Trang trong tổng số 3 trang (24 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Hồi 03: Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga (Nguyễn Đình Chiểu): Bổ sung bài thơ sau câu 222

theo http://nguyentuyet.violet...try/show/entry_id/4403092 thì:
Các bản Nôm khắc in ở Hà Nội và bản Trương Vĩnh Ký đều không có bài thơ thất ngôn bát cú bằng chữ Hán sau câu 222.
Bản Bảo Hoa các Quảng Thạnh Nam phát thụ đã chép rằng:
遂 車 千 里 急 奔 行
撞 遇 风 來 奪 路 呈
淑 女 臨 危 無 脱 免
君 子 幸 逢 展 平 生
兩 字 恩 情 難 分 解
半 途 苦 料 量 何 成
請 來 回 慣 由 嚴 母
照 有 文 書 显 聲 名
Phiên âm:
Toại xa thiên lý cấp bôn hành,
Tràng ngộ Phong Lai đoạt lộ trình.
Thục nữ lâm nguy vô thoát miễn,
Quân tử hạnh phùng triển bình sinh.
Lưỡng tự ân tình nan phân giải,
Bán đồ khổ liệu lượng hà thành.
Thỉnh lai hồi quán do nghiêm mẫu,
Chiếu hữu văn thư hiển thanh danh.
Chúng tôi xin tạm dịch là:
Một chiếc xe đi gấp dặm ngàn,
Phong Lai đâu gặp cướp trên đàng.
Lâm nguy thục nữ không ngờ thoát,
Hạnh ngộ anh hùng cứu đặng an.
Hai chữ ân tình khôn giãi tỏ,
Nửa đường tâm sự tính sao đang.
Xin mời về phủ trình cha mẹ,
Hẳn có thư truyền tiếng vẻ vang.
(N.Q.T. dịch)
Bài thơ chữ Hán ấy vừa thất niêm, vừa thất luật nên chắc chắn không phải do Nguyễn Đình Chiểu đã làm ra mà có thể do Duy Minh Thị khi hiệu đính đã thêm vào.
Về sau đến năm 1874, thấy bài thơ bị thất niêm thất luật như vậy, Duy Minh Thị đã sửa lại là:
駢 車 千 里 一 身 輕
撞 遇 风 來 半 路 程
已 料 危 難 無 自 脱
幸 逢 賑 救 得 餘 生
恩 情 兩 字 心 何 解
報 答 千 般 意 未 平
欲 請 恩 人 歸 故 里
回 詳 父 母 得 詳 明
Phiên âm:
Biền xa thiên lý nhất thân khinh,
Tràng ngộ Phong Lai bán lộ trình.
Dĩ liệu nguy nan vô tự thoát,
Hạnh phùng chẩn cứu đắc dư sinh.
Ân tình lưỡng tự tâm hà giải,
Báo đáp thiên ban ý vị bình.
Dục thỉnh ân nhân qui cố lý,
Hồi tường phụ mẫu đắc tường minh.
Chúng tôi tạm dịch là:
Một xe song mã nhẹ băng ngàn,
Bỗng gặp Phong Lai ở giữa đàng.
Đã tưởng nguy nan không cách thoát,
Nào ngờ giải cứu được thân toàn.
Ân tình hai chữ lòng sao gỡ,
Báo đáp nghìn phương ý chửa đang.
Muốn thỉnh ân nhân về cố lý,
Thưa cùng cha mẹ được am tường.
(N.Q.T. dịch)

Ảnh đại diện

Thôn cư thư hỉ (Lục Du): nhờ sửa "thon" thành "thôn"

à,mong ban quản trị sửa chữ "thon" thành chữ "thôn" giúp mình.mình đánh máy nhầm.mình dịch "Thôn cư thư hỉ" là "Thư vui ở thôn" mà
Cảm ơn bạn Mãn Giang Hồng đã góp ý. Vì mình tra từ theo công cụ thì biết "thư" có 2 nghĩa phù hợp với nội dung bài là "sách" và "thơ".Theo mình hiểu thì nội dung bài thơ này là nói về thú vui ở thôn quê. Vì vậy,có lẽ "Thôn cư thư hỉ" được hiểu là "Thư báo tin vui ở thôn" thì hợp lý hơn. Nhưng mình vẫn mọng nhận được ý kiến đóng góp về bản dịch cũng như nhan đề bài thơ.
Cũng theo bạn Mãn Giang Hồng thì "3 chữ "khấu sài kinh" cuối bài, "khấu" không phải chỉ khấu đầu, mà là gõ cửa. Sài kinh là chỉ cách cửa nhà vùng quê. "Kinh niên vô lại khấu sài kinh" ý nói là nhiều năm không có quan đến gõ cửa, kết hợp với câu trên (Tối hỉ tiên kì quan phú túc), có thể hiểu là nhiều năm không có quan lại đến gõ cửa đốc thúc thu thuế, vì ở đó thời kì trước "quan phú túc" (thuế nhà quan đầy đủ)".bạn cũng tìm ra trang http://huyhoang.thuhoavn....09/thon-cu-thu-hi-luc-du/ có giải thích 2 câu cuối, mình cũng chép vào đây :
"“Khấu” là gõ (khấu đầu: dập đầu xuống đất), “sài kinh” là chỉ cánh cửa ở nhà quê, dùng củi dùng gai mà làm thành, rất sơ sài. “Khấu sài kinh” đơn giản là “gõ cửa”.
“Kinh niên vô lại khấu sài kinh” hiểu theo mặt chữ là “nhiều năm nay không thấy có quan lại đến gõ cửa”. “Lại” là chức quan nhỏ, quan nhỏ mới đến gõ cửa nhà dân, chứ quan to thì không đến từng nhà dưới quê mà gõ cửa được. Nhưng gõ cửa để làm gì? Gõ cửa để thu thuế! Thơ Lục Du có nhiều bài ca ngợi cuộc sống đầy đủ, quan lại (đúng ra là “nhân viên thuế quan”) ít phải đến gõ cửa từng nhà để giục nộp thuế, vì thuế khóa luôn đầy đủ."
Kết hợp với câu trên (Tối hỉ tiên kì quan phú túc), thì thấy “quan phú” (thuế đóng cho nhà quan) ngày trước rất đầy đủ, cho nên mới “Kinh niên vô lại khấu sài kinh” (Mấy năm không thấy quan đến gõ cửa giục nộp thuế).
còn bản dịch của bạn U Cốc Khách :
Mai Thị cầu vồng ngang núi sớm,
Phàn Giang tháp trắng hiện sông xuân.
Bén hương mới biết trời ấm,
Nghe thước nên vui cảnh tân.
Cày bẫm ruộng sâu dầu bạc tóc,
Say nhè rượu lạt mặc thanh bần.
Mừng thay trước nộp thuế đủ,
Nha lại suốt năm chẳng đến gần.
Mình xin sửa và thêm vài chữ :
Mai Thị cầu hồng ngang núi sớm,
Phàn Giang tháp trắng hiện sông xuân.
Bén hương hoa mới biết trời ấm,
Nghe thước xuyên cây, vui cảnh tân.
Cày bẫm ruộng sâu dầu bạc tóc,
Say nhè rượu rẻ mặc thanh bần.
Mừng thay trước nộp thuế đủ,
Nha lại suốt năm chẳng đến gần.
@U Cốc Khách : theo mình hiểu về luật thơ Đường thì câu 3 và 4, 5 và 6 đối nhau.ngoài ra,quy tắc trong thơ Đường là
Nhất,tam, ngũ bất luận
Nhị, tứ, lục phân minh
Nghĩa là chữ thứ 4 trong câu là thanh trắc thì chữ thứ 2 và 6 phải là thanh bằng và ngược lại. theo đó,mình đọc lại bản dịch thì thấy chỉ có câu thứ 3 là chưa đúng luật thôi,phải 0 ? câu 3 bài thơ là "Hoa khí tập nhân tri sậu noãn", dịch nghĩa là "Mùi thơm của hoa ngát xung quanh người bỗng nhiên biết là trời ấm áp". dịch nghĩa như vậy thì khó dịch thơ đúng luật lắm,bạn à

Ảnh đại diện

Thôn cư thư hỉ (Lục Du): thanh86

Mai Thị cầu hồng ngang núi sớm,
Phàn Giang tháp trắng hiện sông xuân.
Bén hương hoa mới biết trời ấm,
Nghe thước xuyên cây, vui cảnh tân.
Cày bẫm ruộng sâu dầu bạc tóc,
Say nhè rượu rẻ mặc thanh bần.
Mừng thay trước nộp thuế đủ,
Nha lại suốt năm chẳng đến gần.


bài thơ này ở http://huyhoang.thuhoavn....09/thon-cu-thu-hi-luc-du/ . mình dùng công cụ "Hán Việt từ điển trích dẫn" để phiên âm và dịch nghĩa bài thơ này
Ảnh đại diện

Thanh trủng hoài cổ (Tào Tuyết Cần): Bản dịch của thanh86

Hắc thuỷ mênh mông nước nghẽn dòng,
Gảy dây đàn lạnh vẫn đau lòng.
Hán gia chế độ nên than thở,
Sư lịch vạn năm đáng thẹn thùng.

Ảnh đại diện

Bồ Đông tự hoài cổ (Tào Tuyết Cần): dịch nghĩa :

Tiểu Hồng là thân thấp hèn ti tiện;
Giúp riêng dắt trộm gượng mà rút nên.
Tuy bị phu nhân thường treo (cổ) lên;
Nhưng cũng đã dẫn dắt đằng ấy cùng đi rồi.
theo ngauhung.org thì đây là câu đố về cái đèn lồng
nguồn : http://vn.360plus.yahoo.c...article?mid=10&fid=-1

Ảnh đại diện

Lạc hoa (Chu Thục Chân): Bản dịch của Nguyên Phổ

Liền cành hoa nở phân phân
Nhưng mưa gió ghét chơi khăm hoa tàn
Mong thần xuân mãi ngôi sang
Để cho hoa khỏi rụng tràn rêu xanh


Bản dịch trong sách "Mạn đàm về Hồng Lâu Mộng".
Ảnh đại diện

Tức cảnh liên cú ngũ ngôn bài luật nhất thủ, hạn “nhị tiêu” vận (Tào Tuyết Cần): vì sao lại có 2 câu "Hà thành ẩn xích tiêu" liền nhau vậy ?

cho mình hỏi, vì sao lại có 2 câu "Hà thành ẩn xích tiêu" liền nhau vậy ?  sau câu "霞城隐赤标" (Hà thành ẩn xích tiêu) là câu "霞城隐赤标" thì phải phiên âm là "Thấm mai hương khả tước" (Thấm mùi thơm hoa mai) chứ ? (mình chép nguyên phần phiên âm ở công cụ "Hán Việt từ điển trích dẫn")

Ảnh đại diện

Tức cảnh liên cú ngũ ngôn bài luật nhất thủ, hạn “nhị tiêu” vận (Tào Tuyết Cần): Bản dịch của nhóm Vũ Bội Hoàng

Một đêm gió bấc ào ào,
Cửa ngoài còn thấy tuyết dào dạt bay.
Thương thay thân trắng bùn dây,
Tiếc thay ngọc lại rắc đầy khắp nơi.
Muốn cho cỏ héo lại tươi,
Còn như mầm lụa tưới hoài công thôi.
Rượu quê giá đã lên rồi,
Được mùa kho thóc khá dồi dào thay.
Gió lay ống sậy, gió bay,
Giời kia ló mặt, sao này quay chuôi.
Hàn sơn xanh đã kém mùi,
Nước chiều gặp lạnh đọng rồi không dâng.
Trên cành liễu, bám lưng chừng,
Chuối kia lá rách, đong chăng được nào.
Đỉnh vàng mùi xạ ngạt ngào,
Vạt tay áo lụa ủ vào kim điêu.
Trước song sáng lấn gương treo,
Mùi thơm quyện lẫn hạt tiêu trên tường.
Vẫn còn ngọn gió tạt ngang,
Ai người tỉnh giấc mơ màng là ai
Nơi nào tiếng sáo hoa mai?
Nhà nào đương thổi mấy bài ngọc tiêu?
Cua buồn trục đất sắp xiêu,
Đuổi nhau rồng đánh tan vèo đám mây.
Chiếc thuyền bến nội về đây,
Bá kiều roi trỏ chốn này tặng thơ.
Áo cừu cho tướng nơi xa
Áo bông này thiếp gửi đưa tới chàng.
Tổ xây kiến khéo lo lường,
Cành kìa lá nọ xem nhường lung lay.
Sáng trong nhẹ bước đường mây,
Uốn lưng thoăn thoắt múa may giữa trời.
Đòi khi trà đắng thưởng chơi,
Rắc đầy hoa muối nhớ lời ca xưa.
Câu buông, tơi khoác trên bờ,
Tiếng tiêu văng vẳng vọng qua rừng nào.
Voi quỳ nghìn ngọn núi cao,
Một đường rắn lượn ngoằn ngoèo đằng xa.
Hoa này lạnh mới chồi hoa,
Màu này nào sợ sương sa kém màu.
Trong nhà sẻ lạnh xôn xao,
Cú già trên núi nghẹn ngào buồn tênh.
Trên thềm lên xuống lượn quanh,
Nước ao mặc sức bập bềnh khắp nơi.
Trong veo khi mới sáng trời,
Đến đêm khuya lại tơi bời bay cao.
Lòng thành biết lạnh đâu nào.
Điềm lành xua nóng tan vào từng mây.
Nằm khèo ai hỏi ta đây,
Chơi ngông có bạn rủ ngay đi cùng.
Dây lưng trắng đứt trên không,
Lụa giao chợ bể chớ mong sánh cùng.
Vẻ buồn che kín lầu hồng,
Giỏ bầu nghèo xác nhớ ông Nhan Hồi.
Trà pha nước mới gần sôi,
Lá tươi nấu rượu lá đời nào khô?
Chổi đâu sư muốn quét chùa,
Đàn vui đâu để trẻ khua gậy tìm.
Hạc trên lầu đã ngủ yên,
Quen người, mèo cũng ủ rền nệm nhung.
Trong trăng sóng bạc trập trùng
Thành mây thấp thoáng vầng hồng trên cao.
Hương mai hãy nhấm xem nào,
Rượu pha nước trúc nhấp vào càng say.
Uyên ương lưng ướt đầm dây,
Kìa chim phỉ thuý dính đầy cả đuôi.
Tiếng đâu như gió thổi ngoài,
Tiếng đâu sầm sập như trời đổ mưa.
Sớm nay hỏi đã vui chưa?
Mượn thơ để chúc Đường Ngu thanh bình.

Ảnh đại diện

Tỳ bà hành (Bạch Cư Dị): Bản dịch của Phan Văn Ái

Đưa khách bến Tầm Dương khuya khoắt,
Phong địch nghe hiu hắt hơi may
Người thuyền, khách ngựa buồn thay
Muốn vui tiệc rượu ai hay sáo đàn.
Buồn này lạ buồn cơn tương biệt
Nước mênh mông bóng nguyệt ngâm dòng.
Vụt nghe đàn gảy bên sông,
Người dùng dằng ngựa, khách thong thả thuyền.
Ai lựa đàn cậy bên sẽ hỏi,
Dừng tiếng tỳ toan nói lại thôi.
Dời thuyền lại để cùng mời
Xây (xoay,vặn) đèn thêm rượu cuộc vui lại bày.
Mời mọc cũng lâu thay mới lại
Mặt nép đàn nửa hãy còn e.
Lên dây dăm tiếng tỉ tê,
Tuy chưa vào nhịp mà nghe đã tình.
Mấy dây lựa tiếng chênh tiếng lệch,
Nỗi bất bình như khóc như than.
Mày chau,tay nắn liền liền,
Lựa dây mà giãi mối phiền xiết bao.
Buông bắt khéo dặt dìu lần đổi,
Trước Nghê thường, sau nối Lục yêu.
Dây to sầm sập mưa rào,
Tiếng dây nhỏ ngỡ thì thào với ai.
Tiếng to nhỏ xen cài, rải rác
Mâm ngọc như ai rắc hạt châu.
Trong hoa, oanh ríu rít nhau,
Suối đâu nước chảy rì rào dưới khe.
Nước lạnh ngắt dây kia im ắng,
Lặng hơi hơi nghe vắng phím loan.
Ngẩn ngơ ôm giận mang buồn
Không đàn phút ấy còn hơn có đàn.
Bình bạc vỡ, nước tràn lênh láng,
Ngựa lồng, gươm sang sảng kêu mau.
Khúc dồn vẻ nét càng yêu,
Giòn như lụa xé tiếng đều bốn dây.
Thuyền đông tây tiếng người vắng lặng,
Một trăng thu giải trắng lòng sông.
Gại dây buông trục vừa xong,
Áo xiêm khép nép đứng mong giãi lời:
“Thiếp xưa vốn là người Kẻ chợ,
Nhà quanh quanh gần ở Hà Mô.
Mười ba học khúc đàn Hồ,
Giáo phường nổi tiếng không thua một người.
Ngón Thiện Tài chịu thua mấy bực,
Ả Thu Nương tấm tắc đòi khi.
Ngũ Lăng chàng trẻ tranh thi,
Lụa hồng vô số đỗ chi vì đàn.
Tay nhịp lựa bạc tan vành lược,
Giọt rượu rơi đỏ nhợt xiêm màu.
Hết năm này đến năm sau,
Trăng hoa hoan tiếu, xuân thu kể gì.
Em trẩy lính, a di đâu tá,
Sớm rồi hôm sắc đã kém xưa.
Cửa tàng (có nghĩa là xơ xác) dấu ngựa thưa thưa,
Cùng khách thương mới xe tơ qua thì.
Người ham lợi nghĩ chi cư tụ,
Đi buôn chè dịp nọ năm xưa.
Thuyền không đậu bến ngẩn ngơ,
Quanh thuyền trăng nước hơi đưa lạnh lùng.
Canh khuya chợt mơ màng lúc trẻ,
Mặt phấn son thấm lệ chứa chan.”
Nghe đàn luống đã thở than,
Lại nghe tiếng nói phàn nàn càng thương.
Tịt mù trời cùng phường luân lạc,
Gặp gỡ nhau, quen trước mà chi.
Kinh thành năm ngoái ra đi,
Tầm Dương đã luống ê chề ở đây.
Lặng lẽ thay Tầm Dương đất vắng,
Quanh năm không ai đặng trúc ti.
Sông Bồn bến thấp ở kề,
Lau vàng trúc đắng bên hè mọc quanh.
Nghe buồn tênh tiếng chi hôm sớm,
Quyên khóc rồi thì vượn lại kêu.
Đòi khi hoa nở trăng treo,
Thường thường mượn một chén kèo làm khuây.
Nghe cũng đầy ca rừng sáo núi,
Tiếng líu lô ý ới rờm tai.
Đêm nay nghe tiếng đàn ai,
Ngỡ đàn tiên tử lọt tai lạ lùng.
Gượng ngồi lại thêm cung đàn nữa,
Tớ vì người xin sửa lời ca.
Nể lời lâu đứng lân la,
Vặn dây ngồi gảy nghe đà quá cao.
Tiếng man mác nghe chiều khác trước,
Ai nấy ngồi sa nước mắt thương.
Ấy ai châu lệ chứa chan,
Áo xanh thấm ướt là chàng Giang Châu.

Ảnh đại diện

Tỳ bà hành (Bạch Cư Dị): Bản dịch của Phan Văn Ái

Sông Tầm tiễn khách đêm khuya khoắt,
Lá cây hoa cỏ hơi hiu hắt.
Người ngựa, khách thuyền luống ngậm ngùi,
Muốn rượu, mà không tiếng đàn vui.
Khi buồn này lạ buồn khi vắng,
Người vắng, trăng quanh sông phẳng lặng.
Trên sông đâu bỗng dạo cây tỳ,
Chủ khách dùng dằng tai trổ lắng.
Lựa đây cậy hỏi ấy là ai,
Dừng tiếng kia toan nói lại thôi.
Chèo thuyền giáp mạn chào bơ bải,
Thêm rượu, mang đèn quét dọn lại.
Khuyên mời chi chút mới lần sang,
Mặt nép đàn tỳ, mặt e ngại.
Lên dây dăm tiếng mới lanh canh,
Khúc điệu chưa thành, ắt có tình.
Nắn nót dây dây tiếng dặt dìu,
Dường giãi tấm lòng xưa tức tối.
Mày sa tay nắn ngón liền liền,
Mượn dây than thở hết mọi nỗi.
Bắt sẽ buông khoan khéo dặt dìu,
Thôi khúc Nghê thường lại Lục yêu.
Dây to sầm sạp như mưa xối,
Dây nhỏ li ti như sẽ nói.
To to nhỏ nhỏ lẫn xen nhau,
Mâm ngọc như ai rắc hạt châu.
Ríu rít như chim kêu bụi rậm,
Liu tiu như nước rót khe sâu.
Nước khàn suối lạnh dây ngừng lặng,
Ngừng lặng hơi hơi nghe im ắng.
Hay có thương thầm nghĩ vụng sao,
Tiếng vừa ắng lặng lại bùng cao.
Như bình kia phá toang tràn nước,
Như ngựa lồng, gươm sang sảng đao.
Vẻ nét cung dồn càng gọn ghẽ,
Bốn dây một tiếng giòn tơ xé.
Đôi bên thuyền mảng lặng như tờ
Lòng sông trắng xoá vầng trăng xế.
Tần ngần buông trục gại xong dây,
Khép áo cài xiêm đứng chắp tay.
Rằng: “Xưa thiếp vốn người kinh quốc,
Nhà ở Hà Mô thềm chót bậc.
Mười ba tuổi học khúc đàn Hồ,
Nổi tiếng giáo phường hơn rất mực.
Ngón Thiện Tài hay cũng phải nhường,
Mẽ Thu Nương tốt còn hơi tức.
Ngũ Lăng chàng trẻ khắp vui chơi,
Giải lụa hồng trao biết mấy bức.
Gõ chầu lược bạc tạm rời tan,
Giọt rượu xiêm hồng ố đỏ rực.
Lần lữa vui kia chẳng kể năm,
Xuân thu trăng gió cũng liều mặc.
Thương ôi em lính chị thời đâu,
Khuya sớm riêng buồn kém nhan sắc.
Cửa ngõ lau vắng, yên ngựa thưa,
Thôi bà lái Nọ duyên già cấc.
Nào nghĩ ham lợi khách quen đi
Chở chè tháng trước buôn xa tắp.
Một mình quanh bến giữ thuyền không,
Thuyền chở quanh trăng sóng lạnh lùng.
Đêm vắng nhớ mơ trò trẻ cũ,
Châu rơi lã chã phấn trôi hồng”.
Nghe đàn như gợi cơn rầu rĩ,
Lại thương vì những lời than thở.
Cùng phường phiêu bạt tít mù trời,
Một gặp cũng là quen biết nhỉ.
Kinh thành năm trước tớ ra đi,
Về ở Tầm Dương đã mỏi mê.
Đất vắng nào ai rung tiếng nhạc,
Quanh năm đàn sáo vẫn không nghe.
Đậu bến sông Bồn đất ẩm thấp,
Quanh năm lau ố trúc vàng hoe.
Từng khi ý ới kêu chi đó,
Vượn hót đêm đông quyên gọi hè.
Lại hoa xuân nở trăng thu mọc,
Mượn chén làm khuây dốc chồng be.
Sáo núi ca rừng khi cũng có,
Chói xương chói óc tiếng ve ve.
Đêm nay chợt nghe cung tì dạo,
Chợt ngỡ đàn tiên khéo tỉ tê.
Xin gượng ngồi đàn thêm lúc nữa,
Vì người xin tặng mấy câu vè.
Nể lời nấn ná kia lâu đứng,
Ngồi gượng xây dây, dây quá sượng.
Nỉ non so trước lại thêm buồn,
Nghe đó ai cầm nước mắt đặng.
Trào tuôn mạch lệ ấy ai hơn,
Tràng áo Giang Châu ngất cả bảng…

Trang trong tổng số 3 trang (24 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] ›Trang sau »Trang cuối




Tìm bài trả lời thơ:

Kết quả tìm được thoả mãn đồng thời tất cả các tiêu chí bạn chọn.
Bạn có thể tìm bằng Google với giao diện đơn giản hơn.

Tiêu đề bài trả lời:

Nội dung:

Thể loại:

Người gửi:

Tiêu đề bài thơ:

Tác giả bài thơ: