tuyệt tác chăng?
Biểu tượng hoàn hảo của sự vô vọng mà.

Mendoza tạc tôi cho nhà thờ xứ.
(Tên ông giờ chìm khuất, chỉ mình tôi còn nhớ.)
Tôi đứng bên bàn thờ mạ vàng rực rỡ,
Nơi kẻ tuyệt vọng dâng Chúa nỗi đau.

Tôi nghe phụ nữ thầm thì dưới chân —
Khấn cho người khuất, kẻ đang hấp hối, đã chết.
Nến soi bóng tôi vươn dài trên vách,
Tôi thành cơn đói họ đã dâng lên.

Cánh trái tôi gãy trong ngày Cách mạng
(Một vị thánh cũng hay vẻ trớ trêu)
Khi quân lính kéo vào nhà nguyện phá,
Họ đánh tôi một lần — như thể đang xin lỗi.

Bởi người vô thần cũng cảm điều gì đó,
Hy vọng, sợ hãi? Ai biết đó là chi?
Sự run rẩy không luật nào giải thích,
Ký ức xa xưa không thể bỏ đi.

Ôi, bao nhiêu điều tôi cần thưa Chúa!
Tiếng gào đày đoạ đâu thể tới trời cao.
Tôi đứng đây như vật chết đinh đóng,
Thánh tàn phế trước tranh vẽ bầu trời.


Trang trong tổng số 4 trang (40 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] [4]